Xa hoi Viet Nam tu the ky XVII

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 18h:19' 20-08-2025
Dung lượng: 899.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 18h:19' 20-08-2025
Dung lượng: 899.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVII
Nguyễn Trọng Phấn dịch
NXB Tổng hợp TPHCM
+++++++++++++
TVE-4U.org
ebook©vctvegroup
Số hóa: Bọ Cạp
https://thuviensach.vn
Nguyễn Trọng Phấn
(1910-1996)
Quê: xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội.
Trước năm 1945: Viên chức Sở Trước bạ và Trường Viễn Đông Bác Cổ;
hội viên Hội Trí Tri và Hội Khai Trí Tiến Đức.
Từ 1945 - 1954: Chánh Văn phòng Đông phương Bác cổ học viện;
Chánh Văn phòng Nha Đại học và Tổng Thư ký Ban Sử học - Bộ Giáo dục.
Từ 1954: Giáo viên trường Trung cấp Sư phạm Trung ương; tiếp quản
trường Viễn Đông Bác Cổ; sau đó công tác tại Thư viện Khoa học Trung
ương - nay là Viện Thông tin KHXH Việt Nam, cho đến khi nghỉ hưu.
Đôi lời về một người ẩn danh (Thay lời tựa sách)
Tôi tốt nghiệp trung học phổ thông rồi theo học Khoa Lịch sử trường Đại
học Tổng hợp đúng thời điểm chiến tranh phá hoại lan ra miền Bắc (1964 1965). Tốt nghiệp về nhận việc ở Viện Sử học Việt Nam (1969) thì chỉ ít
lâu sau lại đi sơ tán cũng vì cuộc chiến tranh phá hoại trở nên ác liệt hơn
với những trận rải bom của B52 vào lòng Thủ đô Hà Nội...
https://thuviensach.vn
Nhắc lại điều đó để tôi giải thích vì sao khi thực sự bước vào cuộc đời
nghề nghiệp, mà tôi lại chưa đến khai thác tài liệu tại một trong những thư
viện quý nhất khi đó là Viện Thông tin Khoa học xã hội, nơi được thừa kế
kho sách vô giá của Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp tại Hà Nội.
Đương nhiên những năm sau này tôi vẫn thường xuyên đến đọc tài liệu tại
đây, nhưng thời điểm ấy, tôi không còn được gặp một người là tác giả của
cuốn sách mà các bạn cầm trên tay: cụ Nguyễn Trọng Phấn.
Tôi chỉ gặp cụ Phấn khi cụ đã nghỉ hưu. Một ông già khi đó đã ngoài bảy
mươi, tóc râu đã bạc, lưng lại còng nhưng lúc nào cũng cắp trên tay những
cuốn sách dày mà sau này khi không còn đủ sức cụ cho vào một cái bị xách
bên mình. Tôi không hiểu những cuốn sách ấy cụ đang sử dụng dở dang
hay mang theo chỉ là một thói quen không bỏ được. Dáng vẻ hiền từ nhưng
ít nói. Tôi chỉ được mọi người giới thiệu đó là một cán bộ cũ của thư viện.
Sau này, khi tôi hoạt động nhiều trong công việc của Hội Sử học, tổ chức
những sinh hoạt như phổ biến kiến thức, hội thảo kỷ niệm các sự kiện hay
nhân vật lịch sử, luôn thấy vị khách lão thành ấy có mặt. Khiêm nhường
ngồi ở những hàng ghế sau ít ai để ý. Nhưng với các bậc lão thành, nhất là
trong giới nghiên cứu thì mọi người đều tỏ sự kính trọng khi gặp cụ. Dần
dà tôi biết nhiều hơn về con người này. Hỏi chuyện cụ, nhất là liên quan
đến sách vở cái gì cụ cũng am tường ẩn sau cách nói rất khiêm nhường.
Hơn thế thi thoảng cụ còn đến nhà tôi, khi đó sống trong khu phố cổ.
Không gặp tôi thì trò chuyện với mẹ tôi, cũng thuộc hạng người cũ của Hà
Nội nhưng ít hơn cụ hơn chục tuổi. Câu chuyện giữa họ là gì tôi không rõ,
nhưng mẹ tôi luôn tỏ sự tôn trọng và chỉ nói với tôi rằng ngày xưa cụ ấy
thuộc hạng người “danh giá”.
Một lần tôi có dịp sang Pháp, cụ Phấn đến nhờ tôi gửi một lá thư cho bà
Tiến sĩ Thu Trang - Công Thị Nghĩa, một nhà sử học Việt kiều chuyên viết
về những nhân vật lịch sử thời cận đại trong đó có Phan Châu Trinh và Hồ
Chí Minh và có sách in ở Việt Nam. Lá thư mà thực ra là một tài liệu viết
về tổ chức “Hội Tam điểm” ở Việt Nam mà cụ từng là một người tham dự
https://thuviensach.vn
khá sâu sắc. Cụ viết để cung cấp thêm những hiểu biết về tổ chức này mà
Tiến sĩ Thu Trang mới chỉ tiếp cận qua các nguồn tư liệu. Cụ bổ sung nhiều
điều và cải chính đôi điều. Tôi biết nội dung bức thư vì chính cụ dặn đây là
thư ngỏ nên cứ đọc trước rồi sẽ chuyển sau. Hẳn cụ giữ ý để tôi yên tâm
mang giúp thư ra nước ngoài. Nhưng với tôi lá thư khá dài ấy là một nội
dung rất bổ ích về một tổ chức hoạt động rất bí mật nhưng lại có không ít
tác động vào lịch sử Việt Nam thời cận đại (Pháp thuộc). Chính cụ đã mách
bảo tôi rằng trong thư viện và lưu trữ có những tài liệu cho biết Cụ Hồ khi
còn trẻ đã từng đến với tổ chức này cả ở Việt Nam và ở Pháp... Sau này có
người phát hiện ra tài liệu chứng minh đúng như vậy...
Sau khi tôi chuyển bức thư sang Pháp, bà Tiến sĩ Thu Trang đánh giá rất
cao những thông tin cụ Phấn cung cấp và có nhờ tôi chuyển lời cảm ơn và
hy vọng có dịp gặp cụ ở Việt Nam. Tôi cũng có ý định khai thác thêm
những hiểu biết về cụ, nhưng công việc cứ bẵng đi theo thời gian... cho đến
ngày nghe tin cụ mất.
Thú thật, cho đến lúc này, khi bản thảo của cuốn sách mà các bạn đang
cầm trên tay được các đồng nghiệp biên soạn gửi tới tôi đọc trước, tôi được
biết kỹ hơn những thông tin về nhân thân và các hoạt động nghề nghiệp của
cụ Nguyễn Trọng Phấn, tôi mới hiểu hơn cái nhận xét mà mẹ tôi từng nói
về cụ, một người danh giá.
Cuốn sách này rất mỏng, lại chỉ là những mẩu tư liệu sưu tầm từ những
sách báo của người phương Tây viết về buổi tiếp xúc đầu tiên với đất nước
và con người Việt Nam vào thế kỷ XVII. Đó mới chỉ là những bài báo rút
ra từ tờ “Thanh Nghị”, sự tập hợp trách nhiệm của những trí thức có tinh
thần dân tộc vào thời điểm đang đón chờ cơ hội giành độc lập cho đất nước
khi chiến tranh Thế giới lần thứ II tạo ra... Đúng như phụ đề “thu nhặt tài
liệu để giúp vào sự giải quyết những vấn đề quan hệ đến cuộc sinh hoạt của
dân tộc Việt Nam”, cụ Nguyễn Trọng Phấn và các bạn trí thức “đồng chí”
của mình đã làm mọi việc để đặt nền tảng cho một tư duy mới, điều mà
https://thuviensach.vn
ngày nay ta hay dùng, là chuẩn bị tâm thế cho công cuộc hội nhập với thế
giới một khi nước nhà giành được độc lập.
Năm Việt Nam giành được độc lập, cụ Nguyễn Trọng Phấn mới 36 tuổi.
Cụ Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, giữa lúc còn phải “vật lộn” với nạn
đói, nạn dốt và ngoại xâm vẫn trân trọng kế thừa cái di sản khoa học của
chế độ cũ mà ấn định nhiệm vụ mới của Đông phương Bác cổ Học viện
trên cơ sở kế thừa toàn bộ những thành quả nghiên cứu và con người của
Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp lập ở Đông Dương. Và cụ Nguyễn
Trọng Phấn được đảm nhiệm vai trò Chánh văn phòng và Thư ký của Hội
đồng cố vấn Học viện, nơi tập hợp những tên tuổi danh giá như Nguyễn
Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đỗ
Cung, Đặng Thai Mai, Nguyễn Thiệu Lâu, Đào Duy Anh, Nam Sơn... và cả
Ngô Đình Nhu và Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy (tức Cựu hoàng Bảo Đại)...
Đọc cuốn sách này hẳn các bạn đọc quan tâm nhiều hơn đến những
thông tin về một vấn đề lịch sử được nêu thành tên sách Xã hội Việt Nam từ
thế kỷ XVII, nhưng riêng với tôi lại quan tâm nhiều hơn đến thế hệ những
người ẩn danh như cụ Nguyễn Trọng Phấn, những người không hiếm sống
quanh ta. Hoàn cảnh khiến cụ Nguyễn Trọng Phấn không thành danh như
các nhà khoa học lớn, nhưng thế hệ của cụ là thế hệ “làm sống lại những
đoạn “Nam sử” mà hiện nay nhiều người sao nhãng” từ cách đây hơn bảy
thập kỷ. Những người không thành danh ngoài xã hội nhưng từng danh giá
trong tâm khảm những người cùng thời.
Lục tìm trong những tư liệu ngổn ngang của mình, tôi kiếm được một
tấm ảnh chụp chung với cụ cũng thấy Trần Quốc Vượng và bạn Lê Cường
(cháu nội cụ Lê Hoan), bức ảnh chụp cách nay đã một phần tư thế kỷ nhân
một cuộc hội thảo về danh nhân Chu Văn An để in vào cuốn sách này như
một kỷ niệm về cụ Nguyễn Trọng Phấn (xin xem trang 188).
Cuối Thu 2015
Dương Trung Quốc
https://thuviensach.vn
LỜI THƯA!
Bạn đọc đang cầm trên tay cuốn sách Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII.
Đây là tập hợp các bản dịch của nhà báo, nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng
Phấn (1910 - 1996) trên Tạp chí Thanh Nghị từ năm 1941 đến năm 1945.
