Viet Nam 19201945 Cach mang va phan cach mang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:59' 20-08-2025
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:59' 20-08-2025
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Table of Contents
Mục lục
TIỂU SỬ NGÔ VĂN:
Mục Lục:
LỜI PHÀM BIỆT:
THAY LỜI TỰA:
PHẦN THỨ NHẤT - NGỌN LỬA ẤP Ủ GIỚI TRÍ THỨC 1920
-1929 CHƯƠNG I
CHƯƠNG I (tt):
CHƯƠNG II
CHƯƠNG II (tt)
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
PHẦN THỨ BA -CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN DIỄN ĐÀN
CÔNG KHAI 1933-1939 CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
PHẦN THỨ TƯ - DƯỚI ÁCH NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG 19401945 CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XVIII
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
PHẦN THỨ NĂM - CÁCH MẠNG HAY PHẢN CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM NĂM 1945 CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXI (tt):
CHƯƠNG XXII
RỒI HIỆN BÂY GIỜ ?:
NHỮNG MẨU ĐỜI
NHỮNG MẨU ĐỜI (2):
NHỮNG MẨU ĐỜI (3):
NHỮNG MẨU ĐỜI (4):
Và những người bạn của tôi
https://thuviensach.vn
Mục lục
TIỂU SỬ NGÔ VĂN:
Mục Lục:
LỜI PHÀM BIỆT:
THAY LỜI TỰA:
PHẦN THỨ NHẤT - NGỌN LỬA ẤP Ủ GIỚI TRÍ THỨC 1920 -1929 CHƯƠNG I
CHƯƠNG I (tt):
CHƯƠNG II
CHƯƠNG II (tt)
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
PHẦN THỨ BA -CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN DIỄN ĐÀN CÔNG KHAI 19331939 CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
PHẦN THỨ TƯ - DƯỚI ÁCH NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG 1940-1945 CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
PHẦN THỨ NĂM - CÁCH MẠNG HAY PHẢN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM
1945 CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXI (tt):
CHƯƠNG XXII
RỒI HIỆN BÂY GIỜ ?:
NHỮNG MẨU ĐỜI
NHỮNG MẨU ĐỜI (2):
NHỮNG MẨU ĐỜI (3):
NHỮNG MẨU ĐỜI (4):
Và những người bạn của tôi
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM 1920-1945: CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG
Ngô Văn
www.dtv-ebook.com
TIỂU SỬ NGÔ VĂN:
Nom de naissance: Ngô Văn Xuyết
Naissance: 1913. Indochine
Décès: 1er janvier 2005. France
Pays de résidence: Viêt Nam, France
Profession:ouvrier, écrivain
Ngô Văn, né en 1913 près de Saigon et mort à Paris le 1er janvier
2005[1], de son nom complet Ngô Văn Xuyết, était un écrivain communiste
vietnamien. (Quatrième Internationale)
Militant anticolonialiste et communiste internationaliste, il fut
pourchassé par le pouvoir colonial puis par le pouvoir stalinien. Né dans le
village de Tan Lo, près de Saigon, Ngô Văn participa, à partir des années
1920, à la lutte anticoloniale dans les rangs du mouvement trotskiste, qui,
contrairement aux staliniens dirigés depuis Moscou par Ho chi Minh,
accordait plus d'importance au combat de classe qu'au combat nationaliste.
Après 1945, les trotskistes vietnamiens, qui avaient acquis une certaine
importance, furent massacrés par les staliniens.
Ngô Văn a décrit le Viêt Nam de sa jeunesse dans Viêt Nam 1920-1945.
Révolution et contre-révolution sous le domination coloniale, et a relaté sa
vie militante et mouvementée en Indochine dans Au pays de la cloche fêlée,
tribulations d'un Cochinchinois à l'époque coloniale. Il y évoque son
enfance, ses activités de militants et sa rencontre avec Nguyễn An Ninh,
https://thuviensach.vn
comme lui militant anticolonialiste et créateur du journal La Cloche fêlée
qui parut de 1923 à 1926 à Saigon, et dont le titre évoquait le poème de
Baudelaire sur le mal-être.
Réfugié en France en 1948, il devient ouvrier électricien chez Simca à
Nanterre, puis connaît diverses tribulations qu'il conte dans Au pays
d'Héloïse, avant de travailler comme technicien chez Jeumont-Schneider,
tout en écrivant et en militant avec Maximilien Rubel au sein du Groupe
Communiste de Conseils et à Informations et correspondances ouvrières,
puis à Échanges et mouvement.
Ngô Văn est diplômé de l'École des hautes études et est docteur en
histoire des religions.
NGÔ VĂN
1913-2005
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ngô Văn
https://thuviensach.vn
Sinh năm: 1913. Tân Lộ, gần Sài Gòn
Mất 1 tháng 1 năm 2005, Paris, Pháp
Dân tộc: Kinh
Nghề nghiệp nhà văn, nhà hoạt động chính trị.