Nội dung các bài viết mô tả xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII qua sự quan
sát, ghi chép của những người phương Tây đến Việt Nam thuở đó.
Về nội dung cuốn sách, chúng tôi xin dành sự đánh giá cho bạn đọc.
Dưới đây, chúng tôi muốn giới thiệu đôi dòng về tác giả của những bản
dịch được đăng trên Tạp chí Thanh Nghị. Chốc đã bảy chục năm trời, tác
phẩm tưởng như đã mất nhưng chúng tôi may mắn tìm được khá đầy đủ
nhờ công cuộc số hóa Tạp chí Thanh Nghị của Viện Viễn Đông Bác Cổ
(Cộng hòa Pháp) tại Việt Nam. Một điều trùng hợp là, cụ Nguyễn Trọng
Phấn, có lẽ, là thành viên người Việt Nam cuối cùng của cơ sở khoa học
này. Thọ gần 90 tuổi, gần trọn cuộc đời sống và làm việc trong thế kỷ XX,
cụ Nguyễn Trọng Phấn làm một công việc thầm lặng là dịch thuật, giảng
dạy địa lý một thời gian ngắn ở Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc) rồi
gắn bó với công tác thư viện tại ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho đến ngày nghỉ hưu nên ít
người biết đến. Thậm chí, có những cuốn sách do cụ viết ra và biên soạn
nhưng do hoàn cảnh lịch sử nên không đứng tên riêng. Duy nhất, cụ
Nguyễn Trọng Phấn - với bút danh Thiện chân, đã tuyển dịch những tư liệu
của người phương Tây viết về: Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII.
Chúng tôi, thế hệ hậu sinh chỉ làm một công việc khiêm tốn là sưu tầm
và đánh máy lại để Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII đến tay bạn đọc hôm
nay.
https://thuviensach.vn
Về nguyên tắc, chúng tôi tôn trọng tuyệt đối văn bản tác phẩm. Chúng
tôi chỉ chỉnh sửa những quy tắc chính tả cho đúng với quy định xuất bản
hiện hành. Một số chỗ, do nguyên bản mờ chữ, hoặc mất trang, chúng tôi
đều có chú thích rõ ràng. Phần mất trang trong bài “Nền thương mại của xứ
Đàng Ngoài ở đầu thế kỷ thứ XVII”, dù đã cố gắng liên hệ với một số nhà
sưu tầm báo chí từ Bắc tới Nam, nhưng chúng tôi vẫn chưa có may mắn để
tìm được, ngõ hầu bổ khuyết cho văn bản được hoàn thiện. Mong rằng, sau
khi cuốn sách ra đời, các nhà sưu tầm, nghiên cứu và bạn đọc, nếu có được
phần thiếu khuyết đó, xin chia sẻ giúp cho chúng tôi.
Một số chỗ, để giúp bạn đọc nắm rõ hơn, chúng tôi có đưa vào một vài
chú thích. Những phần chú thích của người biên soạn chúng tôi đều có ghi
cụ thể.
Do năng lực còn nhiều hạn chế, rất có thể trong quá trình sưu tầm, biên
soạn và giới thiệu còn những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự chỉ
chính của bạn đọc gần xa.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này cùng bạn đọc!
Nhóm sưu tầm
Kiều Mai Sơn - Nguyễn Mạnh Sơn - Nguyễn Trung Thành
https://thuviensach.vn
LỜI TÒA SOẠN
Ý định chúng tôi là làm cho nhiều người chú ý đến sự tiến hóa của dân
tộc Việt Nam và thu nhặt tài liệu để tả sự tiến hóa ấy. Những bài sau đây
chỉ là một công việc bắt đầu: chúng tôi chọn và dịch những đoạn sách cổ
ghi chép việc thực tế đời sống của dân ta ngày xưa. Phê bình những sử liệu
ấy là công việc sau đây sẽ làm. Từ cuối thế kỷ XVI, người Âu châu đã sang
ta và biên thuật về xã hội ta rất nhiều, bằng các thứ tiếng La Tinh, Pháp,
Anh, Đức, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha và Hòa Lan. Muốn chép sử ta một cách
đầy đủ, chắc chắn không những phải dùng hết tài liệu đó mà còn phải
nghiên cứu các sách vở của người Miên, Lào, Chiêm, Thái, Thổ, Mường
mà nhất là những sách chữ Nho, chữ Nôm mà càng ngày càng ít người đọc
và hiểu được một cách chu đáo. Công việc đó quá sức một người hay một
bọn ít người; vậy chúng tôi rất hoan nghênh sự hợp tác của mọi người Nho học hay Tây học - cùng theo đuổi với chúng tôi một mục đích là “làm
sống lại” những đoạn Nam sử hiện nay nhiều người đương sao nhãng.
Tạp chí Thanh Nghị 12
https://thuviensach.vn
I. ALEXANDRE DE RHODES
Cố Alexandre de Rhodes (1591 - 1660) tới Trung kỳ năm 1624. Tháng
Ba năm 1627 được cử ra lập giáo đoàn tại Bắc kỳ; tháng Năm năm 1630 thì
bị chúa Trịnh Tráng đuổi ra khỏi xứ Bắc. Cố quay về Trung kỳ rồi sang Áo
Môn (Ma Cao bên Tàu), đầu tháng Hai năm 1639 lại trở về Trung kỳ.
Nhưng mấy năm sau chúa Nguyễn, Công Thượng vương[1], cấm đạo, cố bị
bắt và bị kết án tử hình, nhưng không bị chém chỉ bị trục xuất ra khỏi xứ
(tháng Bảy năm 1645). Quyển Histoire du Royaume de Tunquin trích dịch
sau đây xuất bản năm 1651 tại Lyon (Pháp) bằng tiếng Pháp.
Lễ tịch điền về đời Lê [2]
Nội các tục được dân thành tâm theo ở Bắc có một tục chính là tục hàng
năm vào hồi đầu xuân thì theo để khai đất và để khởi đầu việc cày bừa một
cách long trọng. Cứ đầu năm, tức là vào khoảng giữa hai tiết đông chí và
xuân phân - theo như lối ta tính thì vào tuần trăng non vào gần ngày mồng
năm tháng Hai dương lịch nhất, đến ngày các nhà toán số đã chọn, thường
thường vào mồng ba Tết, thì mọi người có chức vụ, hay tước vị trong nghề
võ hay văn, đều phải mặc lễ phục, đeo ấn thụ vào cung để hộ tống vua ngự
giá qua kinh thành ra tới vùng nhà quê, theo nghi tiết tôi sẽ tả theo đây.
Quân lính gọi ở khắp trong nước về, dân đi trước có thứ tự và rất đông,
vì họ đến mấy nghìn người, người nào cũng đeo khí giới của đội mình,
người thì cung tên, người thì thương, giáo hay súng. Theo sau là các tướng
và tất cả những người quý phái, tùy theo chức phận, một phần cưỡi ngựa,
một phần cưỡi voi; ngựa và voi có tới hơn ba trăm con, đều đóng yên phủ
bành sang trọng, đã dạy dỗ thuần thục.
https://thuviensach.vn
Đại tướng thống lĩnh quân đội và là phó vương cầm quyền trị nước, hiệu
là chúa Thanh Đô vương[3] đi sau cùng bọn quý tộc, ngồi trên một chiếc xe
thấp thếp vàng, theo sau có một con voi đóng bành lộng lẫy có người dắt,
khi nào chúa thích thì lại cưỡi và điều khiển đủ mọi lối khiến cho dân
chúng vui thích ngắm nhìn tỏ vẻ kính cẩn và thán phục.
Đi bộ theo sau là một số đông vô kể, những ông nghè, ông cử, ông tú
mặc áo dải lụa hay gấm vóc màu tím thâm, mỗi người có thẻ bài chỉ rõ
chức vụ và phẩm trật của mình,
Sau cùng đến đức vua, ngồi trên một chiếc kiệu chói lọi phủ một tấm
rèm quý giá thêu kim tuyến và màu xanh, màu ấy là màu riêng vua mới
được dùng.
Theo hàng thứ và nghi trượng như thế, đức vua ra khỏi hoàng cung vẫn
gọi là Đền, chu vi rộng bằng một tỉnh lớn, rồi qua những phố chính kinh
thành, thường gọi là Kẻ Chợ, mà chảy đến một nơi đồng rộng cách kinh
thành chừng gần một dặm; ở đó các quan đi hộ giá đến từ trước và dân
chúng đã đợi sẵn để đón vua. Đến nơi đức vua xuống kiệu và sau khi đã
khấn nguyện và rót rượu tế trời. Ngài thân cầm lấy cán một chiếc cày có vẽ
màu và chạm trổ rất đẹp, cày đất vài phút và mở một luống trong cánh
đồng, để dạy cho dân chúng biết rằng từ đây phải làm lụng, bỏ sự an nhàn
và chăm nom đồng áng.
Đức vua cày xong rồi, thì chúa Trịnh là người quản trị nước có thế lực
rất lớn và có uy quyền trên hết cả thần dân, tiến đến gần, vái vua, mình cúi
rạp xuống tận đất. Rồi các hoàng thân, các võ tướng và các quan cũng làm
như vậy; sau cùng thì đến lính và cả quần dân quỳ xuống mà tung hô vua.
Hàng năm về đầu xuân, đó là sự tôn kính, sự báo ơn long trọng nhất của
thần dân đối với vua.
(Chương III, trang 11 -13)
Đất kinh kỳ về đầu thế kỷ XVII
https://thuviensach.vn
Điều làm cho vua xứ Bắc có thế lực khiến các vua lân cận khiếp sợ, là số
dân đông vô kể ở bảy trấn dưới quyền vua cai trị, cứ xem số người thường
ở Kẻ Chợ là nơi vua lập triều đình thì đủ biết. Tuy rằng kinh kỳ dài hơn sáu
nghìn bộ[4], ngang cũng chừng bấy nhiêu, phố xá rộng rãi, mười hay mười
hai cỗ ngựa có thể ung dung đi ngang nhau được, thế mà mỗi tháng hai kỳ vào rằm, mồng một là ngày dân nghỉ lễ - ta thấy trong tỉnh đông người qua
lại khắp mọi phố đến nỗi đi ngả nào cũng thấy vướng. Thành thử người nào
cũng bị xô đẩy, bị cản, bắt buộc mất nhiều thì giờ mà chả đi được mấy
bước đường.