Website: http://chatquipeche.free.fr/
Ngô Văn Xuyết 1913-1 tháng 1 năm 2005 hay còn gọi dưới bí danh là
Ngô Văn, trước 1948 ông là một trong những nhà Cách Mạng Trotskyist
người Việt trong Phong Trào Đệ Tứ Quốc Tế ở Việt Nam nói riêng và trong
phong trào cộng sản tại Đông Dương nói chung. Ngô Văn còn được biết
đến là một nhà văn Việt Nam Trotskyist tại Pháp với nhiều tác phẩm về lịch
sử phong trào cách mạng Việt Nam trước 1945( 1). Khi Việt Minh đàn áp
phong trào Đệ Tứ, cuối cùng sau năm 1948 thì ông đã lưu vong sang Pháp,
ở đây ông tiếp tục viết về cuộc đời mình và phong trào cách mạng mà thời
trẻ ông tham gia và hoạt động ( 2),( 3)
Trong thời gian ở bên Pháp, Ngô Văn đã trở thành một người xu hướng
Mác-xít tuyệt đối tự do (libertarian marxist), thậm chí còn tốt hơn so với
những người vô chính phủ cộng sản bình thường và ''cổ điển'' (anarchocommunist)...
Ông là mộtngười cấp tiến độc lập trong các truyền thống chủ nghĩa cộng
sản hội đồng công nhân cách mạng (council-communism), và đồng thời
Ngô Văn có những quan hệ thân thiện với nhiều nhà cách mạng nổi tiếng
như Maximilien Rubel, Henri Simon,Claude Lefortv.v...( 4) trong nhóm
Socialisme ou Barbarie, ICO (Informations correspondance ouvrièrs),
Échanges et mouvement, và cũng đã từng hợp tác với những người thuộc
nhóm Quốc Tế Tình Huống (Situationist International) như Guy Debord và
đặc biệt là Ken Knabb.( 5)
https://thuviensach.vn
Sinh trưởng và hoạt động cách mạng
Ngô Văn Xuyết sinh năm 1913 ở Tân Lộ, một nơi gần Sài Gòn. Năm 14
tuổi ông đã rời làng của mình vào Sài Gòn để làm việc ở một nhà máy sắt
thép và vừa đi học. Ở Sài Gòn, ông đã bắt đầu tham gia phong trào công
nhân như đình công và biểu tình chống lại thực dân Pháp, các phong trào
biểu tình đòi tự do hội họp, thành lập báo chí, giáo dục và tự do đi lại. Các
phong trào này thường bị thực dân Pháp đàn áp rất ác liệt và những người
lãnh đạo phong trào thường bị đày ra Côn Đảo.
Bởi vì tham gia các phong trào trên nên ông đã bị buộc thôi học tại
trường. Nhưng do sử dụng tên giả nên Ngô Văn hay lui vào thư viện Sài
Gòn, ở đó ông đã bắt đầu tiếp xúc với các sách vở và tài liệu chủ nghĩa
Marx. Cũng chính nơi này ông đã bắt đầu gặp gỡ và tham gia vào các nhóm
Trotkyist ở Sài Gòn và giao lưu quen biết với các thành viên của đảng cộng
sản Đông Dương. Quan điểm Ngô Văn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của
phong trào công nhân chứ không phải trên tinh thần dân tộc như Nguyễn ái
Quốc.
Ở Sài Gòn, các nhóm Trotskyist và Stalinist đã hợp tác với nhau trong
ba năm (1933-1936), cả hai phe đã thống nhất với nhau trên một mặt trận là
tờ báo pháp lý La Lutte bằng tiếng Pháp, do luật của thực dân Pháp lúc đó
là cấm xuất bản các ấn phẩm báo chí bằng tiếng Quốc Ngữ. Sau đó những
ứng cử viên phong trào Đệ Tứ ở Việt Nam đã được bầu vào Hội Đồng
Thành Phố, đây là một trong những thắng lợi lớn lao của phong trào Đệ Tứ
ở Việt Nam lúc bấy giờ. Nhưng sau khi chính phủ Pháp ký với lãnh đạo
Stalin của Liên Sô vào tháng 5.1935. Thì người Pháp và đảng cộng sản
Pháp đã không ủng hộ cho phong trào giải phóng thuộc địa ở Đông Dương
nữa. Vào lúc này Nhóm Tháng Mười đang được Hồ Hữu Tường lãnh đạo.
Ngô Văn và một số đồng chí khác của mình đã thành lập ''Liên đoàn quốc
tế cộng sản'' của Phong Trào Đệ Tứ Quốc Tế. Khi nhiều thành viên
https://thuviensach.vn
Trotskyist vẫn đang tham gia La Lutte, thì Ngô Văn đã âm thầm tách riêng
ra thành lập nhóm mới của mình.
Ngô Văn đã tổ chức một cuộc biểu tình đòi tăng lương ở nhà máy mình
làm việc cùng với các công nhân trong xưởng. Theo luật của thực dân Pháp
thời bấy giờ thì tụ tập quá 19 người là phạm pháp nên thực dân Pháp đã ra
tay đàn áp, nhiều bạn bè của Ngô Văn bị bắt và tra tấn, nhưng lần đó Ngô
Văn đã thoát được dù là người phát ngôn chính.