Do đấy và căn cứ vào vài điều phỏng đoán khác, người ta thường ước
dân số kinh kỳ được một triệu người. Không kể những điều khác, lại còn
một điều này làm cho ta thấy số dân rất đông sống ở đây.
Người Bắc có tục ăn trầu là thứ có lợi cho sức khỏe và có vị ngon, bao
giờ họ cũng giắt theo vào thắt lưng một giỏ con hay một bao đầy trầu cau,
ra đường gặp bạn bè thì mở ra, rồi sau khi đã chào nhau rất lễ phép, mọi
người nhận lấy một miếng trầu têm sẵn của người kia mà ăn. Vì thế trong
tỉnh kẻ nào hơi khá giả thì sai đầy tớ sửa sắm thứ quà nhỏ ấy, đem biếu lẫn
nhau để tỏ tình thân mật; nhưng còn thường dân vẫn ăn trầu mà không có
kẻ hầu têm sẵn ở nhà, thì đã có tới năm vạn hàng bán trầu lẻ rải rác khắp
kinh thành. Vậy có thể kết luận rằng số người mua đông không thể tính xuể
được.
(Chương VII, trang 25 - 27)
Nhân dân và thuế má
... Trừ những người được nhà vua miễn sưu còn thi trai tráng từ mười
chín đến sáu mươi tuổi đều phải đóng thuế. Chỉ có khác là dân ba tỉnh vẫn
trung thành với nhà vua và xưa không theo giặc, thì đóng một số tiền đem
đổi sang tiền ta vào độ hai đồng, mỗi đồng ăn sáu mươi xu (deux escus de
soixante sols pièce); còn dân bốn tỉnh đã bỏ vua theo giặc thì mỗi người
phải đóng nhiều gấp bốn, ấy là không kể mấy thứ thuế vua đặt ra để trừng
https://thuviensach.vn
phạt sự phiến loạn của họ. Ngoài thứ thuế thân này là thứ bọn phu thu nhẫn
tâm bắt nộp không trừ một li, không phân biệt kẻ nghèo, người giàu, người
có của hay kẻ chỉ làm lụng để độ thần[5], còn một thứ thuế nữa nhẹ hơn,
đánh theo thổ sản, có tính cách một tặng vật do dân tự ý đem cống hiến nhà
vua hơn là một thứ thuế thật, tuy rằng đến vụ thu, mỗi năm ba bốn lần, chả
một ai dám tránh. Vụ thứ nhất thu vào cuối năm hay đâu năm như biếu Tết.
Vụ thứ hai vào khi vua làm lễ “Vạn thọ” (sinh nhật), Vụ thứ ba vào ngày
húy (giỗ) tiên vương. Vụ thứ tư vào hồi có gạo quả mới. Vì các vật cung
tiến này không thu ngặt như thuế thân nên dân mỗi tỉnh, mỗi làng góp của
nhau vào chung, rồi cử người xứng đáng nhất thay mặt đem tiến vua.
Hầu khắp những tỉnh, những xả trong nước - nhiều không sao kể xiết
được - nộp thuế thẳng cho vua hay cho người thay mặt vua đứng ra thu,
nhưng cũng có nhiều nơi nộp cho các vương hầu tướng tá và binh lính hay
cho những người vua xét ra đáng thưởng và đã cấp cho vài nơi để hưởng
thuế lợi, hoặc là để khen tài đức họ, thưởng công họ, hoặc là để lập thái ấp
lúc họ mới sinh hoặc là để cấp dụng vào chức vụ đã giao cho họ, hoặc để
ban thưởng việc gì khác: theo lệ trong nước thì quyền lợi vua đã ban cho
một người, con cái hay kẻ thừa kế không được thưởng nếu nhà vua không
bằng lòng cho lại. Mà ngay khi người ấy còn sống, vua cũng còn quyền thu
lại của đã ban cho, như thỉnh thoảng ta đã thấy; tuy nhiên, chỉ khi nào để
trừng phạt một tội lỗi gì nặng thì vua mới dùng tới cách nghiêm ngặt ấy.
(Chương VIII, trang 28 - 30)
Quân lính và tướng tá
Đức vua đã ban thành thị cho các tướng tá để đền công về những nỗi vất
vả của họ, thì ngài cũng cấp vài nơi cho những lính xuất sắc để họ có lương
ăn và để thưởng lòng anh dũng của họ: có khác là ngài thường cấp nhiều
nơi cho một viên tướng mà chỉ cấp một nơi cho nhiều tên lính; thành thử
một thị trấn không to tát gì nhiều khi cũng nuôi đủ binh lính cả một chiếc
https://thuviensach.vn
chiến thuyền; ở nơi đã cấp cho mình, bọn lính có quyền thu thuế dân vẫn
nộp cho nhà vua.
Còn như đối với hạng lính không được trọng đãi như thế thì thường
thường, các tướng thay mặt vua trả lương cho họ; một phần cũng vì những
khoản chi phí ấy và để nuôi một số lính, nên vua mới cấp cho những viên
tướng nhiều thị trấn để lấy thuế. Bởi vậy nên khi không có chiến tranh hay
không phải luyện tập, lính ăn lương của tướng hoàn toàn để tướng sai khiến
bắt hầu hạ mình làm công việc phu phen hay làm mọi việc công ích, như
đóng thuyền, hàn thuyền, xây sửa cầu cống và những việc tương tự như thế,
thành thử chả lúc nào họ nhàn rỗi và không có việc làm.
Những tướng tá lưu trú ở kinh sáng nào cũng phải vào hầu vua và dự vào
buổi chầu ngài thiết ở cung để cho dân chúng có nguyện vọng gì thì dâng
lên; khi đi chầu tướng nào cũng có một ít bộ hạ đi dàn trước, có thứ tự, có
khí giới và mặc áo choàng màu tím thẫm; khi về, lính lại hộ vệ đến tận nhà.
Được phục dịch tướng như thế là một việc vinh dự, quân cắt phiên nhau mà
làm.
Khi vua ra ngoài điện hoặc để dạo chơi về thừa lâu[6] tại vùng thôn quê,
hoặc để thử chiến thuyền mới sai đóng, hoặc để xem quân lính mỗi tháng
hai kỳ tập bắn hay đánh vật, vì các tướng có mặt tại triều đi tùy giá, nên
quân lính bao giờ cũng dự rất đông, bảnh bao trong những bộ áo hiệu như
họ thường mặc để đi dàn trước long giá khiến cho nghi trượng có vẻ lộng
lẫy.
Mỗi khi vua ngự về vùng thôn quê như kể trên đây, không những chỉ có
toán bộ binh uy phong này đi trước hộ giá mà thôi, lại còn có cả một đội kỵ
mã đã chọn lọc và hơn một trăm cỗ tượng mình phủ gấm vóc trên có các
vương phi, công chúa và bọn nữ tỳ ngồi thảnh thơi trong những chiếc bành
thấp đóng chắc vào lưng voi, voi khỏe có thể mang tới sáu người trong
bành, ấy là chưa kể tên quản tượng cưỡi trên cổ.
Vì thế khi vua ra chứng kiến những cuộc tập binh hay đánh vật, quân
lính được khuyến lệ vô cùng vì ngoài đức vua họ còn có số khán giả mỹ lệ,
https://thuviensach.vn
cao quý kia để tán thưởng sự khéo léo và giỏi giang của họ.
Về việc đánh vật có điều này tôi không thể bỏ qua được: bên nào đã bị
bên địch nhanh tay hay lấy sức đánh ngã xuống đất cũng chưa kể là thua,
tuy bụng hay sườn đã chạm xuống đất, có bị vật ngã ngửa vai sát đất thì
mới thua hẳn.
(Chương IX, trang 31 -33)
Lễ tuyên thệ của binh lính
Tôi không thấy có gì đáng khen và lạ bằng sự quân lính xứ Bắc đông như
thế, đặt dưới quyền lắm tướng như thế, hay hội họp canh gác, xếp hàng ngũ
hoặc ở điện nhà vua hoặc ở vùng thôn quê luôn như thế, mà cả giữa những
bữa khao, nhà vua và các tướng ban cho họ vui cũng không bao giờ ai thấy
họ cãi nhau, nói khích nhau, chửi bới khinh miệt nhau mà cũng không bao
giờ ai nghe thấy nói đến sự họ đâm chém nhau.
... Tuy ta có thể cho sự điềm đạm ấy là do ở bản tính họ vốn lành, nhưng
cũng phải nhận là một phần lớn do ở sự họ tôn kính và sùng bái vua và
tướng. Họ gọi vua là thiên tử và sùng bái vua như một đấng thiêng liêng tự
trên trời xuống để cai trị họ, vì thế trước mặt ngài, không bao giờ họ làm gì
khiến ngài thất ý hay phải tức giận. Sự sùng bái ấy là căn bản cái tục họ
theo hàng năm như sau đây.
Vào quãng tháng Sáu nguyệt lịch[7] thường thường vào tháng Tám của ta[8]
vua ban một đạo dụ truyền cho quân tướng đúng ngày đến tuyên thệ tỏ lòng
trung thành với vua... Ở các công trường, ở các ngả đường chính trong kinh
thành người ta thiết lập những hương án bầy biện trang hoàng vẫn để thờ
thần: Ở chính giữa hương án, đã biên lời thề bằng chữ to, họ đứng dưới
chân hương án cũng nom rõ; hứa sẽ trung với vua và nếu sai lời thì phải
trăm nghìn thứ tai nạn... Muốn tránh sự hỗn độn vì lính đến thề rất nhiều và
lễ tuyên thệ nội trong một ngày xong, người ta đặt rất nhiều hương án, mỗi
hương án dành riêng cho mấy tướng và mấy đội lính, có một quan văn
được cử ra thay vua để làm chủ lễ và để sau khi đã tuyên thệ rồi thì phát
https://thuviensach.vn
cho mỗi tên lính một mảnh giấy chứng nhận rằng họ đã thề và đã được
nhận vào làm lính nhà vua. Tướng từng đội lên trước, long trọng thề giữ
trung với nhà vua, rồi lần lượt đến quân lính, viên chủ lễ phát cho mỗi tên
một mảnh giấy biên chữ khác nhau, tùy theo giọng nói lúc tên ấy tuyên thệ.
Ai nói tiếng to, rõ ràng, quả quyết thì được chữ minh nghĩa là “rõ” Ai nói
nhỏ, giọng đục phải chữ bất minh nghĩa “không rõ”. Còn lại nói giọng vừa
phải thì được chữ thuận nghĩa là “thường” Những mảnh giấy ấy không phải
là vô giá đâu: vì mỗi người lính, đợi lễ tất, đem giấy về cho chủ tướng.