Tù nhân và lưu đày
Vào năm 24 tuổi, Ngô Văn bị bắt giữ trong kho của một nhà máy, tại nơi
này ông đã giấu rất nhiều tài liệu cách mạng từ nước ngoài ở dưới lòng đất
và cũng là nơi ông cùng các đồng chí của mình thảo luận kế sách chống
thực dân Pháp. Ngô Văn đã bị giam và tra tấn trong Khám Lớn Sài Gòn. Ở
đây nhiều thành viên Trotskyist và Stalinist bị giam chung với nhau, hai bên
luôn đề phòng nhau. Nhưng để tránh gây sơ hở với kẻ thù chung là thực dân
Pháp, ông đã cùng mọi người tham gia tuyệt thực để đòi những quyền lợi
cho tù nhân chính trị.
Vào năm 1937 nhận chỉ thị từ Moscow, những thành viên thuộc phe
Stalinist trong tờ báo La Lutte đã tách ra và công kích những người
Trotskyist là thông đồng với phát xít.
Ngô Văn và các đồng chí của ông đã nhiều lần bị ngồi tù và tra tấn rồi
lại được thả ra. Đã có lần ông bị bắt giam tám tháng chỉ vì một bức thư giới
thiệu cuốn sách của Lev Trotsky cho người bạn, và lời hỏi thăm đến lãnh tụ
Trotskyist bấy giờ là Tạ Thu Thâu. Ông cũng đã từng bị lưu đày đến Trà
Vinh, tại một hòn đảo ở đồng bằng sông Cửu Long. Cuối năm 1940, một
cuộc nổi dậy của nông dân đã nổ ra ở các Tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Gần
6.000 người bị bắt, hơn 200 người bị hành quyết công khai, và ngàn người
khác bị chết vì bom đạn bởi chính quyền Vichy. Vào trong khoảng thời gian
này ông được phát hiện mắc bệnh lao.
https://thuviensach.vn
Tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật vào Sài Gòn và thiết quân luật ở đây.
Các lực lượng phe Đồng Minh đã ném bom Sài Gòn. Miền Bắc Việt Nam
bấy giờ bị kiểm soát bởi Việt Minh. Những người Việt Minh chủ trương
liên kết với các đảng phái khác và hợp tác với các nước Đồng Minh như là
con đường giải phóng dân tộc. Nhưng những người Trotskyist phản đối
đường lối này, xem chuyện này như là một điều ảo tưởng, và đã kêu gọi
công nhân nổi dậy chống lại sự áp bức của Đế Quốc và mọi thế lực khác.
Ngô Văn và các đồng chí của ông đã rất vui mừng và phấn khởi khi hơn
30.000 người công nhân mỏ ở Hòn Gai-Cẩm Phả đã bầu ra thành lập một
hội đồng giữa các thợ mỏ để tổ chức chiến dịch xóa mù chữ, tham gia vào
phong trào cách mạng.
Sau những cuộc càn quét của Việt Minh, ông chạy trốn khỏi Việt Nam
và sang Pháp lưu vong năm 1948. Ở Pháp ông viết sách về những gì xảy ra
từ thập niên 1920, qua giai đoạn Mặt Trận Bình Dân và Cách Mạng Tháng
Tám ở Việt Nam. Bà Hilary Horrocks ở Edinburgh, Vương Quốc Anh là
người đang dịch hồi ký của ông Ngô Văn sang tiếng Anh, cho biết tác phẩm
của ông Ngô Văn có giá trị lịch sử lớn và được viết với ngòi bút đầy hình
ảnh.( 3)
Từ khi rời khỏi Đông Dương năm 1948, nếu hy vọng và niềm tin về sự
cần thiết phải lật đổ một trật tự thế giới ti tiện không bao giờ rời khỏi Ngô
Văn, thì nó cũng nuôi dưỡng trong Ngô Văn những suy nghĩ mới về chủ
nghĩa Bolshevik và về cách mạng.
Ngô Văn tìm thấy ở nước Pháp, trong những nhà máy và ở các nơi khác,
những người đồng minh, những người Pháp, người thuộc địa, người Tây
Ban Nha - những người sống sót khác - mà họ cùng với đảng POUM hay
những người vô chính phủ (anarchists), đã từng sống sót qua những kinh
nghiệm giống như của Ngô Văn: Đây là dấn thân vào một cuộc tranh đấu
trên hai mặt trận, chống chính quyền phản động và chống một đảng kiểu
Stalin đang giành chính quyền.