(Ông nào thề xong về ngay) thì được chủ tướng phát cho một chiếc áo vua
ban. Ai có chữ minh thì được hạng áo tốt và dài; ai có chữ thuận thì được
áo ngắn hơn bằng vải thường; ai phải chữ bất minh thi áo vải xấu và ngắn
nữa. Thành ra suốt một năm, người ta trông áo mà biết được người lính nào
trung nghĩa, tận tâm và được yêu quý trong hàng ngũ của nhà vua,
(Chương X, trang 34 - 36j
Nền thương mại của xứ Đàng Ngoài ở đầu thế kỷ thứ XVII
Người xứ Bắc, gần như không thông thương gì với nước ngoài vì ba lẽ
chính.
Lẽ thứ nhất vì họ không biết dùng địa bàn, không thạo nghề hàng hải;
không bao giờ dám ra xa bờ hay núi quá tầm mắt, Lẽ thứ hai thuyền họ
không bền được với sóng, bão, ván thuyền không đóng đinh, không có chốt
mà chỉ có đai buộc, mỗi năm là phải thay một lần. Lẽ thứ ba là vua không
cho dân ra nước ngoài, sợ rồi quen ở lại buôn bán làm thiệt mất thuế của
vua. Nhưng hàng năm, ngài cũng phái vài chiếc thuyền buôn sang Cao
Man, Xiêm La vì hai xứ này không xa Đàng Ngoài là mấy và thuyền buôn
cứ theo ven bờ mà đi không phải ra khơi.
- Tuy nhiên không ra khỏi nước Nam, nước này gồm có Đàng Ngoài và
Đàng Trong, bọn lái buôn bản xứ nhờ có thương cảng tiện lợi và nhiều nên
buôn bán cũng lớn và lợi lãi hàng năm gấp hai, gấp ba vốn mà không phải
chịu những sự bất trắc thường gặp trên mặt bể. Thật vậy, ở dọc bờ bể nước
https://thuviensach.vn
Nam dài hơn ba trăm năm mươi dặm tây, ta đếm được hơn năm mươi
thương cảng, có nhiều sông con dồn nước về, và có thể chứa được mười,
mười hai chiếc tàu lớn, thành ra ai đi lại trên mặt bể, đêm đêm có thể rút
vào đậu trong các bến này không phải bỏ neo ở ngoài khơi và tránh được
những tai nạn không hiếm gì trên mặt biển.
Về các khách thương ngoại quốc thật ra thì từ hồi nào người Nhật Bản,
người Trung Hoa vẫn vào các bến nước Nam, mua lụa và gỗ trầm hương.
Người Trung Hoa bây giờ vẫn còn buôn bán, và đem sang những đồ sứ,
vải, và nhiều thứ hàng giải trí và xa xỉ. Người Nhật Bản trước kia đem
nhiều tiền đến để mua lụa, và đem nhiều thứ kiếm và các khí giới khác đến
bán, đã hai mươi nhăm năm nay không lai vãng nữa, vì được tin rằng tuy đã
có lệnh cấm đạo Gia-tô ở Nhật Bản từ năm 1614, trong gần 10 năm trời
người Nhật theo đạo mỗi năm vào mùa...[9] và ba bốn lần vào các dịp khác,
vẫn lấy cớ là đi buôn rồi dùng hàng ba bốn chiếc tàu sang nước (... ) [10]
https://thuviensach.vn
II. CRISTOFORO BORRI
Cố Cristoforo Borri (1585 - 1632) là một cố đạo người Ý sang Trung kỳ
vào khoảng 1618 - 1621 (?); đến 1623 thì qua Goa[11] về Âu châu.
Quyển Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di
Giesu al Regno della Cocincina, xuất bản ở Rome bằng tiếng Ý năm 1631
là quyển sách in đầu tiên của Âu châu nói về Trung kỳ. Sách có dịch ra
tiếng Pháp (bản của cố Antoine de la Croix in ở Lille năm 1631), tiếng Hòa
Lan, La Tinh, Đức, Anh. Tạp chí Revue Indochinoise, năm 1908, có đem
đăng lại bản dịch của cố Antoine de la Croix (chúng tôi cũng dịch đăng
theo bản này).
Sách có hai phần. Phần trên nói về vị trí, khí hậu, thổ sản, tài nguyên,
chính trị, thương mại của xứ Trung kỳ; dưới nói về việc truyền giáo.
Xin nhắc lại là chúng tôi chỉ mới trích dịch[12] chưa phê bình chọn lọc.
Tính tình người Trung kỳ
Người Trung kỳ không khác người Trung Hoa về màu da mặt, và người
nào cũng sắc xanh nhạt, đây là nói những người ở gần bể, bởi vì những
người ở tận trong đất liền cho tới đất xứ Bắc kỳ cũng trắng như người Âu
châu.
Ngoài nét mặt, họ còn giống người Trung Hoa vì mũi tẹt, mắt nhỏ; về
vóc người thì họ tầm thước: tôi muốn nói là họ không nhỏ bé như người
Nhật Bản mà cũng không cao như người Trung Hoa. Nhưng về sức lực và
dáng người thì họ vượt trên người Trung Hoa và người Nhật Bản; về can
đảm và tài năng, họ đứng trước người Trung Hoa, nhưng người Nhật Bản
https://thuviensach.vn
hơn họ về một chỗ là khinh sự sống trong những lúc gian nguy và chiến
trận, vì không kể gì đến thân mình, người Nhật không sợ chết bất cứ bằng
cách nào.
Người Trung kỳ hiền lành và có lễ độ trong lúc nói chuyện hơn các dân
tộc khác ở Đông phương và họ coi sự giận dữ là một điều ô nhục tuy họ rất
tự cao. Các dân tộc Đông phương coi người Âu châu như những quân phàm
tục và tự nhiên kinh sợ ta đến nỗi khi thuyền ta ghé vào đất họ, họ trốn
tránh cả. Ở Trung kỳ thì trái hẳn lại: Dân Trung kỳ tranh nhau đến gần ta,
hỏi ta hàng nghìn câu, mời ta ăn với họ; nói tóm lại, đối với ta, họ dùng đủ
mọi điều lịch sự, nhã nhặn, thân mật. Tôi và các bạn đồng hành đã thấy như
thế khi chúng tôi mới vào xứ này lần đầu và người ta có thể nói là chúng tôi
đến giữa các bạn rất thân, biết nhau đã từ lâu...
Vì bản tính họ rộng rãi và phong tục dễ dàng nên họ ở với nhau rất có
hòa khí, cư xử với nhau ngay thực và chân thành như anh em ruột cùng
sống, cùng ở trong một nhà tuy họ chưa gặp nhau và biết nhau bao giờ. Và
họ coi là một người đê hèn, nếu kẻ nào giữ lấy ăn một mình một thức gì dù
bé nhỏ vụn vặt đến đâu mà không đem chia cho kẻ khác mỗi người một
phần. Họ có thảo tầm hay bố thí cho kẻ nghèo, chẳng bao giờ từ chối làm
phúc cho ăn mày vì họ coi như đã thiếu bổn phận nếu họ không cho, và lẽ
công bằng bắt buộc họ phải giúp đỡ.
Bởi thế nên một lần có mấy người ngoại quốc bị đắm tầu bơi được vào
một thương cảng Trung kỳ, không biết thổ ngữ để có thể hỏi xin những
thức cần dùng, chỉ phải học có mỗi một tiếng: Doii, nghĩa là tôi đói. Bởi vì
khi nghe thấy mấy người ngoại quốc than như thế và đi qua cửa nhà họ kêu
đói, thì người Trung kỳ đua nhau ra ngõ, tỏ vẻ ái ngại và cho mấy người đó
ăn...
Nhưng người Trung kỳ rộng rãi và sẵn lòng cho nhanh bao nhiêu thì khi
ngó thấy cái gì là lạ và hiếm, lập tức họ ham muốn và nói ngay: Scin
mocaii (nghĩa là cho tôi xin một vật kia). Và họ coi là một điều đại bất nhã
nếu ta từ chối, không cho họ một vật, dù hiếm, dù có giá, dù ta chỉ có một
https://thuviensach.vn
bản; kẻ từ chối là một thằng bủn xỉn. Nên khi cần chỉ có thể: một là đem
giấu vật mình muốn giữ lại, hai là sẵn sàng cho kẻ đã hỏi xin.
Một khách thương Bồ Đào Nha ý chừng không thích cách hành động lạ
lùng ấy - mấy người thích cho được - và ngày nào cũng bị bực mình phải
cho những vật đẹp mà họ thấy anh ta cầm tay, một hôm có ý kiến là anh ta
cũng xử sự như họ. Định tâm thế, anh ta đến gần thuyền một chú chài
nghèo khổ, để tay lên một sọt đầy cá, nói theo tiếng bản xứ Scin mocaii
(cho tôi cái này); chú chài chẳng nói chẳng rằng cho luôn anh ta cả sọt cá.
Anh Bồ Đào Nha đem sọt cá về, không khỏi ngạc nhiên và lạ lùng về tính
hào phóng của người Trung kỳ. Thật ra thì sau này ái ngại cho chú chài,
anh ta có đem trả đúng số tiền chỗ cá ấy.
Những tiếng dùng để nói chuyện, thường dùng trong cuộc xã giao hay
dùng trong các lễ nghi cũng tựa như người Trung Hoa. Kẻ dưới rất kính cẩn
với người trên; người ngang hàng đối với nhau rất tương kính đúng mực,
chúc tụng khen ngợi nhau cũng tỉ mỉ như người Trung Hoa. Họ tôn trọng
đặc biệt các bậc lão thành: trong bất cứ việc gì, ở giai cấp nào, trong trường
hợp nào, họ cũng nhường người hơn tuổi và để tuổi già được ưu đẳng đối
với hạng thiếu niên. Vì thế có mấy ông quan, tuy đã đến thăm chúng tôi
nhiều lần ở nhà chúng tôi và đã được viên thông ngôn báo cho biết rằng có
ông Cụ Đạo nhiều tuổi hơn chúng tôi nhưng không phải là bề trên chúng
tôi, mấy vị quan ấy vẫn không khỏi đến chào ông Cụ Đạo trước, rồi mới
chào vị bề trên ít tuổi hơn. Trong các nhà của người Trung kỳ ngồi chơi có
ba cách. Cách thứ nhất, thường nhất, ở trên chiếc chiếu trải trên nền đất để
tiếp những người cùng bằng vai. Cách thứ hai ở trên những dây hay chạc...
XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVII
Nguyễn Trọng Phấn dịch
NXB Tổng hợp TPHCM
+++++++++++++
TVE-4U.org
ebook©vctvegroup
Số hóa: Bọ Cạp
https://thuviensach.vn
Nguyễn Trọng Phấn
(1910-1996)
Quê: xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội.
Trước năm 1945: Viên chức Sở Trước bạ và Trường Viễn Đông Bác Cổ;
hội viên Hội Trí Tri và Hội Khai Trí Tiến Đức.
Từ 1945 - 1954: Chánh Văn phòng Đông phương Bác cổ học viện;
Chánh Văn phòng Nha Đại học và Tổng Thư ký Ban Sử học - Bộ Giáo dục.
Từ 1954: Giáo viên trường Trung cấp Sư phạm Trung ương; tiếp quản
trường Viễn Đông Bác Cổ; sau đó công tác tại Thư viện Khoa học Trung
ương - nay là Viện Thông tin KHXH Việt Nam, cho đến khi nghỉ hưu.
Đôi lời về một người ẩn danh (Thay lời tựa sách)
Tôi tốt nghiệp trung học phổ thông rồi theo học Khoa Lịch sử trường Đại
học Tổng hợp đúng thời điểm chiến tranh phá hoại lan ra miền Bắc (1964 1965). Tốt nghiệp về nhận việc ở Viện Sử học Việt Nam (1969) thì chỉ ít
lâu sau lại đi sơ tán cũng vì cuộc chiến tranh phá hoại trở nên ác liệt hơn
với những trận rải bom của B52 vào lòng Thủ đô Hà Nội...
https://thuviensach.vn
Nhắc lại điều đó để tôi giải thích vì sao khi thực sự bước vào cuộc đời
nghề nghiệp, mà tôi lại chưa đến khai thác tài liệu tại một trong những thư
viện quý nhất khi đó là Viện Thông tin Khoa học xã hội, nơi được thừa kế
kho sách vô giá của Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp tại Hà Nội.
Đương nhiên những năm sau này tôi vẫn thường xuyên đến đọc tài liệu tại
đây, nhưng thời điểm ấy, tôi không còn được gặp một người là tác giả của
cuốn sách mà các bạn cầm trên tay: cụ Nguyễn Trọng Phấn.
Tôi chỉ gặp cụ Phấn khi cụ đã nghỉ hưu. Một ông già khi đó đã ngoài bảy
mươi, tóc râu đã bạc, lưng lại còng nhưng lúc nào cũng cắp trên tay những
cuốn sách dày mà sau này khi không còn đủ sức cụ cho vào một cái bị xách
bên mình. Tôi không hiểu những cuốn sách ấy cụ đang sử dụng dở dang
hay mang theo chỉ là một thói quen không bỏ được. Dáng vẻ hiền từ nhưng
ít nói. Tôi chỉ được mọi người giới thiệu đó là một cán bộ cũ của thư viện.
Sau này, khi tôi hoạt động nhiều trong công việc của Hội Sử học, tổ chức
những sinh hoạt như phổ biến kiến thức, hội thảo kỷ niệm các sự kiện hay
nhân vật lịch sử, luôn thấy vị khách lão thành ấy có mặt. Khiêm nhường
ngồi ở những hàng ghế sau ít ai để ý. Nhưng với các bậc lão thành, nhất là
trong giới nghiên cứu thì mọi người đều tỏ sự kính trọng khi gặp cụ. Dần
dà tôi biết nhiều hơn về con người này. Hỏi chuyện cụ, nhất là liên quan
đến sách vở cái gì cụ cũng am tường ẩn sau cách nói rất khiêm nhường.
Hơn thế thi thoảng cụ còn đến nhà tôi, khi đó sống trong khu phố cổ.
Không gặp tôi thì trò chuyện với mẹ tôi, cũng thuộc hạng người cũ của Hà
Nội nhưng ít hơn cụ hơn chục tuổi. Câu chuyện giữa họ là gì tôi không rõ,
nhưng mẹ tôi luôn tỏ sự tôn trọng và chỉ nói với tôi rằng ngày xưa cụ ấy
thuộc hạng người “danh giá”.
Một lần tôi có dịp sang Pháp, cụ Phấn đến nhờ tôi gửi một lá thư cho bà
Tiến sĩ Thu Trang - Công Thị Nghĩa, một nhà sử học Việt kiều chuyên viết
về những nhân vật lịch sử thời cận đại trong đó có Phan Châu Trinh và Hồ
Chí Minh và có sách in ở Việt Nam. Lá thư mà thực ra là một tài liệu viết
về tổ chức “Hội Tam điểm” ở Việt Nam mà cụ từng là một người tham dự
https://thuviensach.vn
khá sâu sắc. Cụ viết để cung cấp thêm những hiểu biết về tổ chức này mà
Tiến sĩ Thu Trang mới chỉ tiếp cận qua các nguồn tư liệu. Cụ bổ sung nhiều
điều và cải chính đôi điều. Tôi biết nội dung bức thư vì chính cụ dặn đây là
thư ngỏ nên cứ đọc trước rồi sẽ chuyển sau. Hẳn cụ giữ ý để tôi yên tâm
mang giúp thư ra nước ngoài. Nhưng với tôi lá thư khá dài ấy là một nội
dung rất bổ ích về một tổ chức hoạt động rất bí mật nhưng lại có không ít
tác động vào lịch sử Việt Nam thời cận đại (Pháp thuộc). Chính cụ đã mách
bảo tôi rằng trong thư viện và lưu trữ có những tài liệu cho biết Cụ Hồ khi
còn trẻ đã từng đến với tổ chức này cả ở Việt Nam và ở Pháp... Sau này có
người phát hiện ra tài liệu chứng minh đúng như vậy...
Sau khi tôi chuyển bức thư sang Pháp, bà Tiến sĩ Thu Trang đánh giá rất
cao những thông tin cụ Phấn cung cấp và có nhờ tôi chuyển lời cảm ơn và
hy vọng có dịp gặp cụ ở Việt Nam. Tôi cũng có ý định khai thác thêm
những hiểu biết về cụ, nhưng công việc cứ bẵng đi theo thời gian... cho đến
ngày nghe tin cụ mất.
Thú thật, cho đến lúc này, khi bản thảo của cuốn sách mà các bạn đang
cầm trên tay được các đồng nghiệp biên soạn gửi tới tôi đọc trước, tôi được
biết kỹ hơn những thông tin về nhân thân và các hoạt động nghề nghiệp của
cụ Nguyễn Trọng Phấn, tôi mới hiểu hơn cái nhận xét mà mẹ tôi từng nói
về cụ, một người danh giá.
Cuốn sách này rất mỏng, lại chỉ là những mẩu tư liệu sưu tầm từ những
sách báo của người phương Tây viết về buổi tiếp xúc đầu tiên với đất nước
và con người Việt Nam vào thế kỷ XVII. Đó mới chỉ là những bài báo rút
ra từ tờ “Thanh Nghị”, sự tập hợp trách nhiệm của những trí thức có tinh
thần dân tộc vào thời điểm đang đón chờ cơ hội giành độc lập cho đất nước
khi chiến tranh Thế giới lần thứ II tạo ra... Đúng như phụ đề “thu nhặt tài
liệu để giúp vào sự giải quyết những vấn đề quan hệ đến cuộc sinh hoạt của
dân tộc Việt Nam”, cụ Nguyễn Trọng Phấn và các bạn trí thức “đồng chí”
của mình đã làm mọi việc để đặt nền tảng cho một tư duy mới, điều mà
https://thuviensach.vn
ngày nay ta hay dùng, là chuẩn bị tâm thế cho công cuộc hội nhập với thế
giới một khi nước nhà giành được độc lập.
Năm Việt Nam giành được độc lập, cụ Nguyễn Trọng Phấn mới 36 tuổi.
Cụ Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, giữa lúc còn phải “vật lộn” với nạn
đói, nạn dốt và ngoại xâm vẫn trân trọng kế thừa cái di sản khoa học của
chế độ cũ mà ấn định nhiệm vụ mới của Đông phương Bác cổ Học viện
trên cơ sở kế thừa toàn bộ những thành quả nghiên cứu và con người của
Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp lập ở Đông Dương. Và cụ Nguyễn
Trọng Phấn được đảm nhiệm vai trò Chánh văn phòng và Thư ký của Hội
đồng cố vấn Học viện, nơi tập hợp những tên tuổi danh giá như Nguyễn
Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đỗ
Cung, Đặng Thai Mai, Nguyễn Thiệu Lâu, Đào Duy Anh, Nam Sơn... và cả
Ngô Đình Nhu và Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy (tức Cựu hoàng Bảo Đại)...
Đọc cuốn sách này hẳn các bạn đọc quan tâm nhiều hơn đến những
thông tin về một vấn đề lịch sử được nêu thành tên sách Xã hội Việt Nam từ
thế kỷ XVII, nhưng riêng với tôi lại quan tâm nhiều hơn đến thế hệ những
người ẩn danh như cụ Nguyễn Trọng Phấn, những người không hiếm sống
quanh ta. Hoàn cảnh khiến cụ Nguyễn Trọng Phấn không thành danh như
các nhà khoa học lớn, nhưng thế hệ của cụ là thế hệ “làm sống lại những
đoạn “Nam sử” mà hiện nay nhiều người sao nhãng” từ cách đây hơn bảy
thập kỷ. Những người không thành danh ngoài xã hội nhưng từng danh giá
trong tâm khảm những người cùng thời.
Lục tìm trong những tư liệu ngổn ngang của mình, tôi kiếm được một
tấm ảnh chụp chung với cụ cũng thấy Trần Quốc Vượng và bạn Lê Cường
(cháu nội cụ Lê Hoan), bức ảnh chụp cách nay đã một phần tư thế kỷ nhân
một cuộc hội thảo về danh nhân Chu Văn An để in vào cuốn sách này như
một kỷ niệm về cụ Nguyễn Trọng Phấn (xin xem trang 188).
Cuối Thu 2015
Dương Trung Quốc
https://thuviensach.vn
LỜI THƯA!
Bạn đọc đang cầm trên tay cuốn sách Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII.
Đây là tập hợp các bản dịch của nhà báo, nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng
Phấn (1910 - 1996) trên Tạp chí Thanh Nghị từ năm 1941 đến năm 1945.
Nội dung các bài viết mô tả xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII qua sự quan
sát, ghi chép của những người phương Tây đến Việt Nam thuở đó.