https://thuviensach.vn
Những cuộc gặp gỡ đó, một cuộc đọc lại Marx được soi sáng với những
công trình của Maximilien Rubel, phát giác phong trào hội đồng công nhân
cách mạng ở xứ Bavari năm 1919, hay cuộc thủy thủ nổi dậy ở Kronstad tại
nước Nga năm 1921, rồi cuộc hồi sinh của hội đồng công nhân trong cuộc
bạo động ở nước Hungary năm 1956, đã đưa Ngô Văn đi tìm một viễn cảnh
cách mạng mới, đưa ông đi xa khỏi chủ nghĩa Bolsheviks-Leninismens,
trotskisme, phát triển trong ông một sự nghi hoặc tuyệt đối với tất cả những
cái gì có thể trở thành ''bộ máy''. Các đảng gọi là công nhân (đặc biệt là
đảng theo chủ nghĩa Lénine) là những mầm móng của bộ máy nhà nước về
sau. Một khi lên cầm quyền, những đảng đó trở thành hạt nhân của giai cấp
cầm quyền mới. ''Sự tồn tại của nhà nước và sự tồn tại của chế độ nô lệ là
không thể tách rời nhau'' (Karl Marx)
''Những kẻ là chủ nhân của hiện tại, tại sao không thể là chủ nhân của
quá khứ ?'' George Orwell đã viết một cách sáng suốt như vậy. Khi lịch sử
được kể theo lời lẽ của kẻ chiến thắng, che đậy và nhận chìm mọi cuộc đấu
tranh trong quá khứ dưới luận điệu xóa bỏ hết mọi toan tính, sự thật hiện tại
thì bị áp đặt như một định mệnh tất yếu. Tương lai của xã hội loài người
phải phụ thuộc vào khả năng của nhân loại giành lại cái quá khứ đó từ
những bàn tay lạnh lùng của những chủ nhân hiện tại. Nhiều tiếng nói đã bị
chìm đi: Phải cố làm cho nó sống lại, tìm lại dấu vết sống động của những
cuộc cách mạng nối tiếp nhau qua thời gian - và tìm cách dựng lại nó như
một nhân chứng qua đường.( 6)
Ông mất vào ngày 1 tháng 1 năm 2005, Ngô Văn được chôn tại nghĩa
trang Parisien d'Ivry ( 3) tại Thị Xã Ivry-sur-Seine ở Thủ Đô Paris nước
Pháp.
Tác phẩm
Vụ án Moscow, nhà xuất bản Chống Trào Lưu, Saigon, 1937 (brochure
en vietnamien dénonçant les procès de Moscou)
https://thuviensach.vn
Divination, magie et politique dans la Chine ancienne, PUF, 1976, YouFeng, 2002Revolutionaries They Could Not Break, Index
Bookcentre,Londres, 1995
Avec Maximilien Rubel, une amitié, une lutte 1954-1996,in les Amis de
Maximilien Rubel, L'insomniaque, 1997,épuisé
Viêt-nam 1920-1945, révolution et contre-révolution sous la domination
coloniale, L'insomniaque, 1996, Nautilus, 2000
Việt Nam 1920-1945, Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực
dân, Chuông Rè-L'insomniaque, 2000 (version vietnamienne du précédent)
Au Pays de la cloche fêlée, tribulations d'un Cochinchinoisà l'époque
coloniale, L'insomniaque, 2000.
Contes d'autrefois du Viêt-nam/Chuyện đời xưa xứ Việt, avec Hélène
Fleury, édition bilingue, You-Feng, 2001
Cuentos populares de Vietnam, traduit du précédent par Magali Sirera,
Octaedro, Barcelone, 2004
Memoria Escueta, de Cochinchina a Vietnam, traduction de Mercè
Artigas de Au Pays de la cloche fêlée, Octaedro, Barcelone, 2004
Utopie antique et guerre des paysans en Chine, Le Chat qui Pêche, 2004
Le Joueur de flûte et Hô chi Minh, Viêt-nam 1945-2005, ParisMéditerranée, 2005
Au Pays d'HéloIse, L'insomniaque, 2005
Tại xứ Chuông Rè, 2000
CHÚ THÍCH:
https://thuviensach.vn
1.- ''Ngo Van Xuyet, réfugié en France depuis 1948, est décédé le 1er
janvier 2005, à Paris, à l'age de 91 ans. Cet ancien trotskiste, exemple d'un
type d'ouvriers militants qu'on ne connait plus guère aujourd'hui, était né en
1913, dans le village de Tan Lo, près de Saigon.''.
2.- ''Hommes & migrations 2005 p36 ''Ngo Van, Au pays de la Cloche
fêlée. Tribulations d'un Cochinchinois à l'époque coloniale, Paris 2000.
Militant trotskyste, il échappe à la répression Viet Minh et se réfugie en
France en 1948.''.
3.- ''Người Việt Nam và cộng sản Đệ Tứ''. BBC
4.- ''Ngô Van avec Maximilien Rubel - 1954-1996 une amitié, une
lutte'' (PDF).
5.- ''Ngo Van - IN THE CROSSFIRE - Adventures of a Vietnamese
Revolutionary''.
6.- [n.pdf ''Tại Xứ Chuông rè PDF''] (PDF).