Về nội dung cuốn sách, chúng tôi xin dành sự đánh giá cho bạn đọc.
Dưới đây, chúng tôi muốn giới thiệu đôi dòng về tác giả của những bản
dịch được đăng trên Tạp chí Thanh Nghị. Chốc đã bảy chục năm trời, tác
phẩm tưởng như đã mất nhưng chúng tôi may mắn tìm được khá đầy đủ
nhờ công cuộc số hóa Tạp chí Thanh Nghị của Viện Viễn Đông Bác Cổ
(Cộng hòa Pháp) tại Việt Nam. Một điều trùng hợp là, cụ Nguyễn Trọng
Phấn, có lẽ, là thành viên người Việt Nam cuối cùng của cơ sở khoa học
này. Thọ gần 90 tuổi, gần trọn cuộc đời sống và làm việc trong thế kỷ XX,
cụ Nguyễn Trọng Phấn làm một công việc thầm lặng là dịch thuật, giảng
dạy địa lý một thời gian ngắn ở Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc) rồi
gắn bó với công tác thư viện tại ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho đến ngày nghỉ hưu nên ít
người biết đến. Thậm chí, có những cuốn sách do cụ viết ra và biên soạn
nhưng do hoàn cảnh lịch sử nên không đứng tên riêng. Duy nhất, cụ
Nguyễn Trọng Phấn - với bút danh Thiện chân, đã tuyển dịch những tư liệu
của người phương Tây viết về: Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII.
Chúng tôi, thế hệ hậu sinh chỉ làm một công việc khiêm tốn là sưu tầm
và đánh máy lại để Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII đến tay bạn đọc hôm
nay.
https://thuviensach.vn
Về nguyên tắc, chúng tôi tôn trọng tuyệt đối văn bản tác phẩm. Chúng
tôi chỉ chỉnh sửa những quy tắc chính tả cho đúng với quy định xuất bản
hiện hành. Một số chỗ, do nguyên bản mờ chữ, hoặc mất trang, chúng tôi
đều có chú thích rõ ràng. Phần mất trang trong bài “Nền thương mại của xứ
Đàng Ngoài ở đầu thế kỷ thứ XVII”, dù đã cố gắng liên hệ với một số nhà
sưu tầm báo chí từ Bắc tới Nam, nhưng chúng tôi vẫn chưa có may mắn để
tìm được, ngõ hầu bổ khuyết cho văn bản được hoàn thiện. Mong rằng, sau
khi cuốn sách ra đời, các nhà sưu tầm, nghiên cứu và bạn đọc, nếu có được
phần thiếu khuyết đó, xin chia sẻ giúp cho chúng tôi.
Một số chỗ, để giúp bạn đọc nắm rõ hơn, chúng tôi có đưa vào một vài
chú thích. Những phần chú thích của người biên soạn chúng tôi đều có ghi
cụ thể.
Do năng lực còn nhiều hạn chế, rất có thể trong quá trình sưu tầm, biên
soạn và giới thiệu còn những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự chỉ
chính của bạn đọc gần xa.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này cùng bạn đọc!
Nhóm sưu tầm
Kiều Mai Sơn - Nguyễn Mạnh Sơn - Nguyễn Trung Thành
https://thuviensach.vn
LỜI TÒA SOẠN
Ý định chúng tôi là làm cho nhiều người chú ý đến sự tiến hóa của dân
tộc Việt Nam và thu nhặt tài liệu để tả sự tiến hóa ấy. Những bài sau đây
chỉ là một công việc bắt đầu: chúng tôi chọn và dịch những đoạn sách cổ
ghi chép việc thực tế đời sống của dân ta ngày xưa. Phê bình những sử liệu
ấy là công việc sau đây sẽ làm. Từ cuối thế kỷ XVI, người Âu châu đã sang
ta và biên thuật về xã hội ta rất nhiều, bằng các thứ tiếng La Tinh, Pháp,
Anh, Đức, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha và Hòa Lan. Muốn chép sử ta một cách
đầy đủ, chắc chắn không những phải dùng hết tài liệu đó mà còn phải
nghiên cứu các sách vở của người Miên, Lào, Chiêm, Thái, Thổ, Mường
mà nhất là những sách chữ Nho, chữ Nôm mà càng ngày càng ít người đọc
và hiểu được một cách chu đáo. Công việc đó quá sức một người hay một
bọn ít người; vậy chúng tôi rất hoan nghênh sự hợp tác của mọi người Nho học hay Tây học - cùng theo đuổi với chúng tôi một mục đích là “làm
sống lại” những đoạn Nam sử hiện nay nhiều người đương sao nhãng.
Tạp chí Thanh Nghị 12
https://thuviensach.vn
I. ALEXANDRE DE RHODES
Cố Alexandre de Rhodes (1591 - 1660) tới Trung kỳ năm 1624. Tháng
Ba năm 1627 được cử ra lập giáo đoàn tại Bắc kỳ; tháng Năm năm 1630 thì
bị chúa Trịnh Tráng đuổi ra khỏi xứ Bắc. Cố quay về Trung kỳ rồi sang Áo
Môn (Ma Cao bên Tàu), đầu tháng Hai năm 1639 lại trở về Trung kỳ.
Nhưng mấy năm sau chúa Nguyễn, Công Thượng vương[1], cấm đạo, cố bị
bắt và bị kết án tử hình, nhưng không bị chém chỉ bị trục xuất ra khỏi xứ
(tháng Bảy năm 1645). Quyển Histoire du Royaume de Tunquin trích dịch
sau đây xuất bản năm 1651 tại Lyon (Pháp) bằng tiếng Pháp.
Lễ tịch điền về đời Lê [2]
Nội các tục được dân thành tâm theo ở Bắc có một tục chính là tục hàng
năm vào hồi đầu xuân thì theo để khai đất và để khởi đầu việc cày bừa một
cách long trọng. Cứ đầu năm, tức là vào khoảng giữa hai tiết đông chí và
xuân phân - theo như lối ta tính thì vào tuần trăng non vào gần ngày mồng
năm tháng Hai dương lịch nhất, đến ngày các nhà toán số đã chọn, thường
thường vào mồng ba Tết, thì mọi người có chức vụ, hay tước vị trong nghề
võ hay văn, đều phải mặc lễ phục, đeo ấn thụ vào cung để hộ tống vua ngự
giá qua kinh thành ra tới vùng nhà quê, theo nghi tiết tôi sẽ tả theo đây.
Quân lính gọi ở khắp trong nước về, dân đi trước có thứ tự và rất đông,
vì họ đến mấy nghìn người, người nào cũng đeo khí giới của đội mình,
người thì cung tên, người thì thương, giáo hay súng. Theo sau là các tướng
và tất cả những người quý phái, tùy theo chức phận, một phần cưỡi ngựa,
một phần cưỡi voi; ngựa và voi có tới hơn ba trăm con, đều đóng yên phủ
bành sang trọng, đã dạy dỗ thuần thục.
https://thuviensach.vn
Đại tướng thống lĩnh quân đội và là phó vương cầm quyền trị nước, hiệu
là chúa Thanh Đô vương[3] đi sau cùng bọn quý tộc, ngồi trên một chiếc xe
thấp thếp vàng, theo sau có một con voi đóng bành lộng lẫy có người dắt,
khi nào chúa thích thì lại cưỡi và điều khiển đủ mọi lối khiến cho dân
chúng vui thích ngắm nhìn tỏ vẻ kính cẩn và thán phục.
Đi bộ theo sau là một số đông vô kể, những ông nghè, ông cử, ông tú
mặc áo dải lụa hay gấm vóc màu tím thâm, mỗi người có thẻ bài chỉ rõ
chức vụ và phẩm trật của mình,
Sau cùng đến đức vua, ngồi trên một chiếc kiệu chói lọi phủ một tấm
rèm quý giá thêu kim tuyến và màu xanh, màu ấy là màu riêng vua mới
được dùng.
Theo hàng thứ và nghi trượng như thế, đức vua ra khỏi hoàng cung vẫn
gọi là Đền, chu vi rộng bằng một tỉnh lớn, rồi qua những phố chính kinh
thành, thường gọi là Kẻ Chợ, mà chảy đến một nơi đồng rộng cách kinh
thành chừng gần một dặm; ở đó các quan đi hộ giá đến từ trước và dân
chúng đã đợi sẵn để đón vua. Đến nơi đức vua xuống kiệu và sau khi đã
khấn nguyện và rót rượu tế trời. Ngài thân cầm lấy cán một chiếc cày có vẽ
màu và chạm trổ rất đẹp, cày đất vài phút và mở một luống trong cánh
đồng, để dạy cho dân chúng biết rằng từ đây phải làm lụng, bỏ sự an nhàn
và chăm nom đồng áng.
Đức vua cày xong rồi, thì chúa Trịnh là người quản trị nước có thế lực
rất lớn và có uy quyền trên hết cả thần dân, tiến đến gần, vái vua, mình cúi
rạp xuống tận đất. Rồi các hoàng thân, các võ tướng và các quan cũng làm
như vậy; sau cùng thì đến lính và cả quần dân quỳ xuống mà tung hô vua.
Hàng năm về đầu xuân, đó là sự tôn kính, sự báo ơn long trọng nhất của
thần dân đối với vua.
(Chương III, trang 11 -13)
Đất kinh kỳ về đầu thế kỷ XVII
https://thuviensach.vn
Điều làm cho vua xứ Bắc có thế lực khiến các vua lân cận khiếp sợ, là số
dân đông vô kể ở bảy trấn dưới quyền vua cai trị, cứ xem số người thường
ở Kẻ Chợ là nơi vua lập triều đình thì đủ biết. Tuy rằng kinh kỳ dài hơn sáu
nghìn bộ[4], ngang cũng chừng bấy nhiêu, phố xá rộng rãi, mười hay mười
hai cỗ ngựa có thể ung dung đi ngang nhau được, thế mà mỗi tháng hai kỳ vào rằm, mồng một là ngày dân nghỉ lễ - ta thấy trong tỉnh đông người qua
lại khắp mọi phố đến nỗi đi ngả nào cũng thấy vướng. Thành thử người nào
cũng bị xô đẩy, bị cản, bắt buộc mất nhiều thì giờ mà chả đi được mấy
bước đường.
Do đấy và căn cứ vào vài điều phỏng đoán khác, người ta thường ước
dân số kinh kỳ được một triệu người. Không kể những điều khác, lại còn
một điều này làm cho ta thấy số dân rất đông sống ở đây.