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM 1920-1945: CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG
Ngô Văn
www.dtv-ebook.com
Mục Lục:
LỜI PHÀM BIỆT
MỘT VÀI PHIÊU LỊCH SỬ
THAY LỜI TỰA
PHẦN THỨ NHẤT
NGỌN LỬA ẤP Ủ GIỚI TRÍ THỨC 1920-1929
I.- Ngũ Long tại Paris
Phan Chu Trinh, Phan Văn Tường, Nguyễn ái Quốc, Nguyễn An Ninh,
Nguyễn Thế Truyền.
II.- Sài Gòn 1924-1926: Lớp trí thức trẻ thức tỉnh, Nguyễn An Ninh và
báo La Cloche Fêlée (Chuông Rè) Alexander Varenne, phe xã hội, Toàn
Quyền Đông Dương, Phan Chu Trinh: Đạo đức và luân lý Đông Tây. Vụ án
Phan Bội Châu, tháng 11 năm 1925. Mùa xuân Sài Gòn, tháng 3-4 năm
1926. Vụ án Nguyễn An Ninh lần thứ nhất.
III.- Đợt sinh viên du học mới và những bước đầu tìm đường cách mạng
1925-1929
- Nguyễn Thế Truyền, người sáng lập Đảng An Nam Độc Lập. Trần Văn
Thạch và tờ Báo của sinh viên An Nam (Journal des Etudiants annamites).
- Tạ Thu Thâu và tờ Phục Sinh (La Résurrection). Nhóm cộng sản An
Nam, Lao động. Vụ Café Turqueti.
https://thuviensach.vn
- ''Xứ An Nam không phải là một bộ phận của nước Pháp''.
IV.- Phong trào quốc gia bí mật ở trong nước thời kỳ này:
Tân Việt Cách Mạng Đảng (1925-1929). Hội kín Nguyễn An Ninh
(1928-1929), Việt Nam Quốc Dân Đảng (1927-1930). Thanh Niên Cách
Mạng Đồng Chí Hội (1925-1930).
V.- Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, mầm mống quốc gia chủ
nghĩa của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Nguyễn ái Quốc, người sáng lập
Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Con đường Quảng Châu. Đám cháy
dữ dội ở Trung Quốc. Quốc Dân Đảng và giai cấp công nhân Trung Hoa
sau cuộc Cách Mạng Cộng Hòa 1911. Tấn bi kịch Trung Hoa. Những rắc
rối nhỏ trong tổ chức Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội.
VI.- Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội Tan Vỡ. Vụ án ở đường
Barbier (Lý Trần Quán) Sài Gòn. Quốc tế cộng sản trở ngược đường lối và
quá trình vô sản hóa của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội-Đông
Dương Cộng Sản Đảng ra đời.
PHẦN THỨ HAI
NHỮNG VỤ BÙNG NỔ 1930-1933
VII.- Cuộc bạo động Yên Bái, tháng 2 năm 1930. Cuộc biểu tình trước
Điện Elysée ngày 22 tháng 5 năm 1930.
VIII.- Đông Dương Cộng Sản tả phái đối lập chống chủ nghĩa Stalin
xuất hiện ở Pháp. Thử nghiệm đề xuất lý luận chính trị.
IX.- Phong trào nông dân 1930-1931. Ở Bắc Kỳ. Ở Nam Kỳ. Ở Trung
Kỳ. Phong trào Sô Viết nông dân Nghệ Tĩnh. Sự phân liệt trong nội bộ đảng
cộng sản Đông Dương.
https://thuviensach.vn
X.- Phái Tả Đối Lập Đông Dương ở Sài Gòn. Phái Tả Đối Lập ở Pháp,
nhóm người Đông Dương trong Liên Minh Cộng Sản (Tả Đối Lập).
XI.- Khủng hoảng kinh tế và đàn áp chính trị ở Nam Kỳ năm 19321933. Ba vụ án cộng sản năm 1933 ở Sài Gòn.
PHẦN THỨ BA
CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN DIỄN ĐÀN CÔNG KHAI 19331939
XII.- Mặt trận thống nhất Tranh Đấu (La Lutte) 1933-1935. Mặt trận
thống nhất đầu tiên ''Tranh Đấu'' (La Lutte), tháng 4 năm 1933. Tháng 8
năm 1933, phong trào hòa bình Amsterdam-Player ở Sài Gòn. 1934 ở Pháp,
nhóm phát xít bạo động và mặt trận thống nhất thứ hai, nhóm Tranh Đấu,
tháng 10 năm 1934. Năm 1935: Cuộc tuyển cử Hội Đồng Quản Hạt ở Nam
Kỳ và Hội Đồng Thành Phố ở Sài Gòn. Hiệp Ước Laval-Stalin. Phái xu
hướng Leon Lev Trotskij đối lập, hoạt động bí mật.
XIII.- Nhóm Tranh Đấu trong thời kỳ Mặt Trận Bình Dân Pháp 19361937. Mặt Trận Bình Dân Pháp và tiếng dội của nó tới Đông Dương năm
1936. Tiến tới một ''Mặt Trận Bình Dân'' trong nước, Đông Dương Đại
Hội. Các Ủy ban hành động - mầm mống Sô Viết nhân dân. Báo Chiến Sĩ
(Le Militant). Phong trào bãi công lại phát triển mạnh từ tháng 6 năm 1936.