Người Bắc có tục ăn trầu là thứ có lợi cho sức khỏe và có vị ngon, bao
giờ họ cũng giắt theo vào thắt lưng một giỏ con hay một bao đầy trầu cau,
ra đường gặp bạn bè thì mở ra, rồi sau khi đã chào nhau rất lễ phép, mọi
người nhận lấy một miếng trầu têm sẵn của người kia mà ăn. Vì thế trong
tỉnh kẻ nào hơi khá giả thì sai đầy tớ sửa sắm thứ quà nhỏ ấy, đem biếu lẫn
nhau để tỏ tình thân mật; nhưng còn thường dân vẫn ăn trầu mà không có
kẻ hầu têm sẵn ở nhà, thì đã có tới năm vạn hàng bán trầu lẻ rải rác khắp
kinh thành. Vậy có thể kết luận rằng số người mua đông không thể tính xuể
được.
(Chương VII, trang 25 - 27)
Nhân dân và thuế má
... Trừ những người được nhà vua miễn sưu còn thi trai tráng từ mười
chín đến sáu mươi tuổi đều phải đóng thuế. Chỉ có khác là dân ba tỉnh vẫn
trung thành với nhà vua và xưa không theo giặc, thì đóng một số tiền đem
đổi sang tiền ta vào độ hai đồng, mỗi đồng ăn sáu mươi xu (deux escus de
soixante sols pièce); còn dân bốn tỉnh đã bỏ vua theo giặc thì mỗi người
phải đóng nhiều gấp bốn, ấy là không kể mấy thứ thuế vua đặt ra để trừng
https://thuviensach.vn
phạt sự phiến loạn của họ. Ngoài thứ thuế thân này là thứ bọn phu thu nhẫn
tâm bắt nộp không trừ một li, không phân biệt kẻ nghèo, người giàu, người
có của hay kẻ chỉ làm lụng để độ thần[5], còn một thứ thuế nữa nhẹ hơn,
đánh theo thổ sản, có tính cách một tặng vật do dân tự ý đem cống hiến nhà
vua hơn là một thứ thuế thật, tuy rằng đến vụ thu, mỗi năm ba bốn lần, chả
một ai dám tránh. Vụ thứ nhất thu vào cuối năm hay đâu năm như biếu Tết.
Vụ thứ hai vào khi vua làm lễ “Vạn thọ” (sinh nhật), Vụ thứ ba vào ngày
húy (giỗ) tiên vương. Vụ thứ tư vào hồi có gạo quả mới. Vì các vật cung
tiến này không thu ngặt như thuế thân nên dân mỗi tỉnh, mỗi làng góp của
nhau vào chung, rồi cử người xứng đáng nhất thay mặt đem tiến vua.
Hầu khắp những tỉnh, những xả trong nước - nhiều không sao kể xiết
được - nộp thuế thẳng cho vua hay cho người thay mặt vua đứng ra thu,
nhưng cũng có nhiều nơi nộp cho các vương hầu tướng tá và binh lính hay
cho những người vua xét ra đáng thưởng và đã cấp cho vài nơi để hưởng
thuế lợi, hoặc là để khen tài đức họ, thưởng công họ, hoặc là để lập thái ấp
lúc họ mới sinh hoặc là để cấp dụng vào chức vụ đã giao cho họ, hoặc để
ban thưởng việc gì khác: theo lệ trong nước thì quyền lợi vua đã ban cho
một người, con cái hay kẻ thừa kế không được thưởng nếu nhà vua không
bằng lòng cho lại. Mà ngay khi người ấy còn sống, vua cũng còn quyền thu
lại của đã ban cho, như thỉnh thoảng ta đã thấy; tuy nhiên, chỉ khi nào để
trừng phạt một tội lỗi gì nặng thì vua mới dùng tới cách nghiêm ngặt ấy.
(Chương VIII, trang 28 - 30)
Quân lính và tướng tá
Đức vua đã ban thành thị cho các tướng tá để đền công về những nỗi vất
vả của họ, thì ngài cũng cấp vài nơi cho những lính xuất sắc để họ có lương
ăn và để thưởng lòng anh dũng của họ: có khác là ngài thường cấp nhiều
nơi cho một viên tướng mà chỉ cấp một nơi cho nhiều tên lính; thành thử
một thị trấn không to tát gì nhiều khi cũng nuôi đủ binh lính cả một chiếc
https://thuviensach.vn
chiến thuyền; ở nơi đã cấp cho mình, bọn lính có quyền thu thuế dân vẫn
nộp cho nhà vua.
Còn như đối với hạng lính không được trọng đãi như thế thì thường
thường, các tướng thay mặt vua trả lương cho họ; một phần cũng vì những
khoản chi phí ấy và để nuôi một số lính, nên vua mới cấp cho những viên
tướng nhiều thị trấn để lấy thuế. Bởi vậy nên khi không có chiến tranh hay
không phải luyện tập, lính ăn lương của tướng hoàn toàn để tướng sai khiến
bắt hầu hạ mình làm công việc phu phen hay làm mọi việc công ích, như
đóng thuyền, hàn thuyền, xây sửa cầu cống và những việc tương tự như thế,
thành thử chả lúc nào họ nhàn rỗi và không có việc làm.
Những tướng tá lưu trú ở kinh sáng nào cũng phải vào hầu vua và dự vào
buổi chầu ngài thiết ở cung để cho dân chúng có nguyện vọng gì thì dâng
lên; khi đi chầu tướng nào cũng có một ít bộ hạ đi dàn trước, có thứ tự, có
khí giới và mặc áo choàng màu tím thẫm; khi về, lính lại hộ vệ đến tận nhà.
Được phục dịch tướng như thế là một việc vinh dự, quân cắt phiên nhau mà
làm.
Khi vua ra ngoài điện hoặc để dạo chơi về thừa lâu[6] tại vùng thôn quê,
hoặc để thử chiến thuyền mới sai đóng, hoặc để xem quân lính mỗi tháng
hai kỳ tập bắn hay đánh vật, vì các tướng có mặt tại triều đi tùy giá, nên
quân lính bao giờ cũng dự rất đông, bảnh bao trong những bộ áo hiệu như
họ thường mặc để đi dàn trước long giá khiến cho nghi trượng có vẻ lộng
lẫy.
Mỗi khi vua ngự về vùng thôn quê như kể trên đây, không những chỉ có
toán bộ binh uy phong này đi trước hộ giá mà thôi, lại còn có cả một đội kỵ
mã đã chọn lọc và hơn một trăm cỗ tượng mình phủ gấm vóc trên có các
vương phi, công chúa và bọn nữ tỳ ngồi thảnh thơi trong những chiếc bành
thấp đóng chắc vào lưng voi, voi khỏe có thể mang tới sáu người trong
bành, ấy là chưa kể tên quản tượng cưỡi trên cổ.
Vì thế khi vua ra chứng kiến những cuộc tập binh hay đánh vật, quân
lính được khuyến lệ vô cùng vì ngoài đức vua họ còn có số khán giả mỹ lệ,
https://thuviensach.vn
cao quý kia để tán thưởng sự khéo léo và giỏi giang của họ.
Về việc đánh vật có điều này tôi không thể bỏ qua được: bên nào đã bị
bên địch nhanh tay hay lấy sức đánh ngã xuống đất cũng chưa kể là thua,
tuy bụng hay sườn đã chạm xuống đất, có bị vật ngã ngửa vai sát đất thì
mới thua hẳn.
(Chương IX, trang 31 -33)
Lễ tuyên thệ của binh lính
Tôi không thấy có gì đáng khen và lạ bằng sự quân lính xứ Bắc đông như
thế, đặt dưới quyền lắm tướng như thế, hay hội họp canh gác, xếp hàng ngũ
hoặc ở điện nhà vua hoặc ở vùng thôn quê luôn như thế, mà cả giữa những
bữa khao, nhà vua và các tướng ban cho họ vui cũng không bao giờ ai thấy
họ cãi nhau, nói khích nhau, chửi bới khinh miệt nhau mà cũng không bao
giờ ai nghe thấy nói đến sự họ đâm chém nhau.
... Tuy ta có thể cho sự điềm đạm ấy là do ở bản tính họ vốn lành, nhưng
cũng phải nhận là một phần lớn do ở sự họ tôn kính và sùng bái vua và
tướng. Họ gọi vua là thiên tử và sùng bái vua như một đấng thiêng liêng tự
trên trời xuống để cai trị họ, vì thế trước mặt ngài, không bao giờ họ làm gì
khiến ngài thất ý hay phải tức giận. Sự sùng bái ấy là căn bản cái tục họ
theo hàng năm như sau đây.
Vào quãng tháng Sáu nguyệt lịch[7] thường thường vào tháng Tám của ta[8]
vua ban một đạo dụ truyền cho quân tướng đúng ngày đến tuyên thệ tỏ lòng
trung thành với vua... Ở các công trường, ở các ngả đường chính trong kinh
thành người ta thiết lập những hương án bầy biện trang hoàng vẫn để thờ
thần: Ở chính giữa hương án, đã biên lời thề bằng chữ to, họ đứng dưới
chân hương án cũng nom rõ; hứa sẽ trung với vua và nếu sai lời thì phải
trăm nghìn thứ tai nạn... Muốn tránh sự hỗn độn vì lính đến thề rất nhiều và
lễ tuyên thệ nội trong một ngày xong, người ta đặt rất nhiều hương án, mỗi
hương án dành riêng cho mấy tướng và mấy đội lính, có một quan văn
được cử ra thay vua để làm chủ lễ và để sau khi đã tuyên thệ rồi thì phát
https://thuviensach.vn
cho mỗi tên lính một mảnh giấy chứng nhận rằng họ đã thề và đã được
nhận vào làm lính nhà vua. Tướng từng đội lên trước, long trọng thề giữ
trung với nhà vua, rồi lần lượt đến quân lính, viên chủ lễ phát cho mỗi tên
một mảnh giấy biên chữ khác nhau, tùy theo giọng nói lúc tên ấy tuyên thệ.
Ai nói tiếng to, rõ ràng, quả quyết thì được chữ minh nghĩa là “rõ” Ai nói
nhỏ, giọng đục phải chữ bất minh nghĩa “không rõ”. Còn lại nói giọng vừa
phải thì được chữ thuận nghĩa là “thường” Những mảnh giấy ấy không phải
là vô giá đâu: vì mỗi người lính, đợi lễ tất, đem giấy về cho chủ tướng.