Sắc lệnh Blum-Moutet ngày 30 tháng chạp năm 1936. Bãi công và biểu tình
năm 1937. Tổng quan.
XIV.- Cuộc đàn áp chống lại thợ thuyền và Mặt Trận Tranh Đấu tan vỡ.
Phong trào nghiệp đoàn và sự hỗn loạn về chính trị. Những bước đầu của sự
ly khai tháng 6 năm 1937. Cuộc chia rẽ. Báo Tranh Đấu, tiếng nói của Đệ
Tứ Quốc Tế. Cuộc đàn áp ập xuống không phân biệt phái theo Stalin hay
theo Lev Trotskij. Sai khi chia rẽ.
https://thuviensach.vn
XV.- Đảng Cộng Sản Đông Dương dưới bóng cờ tam sắc. ''Nước Pháp
vị đe dọa tại Đông Dương''. Tự do tương đối cho báo chí ra bằng Quốc
Ngữ. Đệ Tam và Đệ Tứ đối đầu trong cuộc tuyển cử Hội Đồng Quản
Hạttháng 4 năm 1939. Nguyễn ái Quốc chỉ thị ''thanh toán về chính trị''
những người xu hướng Lev Trotskij.
XVI.- Đàn áp và chiến tranh. Hiệp Ước Hitler-Stalin và chiến tranh.
Cuộc tranh đấu chống chiến tranh vẫn tiếp tục. Những vụ án.
PHẦN THỨ TƯ
DƯỚI ÁCH CHIẾM ĐÓNG NHẬT BẢN
XVII.- Cuộc khởi nghĩa nông dân ở Nam Kỳ. Cuộc bạo động. Cuộc đàn
áp. Ban trung ương đảng cộng sản Đông Dương không chịu trách nhiệm về
cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.
XVIII.- Chính phủ Decoux và sự chiếm đóng Nhật Bản. Cuộc sống của
thợ thuyền và dân cày. Các thủ đoạn của Pháp và Nhật. Các giáo phái chính
trị Cao Đài và Hòa Hảo.
XIX.- Việt Minh thay bộ y phục mới của đảng cộng sản Đông Dương
1941-1945. Nguyễn ái Quốc hồi phục Việt Minh. Thành lập Việt Cách do
sáng kiến của Tướng Trương Phát Khuê. Hồ chí Minh sở cậy vào OSS
(Office of Strategic Service-Cục tình báo chiến lược) của Mỹ. Hồ chí Minh
tìm thỏa hiệp với đế quốc Pháp trong ''đồng minh Pháp-Đông Dương''.
XX.- Cuộc đảo chính Nhật 9 tháng 3 năm 1945 và sau đó. Cuộc đảo
chính. Chính phủ Bảo Đại Trần Trọng Kim, tháng 4-8 năm 1945. Ở Bắc
Kỳ: Những lực lượng theo chủ nghĩa quốc gia. Ở Nam Kỳ:Các đảng phái và
giáo phái. Xu hướng Trotskij sống sót tập hợp lại.
PHẦN THỨ NĂM
https://thuviensach.vn
CÁCH MẠNG HAY PHẢN CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
XXI.- Việt Minh nắm chính quyền. Hồ chí Minh lấy chính quyền ở Hà
Nội trước khi quân Trung Hoa tới. Chế độ ''Cộng Hòa Dân Chủ'' và những
hoạt động khởi phát của công nhân và nông dân. Miền Nam ''sôi sục cách
mạng'' trước khi lực lượng Anh-Ấn tới. Ngày 21 tháng 8, cuộc biểu tình
của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ở Sài Gòn. Ngày 25 tháng 8, cuộc biểu
tình tán thành chính quyền Việt Minh. Nông dân miền Tây và chính quyền
Việt Minh. Phái Stalin điều đình với phái Charles de Gaulle và sự đề cập
đến chính quyền Việt Minh ngày 2 tháng 9. Ảo vọng Việt Minh đối với
''Đồng minh Anh'' tan vỡ. Sự bất đồng giữa Việt Minh miền Bắc và Việt
Minh miền Nam. General Sir Douglas David Gracey-Tướng Douglas
Gracey chuẩn bị cho Pháp tái chiếm Đông Dương.
XXII.- Bộ mặt của ''nước Pháp mới'' tái chinh phục thuộc địa. Sài Gòn
bạo động ngày 23 tháng 9 năm 1945. Những hành động sát nhân của phái
Stalin ở Nam Kỳ. ''Phải triệt ngay bọn Trotskyism!'' Công cuộc ''bình
định''. Ở Bắc Bộ, quân Trung Hoa chiếm đóng. Không một tiếng súng
nào!'' Từ cuộc đàm phán trò hề cho đến cuộc bạo động võ trang ngày 19
tháng chạp năm 1946.