(Ông nào thề xong về ngay) thì được chủ tướng phát cho một chiếc áo vua
ban. Ai có chữ minh thì được hạng áo tốt và dài; ai có chữ thuận thì được
áo ngắn hơn bằng vải thường; ai phải chữ bất minh thi áo vải xấu và ngắn
nữa. Thành ra suốt một năm, người ta trông áo mà biết được người lính nào
trung nghĩa, tận tâm và được yêu quý trong hàng ngũ của nhà vua,
(Chương X, trang 34 - 36j
Nền thương mại của xứ Đàng Ngoài ở đầu thế kỷ thứ XVII
Người xứ Bắc, gần như không thông thương gì với nước ngoài vì ba lẽ
chính.
Lẽ thứ nhất vì họ không biết dùng địa bàn, không thạo nghề hàng hải;
không bao giờ dám ra xa bờ hay núi quá tầm mắt, Lẽ thứ hai thuyền họ
không bền được với sóng, bão, ván thuyền không đóng đinh, không có chốt
mà chỉ có đai buộc, mỗi năm là phải thay một lần. Lẽ thứ ba là vua không
cho dân ra nước ngoài, sợ rồi quen ở lại buôn bán làm thiệt mất thuế của
vua. Nhưng hàng năm, ngài cũng phái vài chiếc thuyền buôn sang Cao
Man, Xiêm La vì hai xứ này không xa Đàng Ngoài là mấy và thuyền buôn
cứ theo ven bờ mà đi không phải ra khơi.
- Tuy nhiên không ra khỏi nước Nam, nước này gồm có Đàng Ngoài và
Đàng Trong, bọn lái buôn bản xứ nhờ có thương cảng tiện lợi và nhiều nên
buôn bán cũng lớn và lợi lãi hàng năm gấp hai, gấp ba vốn mà không phải
chịu những sự bất trắc thường gặp trên mặt bể. Thật vậy, ở dọc bờ bể nước
https://thuviensach.vn
Nam dài hơn ba trăm năm mươi dặm tây, ta đếm được hơn năm mươi
thương cảng, có nhiều sông con dồn nước về, và có thể chứa được mười,
mười hai chiếc tàu lớn, thành ra ai đi lại trên mặt bể, đêm đêm có thể rút
vào đậu trong các bến này không phải bỏ neo ở ngoài khơi và tránh được
những tai nạn không hiếm gì trên mặt biển.
Về các khách thương ngoại quốc thật ra thì từ hồi nào người Nhật Bản,
người Trung Hoa vẫn vào các bến nước Nam, mua lụa và gỗ trầm hương.
Người Trung Hoa bây giờ vẫn còn buôn bán, và đem sang những đồ sứ,
vải, và nhiều thứ hàng giải trí và xa xỉ. Người Nhật Bản trước kia đem
nhiều tiền đến để mua lụa, và đem nhiều thứ kiếm và các khí giới khác đến
bán, đã hai mươi nhăm năm nay không lai vãng nữa, vì được tin rằng tuy đã
có lệnh cấm đạo Gia-tô ở Nhật Bản từ năm 1614, trong gần 10 năm trời
người Nhật theo đạo mỗi năm vào mùa...[9] và ba bốn lần vào các dịp khác,
vẫn lấy cớ là đi buôn rồi dùng hàng ba bốn chiếc tàu sang nước (... ) [10]
https://thuviensach.vn
II. CRISTOFORO BORRI
Cố Cristoforo Borri (1585 - 1632) là một cố đạo người Ý sang Trung kỳ
vào khoảng 1618 - 1621 (?); đến 1623 thì qua Goa[11] về Âu châu.
Quyển Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di
Giesu al Regno della Cocincina, xuất bản ở Rome bằng tiếng Ý năm 1631
là quyển sách in đầu tiên của Âu châu nói về Trung kỳ. Sách có dịch ra
tiếng Pháp (bản của cố Antoine de la Croix in ở Lille năm 1631), tiếng Hòa
Lan, La Tinh, Đức, Anh. Tạp chí Revue Indochinoise, năm 1908, có đem
đăng lại bản dịch của cố Antoine de la Croix (chúng tôi cũng dịch đăng
theo bản này).
Sách có hai phần. Phần trên nói về vị trí, khí hậu, thổ sản, tài nguyên,
chính trị, thương mại của xứ Trung kỳ; dưới nói về việc truyền giáo.
Xin nhắc lại là chúng tôi chỉ mới trích dịch[12] chưa phê bình chọn lọc.
Tính tình người Trung kỳ
Người Trung kỳ không khác người Trung Hoa về màu da mặt, và người
nào cũng sắc xanh nhạt, đây là nói những người ở gần bể, bởi vì những
người ở tận trong đất liền cho tới đất xứ Bắc kỳ cũng trắng như người Âu
châu.
Ngoài nét mặt, họ còn giống người Trung Hoa vì mũi tẹt, mắt nhỏ; về
vóc người thì họ tầm thước: tôi muốn nói là họ không nhỏ bé như người
Nhật Bản mà cũng không cao như người Trung Hoa. Nhưng về sức lực và
dáng người thì họ vượt trên người Trung Hoa và người Nhật Bản; về can
đảm và tài năng, họ đứng trước người Trung Hoa, nhưng người Nhật Bản
https://thuviensach.vn
hơn họ về một chỗ là khinh sự sống trong những lúc gian nguy và chiến
trận, vì không kể gì đến thân mình, người Nhật không sợ chết bất cứ bằng
cách nào.
Người Trung kỳ hiền lành và có lễ độ trong lúc nói chuyện hơn các dân
tộc khác ở Đông phương và họ coi sự giận dữ là một điều ô nhục tuy họ rất
tự cao. Các dân tộc Đông phương coi người Âu châu như những quân phàm
tục và tự nhiên kinh sợ ta đến nỗi khi thuyền ta ghé vào đất họ, họ trốn
tránh cả. Ở Trung kỳ thì trái hẳn lại: Dân Trung kỳ tranh nhau đến gần ta,
hỏi ta hàng nghìn câu, mời ta ăn với họ; nói tóm lại, đối với ta, họ dùng đủ
mọi điều lịch sự, nhã nhặn, thân mật. Tôi và các bạn đồng hành đã thấy như
thế khi chúng tôi mới vào xứ này lần đầu và người ta có thể nói là chúng tôi
đến giữa các bạn rất thân, biết nhau đã từ lâu...
Vì bản tính họ rộng rãi và phong tục dễ dàng nên họ ở với nhau rất có
hòa khí, cư xử với nhau ngay thực và chân thành như anh em ruột cùng
sống, cùng ở trong một nhà tuy họ chưa gặp nhau và biết nhau bao giờ. Và
họ coi là một người đê hèn, nếu kẻ nào giữ lấy ăn một mình một thức gì dù
bé nhỏ vụn vặt đến đâu mà không đem chia cho kẻ khác mỗi người một
phần. Họ có thảo tầm hay bố thí cho kẻ nghèo, chẳng bao giờ từ chối làm
phúc cho ăn mày vì họ coi như đã thiếu bổn phận nếu họ không cho, và lẽ
công bằng bắt buộc họ phải giúp đỡ.
Bởi thế nên một lần có mấy người ngoại quốc bị đắm tầu bơi được vào
một thương cảng Trung kỳ, không biết thổ ngữ để có thể hỏi xin những
thức cần dùng, chỉ phải học có mỗi một tiếng: Doii, nghĩa là tôi đói. Bởi vì
khi nghe thấy mấy người ngoại quốc than như thế và đi qua cửa nhà họ kêu
đói, thì người Trung kỳ đua nhau ra ngõ, tỏ vẻ ái ngại và cho mấy người đó
ăn...
Nhưng người Trung kỳ rộng rãi và sẵn lòng cho nhanh bao nhiêu thì khi
ngó thấy cái gì là lạ và hiếm, lập tức họ ham muốn và nói ngay: Scin
mocaii (nghĩa là cho tôi xin một vật kia). Và họ coi là một điều đại bất nhã
nếu ta từ chối, không cho họ một vật, dù hiếm, dù có giá, dù ta chỉ có một
https://thuviensach.vn
bản; kẻ từ chối là một thằng bủn xỉn. Nên khi cần chỉ có thể: một là đem
giấu vật mình muốn giữ lại, hai là sẵn sàng cho kẻ đã hỏi xin.
Một khách thương Bồ Đào Nha ý chừng không thích cách hành động lạ
lùng ấy - mấy người thích cho được - và ngày nào cũng bị bực mình phải
cho những vật đẹp mà họ thấy anh ta cầm tay, một hôm có ý kiến là anh ta
cũng xử sự như họ. Định tâm thế, anh ta đến gần thuyền một chú chài
nghèo khổ, để tay lên một sọt đầy cá, nói theo tiếng bản xứ Scin mocaii
(cho tôi cái này); chú chài chẳng nói chẳng rằng cho luôn anh ta cả sọt cá.
Anh Bồ Đào Nha đem sọt cá về, không khỏi ngạc nhiên và lạ lùng về tính
hào phóng của người Trung kỳ. Thật ra thì sau này ái ngại cho chú chài,
anh ta có đem trả đúng số tiền chỗ cá ấy.
Những tiếng dùng để nói chuyện, thường dùng trong cuộc xã giao hay
dùng trong các lễ nghi cũng tựa như người Trung Hoa. Kẻ dưới rất kính cẩn
với người trên; người ngang hàng đối với nhau rất tương kính đúng mực,
chúc tụng khen ngợi nhau cũng tỉ mỉ như người Trung Hoa. Họ tôn trọng
đặc biệt các bậc lão thành: trong bất cứ việc gì, ở giai cấp nào, trong trường
hợp nào, họ cũng nhường người hơn tuổi và để tuổi già được ưu đẳng đối
với hạng thiếu niên. Vì thế có mấy ông quan, tuy đã đến thăm chúng tôi
nhiều lần ở nhà chúng tôi và đã được viên thông ngôn báo cho biết rằng có
ông Cụ Đạo nhiều tuổi hơn chúng tôi nhưng không phải là bề trên chúng
tôi, mấy vị quan ấy vẫn không khỏi đến chào ông Cụ Đạo trước, rồi mới
chào vị bề trên ít tuổi hơn. Trong các nhà của người Trung kỳ ngồi chơi có
ba cách. Cách thứ nhất, thường nhất, ở trên chiếc chiếu trải trên nền đất để
tiếp những người cùng bằng vai. Cách thứ hai ở trên những dây hay chạc...
 