RỒI HIỆN BÂY GIỜ
PHỤ LỤC
NHỮNG MẪU ĐỜI
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM 1920-1945: CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG
Ngô Văn
www.dtv-ebook.com
LỜI PHÀM BIỆT:
Kể từ 1887 cho đến 1954, xứ Việt Nam là bộ phận xứ Đông Dương
thuộc Pháp đô hộ, chia ra làm ba Kỳ:
Bắc Kỳ: Kinh đô Hà Nội
Trung Kỳ, Kinh đô Huế và Nam Kỳ, Kinh đô Sài Gòn
(Nay là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ).
Dân số năm 1940 độ 20 triệu người: - Bắc 9,4 - Trung 6,4 - Nam 4,8.
Dân cư 9/10 là người Việt (Kinh), ngoài ra còn có những dân tộc ít
người mà người ta ít nói đến, họ bị lấn ép vào miền rừng núi. Ở Bắc có dân
Tày, Thái, Mường, Máng, Nùng, Mèo (Hmông), Dao..., ở miền Trung có
dân Chàm, cùng các dân/tục gọi mọi Giarai, Eđê, Bana, Sođăng, Mnông,
Ma, Xtiêng ..., ở Nam có người Chàm và Khome, tục gọi người Cao-mên.
Dân tộc ít người đông nhất là Hoa kiều gồm người Tàu di cư sang Việt Nam
và người Minh Hương. ( Người Tàu di cư sang Việt Nam hai lần lớn nhất:
Lần thứ nhất triều Mãn Thanh xâm chiếm Nhà Minh, nên gọi là Minh
Hương, lần thứ hai Chủ Tịch Mao Trạch Đông nhuộm đỏ lục địa Trung
Hoa, chú thích TQP)
https://thuviensach.vn
Vương Quốc Annam do Giáo Sĩ Alexandre deRhodes họa (1653)
https://thuviensach.vn
Từ trước đến 1945, các tài liệu thông thường đều dùng hai chữ An Nam
đồng như chữ Annamite trong văn kiện Pháp. Thế nên chúng tôi vẫn giữ
nguyên văn theo các văn kiện thời ấy, hai chữ Việt Nam trở nên thông
thường kể từ 1945.
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM 1920-1945: CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG
Ngô Văn
www.dtv-ebook.com
THAY LỜI TỰA:
Kể từ Thế Kỷ XVI, bọn lái buôn và truyền giáo người xứ Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha, đã từng lui tới các ven biển Đông Dương. Sau đó thì có
những người Hà Lan, Anh quốc. Các Giáo Sĩ Ky-tô (Công Giáo) tới Nam
Kỳ vào năm 1615. Mười năm sau, Giáo Sĩ Alexandre de Rhodes chỉ dẫn
cùng họ tạo ra chữ Quốc Ngữ, lấy chữ a b c viết ra tiếng An Nam, thay thế
chữ Nôm, chữ viết hiện hành thời đó, mượn chữ Hán mà viết ra thành ra ít
người đọc nổi. Chẳng bao lâu về sau, ở Thành Rome có xuất bản quyển
Giáo Lý bằng tiếng La-tinh và Quốc Ngữ. Lẽ cố nhiên, xin nhắc lại rằng
việc phát minh chữ Quốc Ngữ sau này rất quan trọng trong việc truyền bá
văn hóa Việt vào Thế Kỷ XX.
Truyền đạo và bán buôn trục lợi - cây thánh giá hội hiệp với đòn cân - ta
có thể xem truyền giáo sĩ và lái buôn là những kẻ đi tiên phong trong cuộc
xâm chiếm thuộc địa.
https://thuviensach.vn
Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn
Thời ấy dân Việt Nam sống dưới ách đô hộ của hai gia tộc cường hào
thù nghịch nhau, cả hai đều là gian thần Vua Lê và thường cùng nhau chinh
chiến. Chúa Trịnh thống quản Bắc Kỳ (Đàng ngoài) đóng đô ở Thăng Long,
Chúa Nguyễn trị vì Trung Kỳ (Đàng trong), đóng đô ở Huế.
Phía Nam lãnh thổ Việt, Quốc Vương Chàm chạy dài tới Phan Thiết
(Bình Thuận), còn xuống thẳng tới Cà Mau thì có những đất phì nhiêu châu
thổ tam giác sông Cửu Long là xứ người Cao Mên hay Khmer.
Từ đầu Thế Kỷ XVII, Chúa Nguyễn khởi đầu xâm chiếm xứ Chàm (tới
Qui Nhơn năm 1602) rồi thôn tính toàn bộ Quốc Vương Chàm vào lối cuối
thế kỷ (tới Phan Thiết năm 1897). Một tảng đá có khắc chữ Chàm ghi nhớ
việc người Chàm bị người An Nam áp bức trên đường Nam Tiến: ''Con của
người An Nam sai khiến người Chàm như sai khiến trâu. Người An Nam
sai khiến rồi cười, bên họ có vua! còn người Chàm mồ côi...''
Đồng một lượt người Việt tiếp tục xuống miền Nam, khởi đầu khẩn
hoang, kinh doanh đồn điền, có lúc tiếp xúc hòa bình với người bản xứ, lúc
lại tác chiến xâm chiếm đất Khmer bấy giờ rất ít dân cư. Họ chiếm Bà Rịa
từ năm 1658 rồi lấy Sài Gòn, bấy giờ là Prei Nokor năm 1675 ( 1)
Năm 1673, Chúa Nguyễn vừa ký kết đình chiến với Chúa Trịnh, thừa
nhận sông Gianh, gần lối vĩ tuyến 18, là bờ cõi phân hai lãnh địa ( 2).
Trong công cuộc bành trướng lãnh thổ, Chúa Nguyễn được trợ giúp:
Một đạo binh người Tàu 3.000 người trên 50 chiếc thuyền chạy thoát quyền
đô hộ Mãn Châu tới Đà Nẵng xin lánh nạn. Chúa Nguyễn bèn tống họ đi về
phía Nam khai khẩn và chiếm đất, lúc bấy giờ Vua Khmer đã phục tùng
Chúa Nguyễn. Những người lánh nạn ấy an bài ở Biên Hòa, Gia Định, Mỹ
https://thuviensach.vn
Tho, sau cùng ở Chợ Lớn; họ bán buôn, trồng tỉa và cướp giật. Họ là thủy
tổ Hoa kiều ở Nam Kỳ.
Một số người Tàu di dân khác ở Quảng Đông tới lập nghiệp trong vùng
Hà Tiên, đó cũng vẫn là đất Khmer, sau đó họ khuếch trương lĩnh vực của
họ từ Đảo Phú Quốc tới Rạch Giá và Cà Mau. Thủ lĩnh của họ, tên phiêu
bạc Mạc Cửu chịu dưới quyền đô hộ Nhà Nguyễn vào năm 1714.
Trong nhóm di dân có tín đồ hội kín ''phản Thanh phục Minh'' cảm hóa
người đồng cảnh ngộ, hiệp nhau tạo ra bên ngoài xã hội công khai, một trật
tự xã hội kín đáo có nghi thức riêng, đây là cội rễ các phái chính trị tôn giáo
có tính chất mưu toan lật đổ đương quyền - đặc biệt như Thiên Địa Hội thù sâu chống người Âu Tây đột nhập.
Năm 1698, Nhà Nguyễn chế định Sài Gòn là đầu phủ các Tỉnh Gia Định
và Đồng Nai (Biên Hòa); năm 1733, tới lượt Long Hồ (Vĩnh Long) rồi đến
Định Tường (Mỹ Tho) đều bị chiếm. Năm 1754, một quan tổng trấn ngự tại
Sài Gòn đặt các lãnh thổ đã chiếm theo luật Nhà Nguyễn rồi người An Nam
tiếp tục thâm nhập cho tới cuối miền Nam.
Tuy nhiên các Chúa Nguyễn còn phải đương đầu cùng nhiều địch thủ
mới.
https://thuviensach.vn
Giặc Tây Sơn lật đổ Chúa Nguyễn,
Chúa Trịnh
Nông dân nổi dậy thường xuyên, làm rung động cả hai trào Chúa
Nguyễn-Trịnh.
Có ba anh em, cả ba đều thuộc hạng sĩ phu - quê quán ở Ấp Tây Sơn
(ngày nay là An Khê, Qui Nhơn), vì vậy tên gọi Tây Sơn - Nguyễn Văn
Nhạc làm Biện Lại, cùng hiệp sức với hai em là Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn
Văn Huệ, nhờ''đoạt của nhà giàu để cứu giúp người nghèo'' ( 3)mà họ
chiêu tập được ít ngàn nông dân. Ba anh em chiếm Thành Qui Nhơn năm
1773, sau đó đoạt toàn Trung Kỳ và đánh đuổi Chúa Trịnh ở Bắc Kỳ.
Họ tiến thẳng tới Gia Định năm 1776 rồi hạ sát Chúa Nguyễn đang cư
trú ở đó. Chỉ một mình Hoàng Tử Nguyễn Ánh, 16 tuổi được thoát thân.
Rồi đây Nguyễn Ánh sẽ cầu Pháp giúp để phục hồi ngôi chúa.
Tây Sơn đang làm chủ tể toàn xứ, từ Bắc Kỳ tới Nam Kỳ.
https://thuviensach.vn
Thánh giá mở đường gươm súng
Vừa tới Nam Kỳ năm 1767, Giám Mục Bá Đa Lộc-Pigneau de Behaine,
người của Hội truyền giáo ngoại bang ở Paris, bèn ra tay cứu vớt Nguyễn
Ánh lúc bấy giờ bị Tây Sơn đuổi theo, đang cùng sáu viên quan và độ trăm
người tùy tùng trung thành ẩn lánh tại cù lao Phú Quốc. Giám Mục làm
thầy và người chỉ dẫn cho Nguyễn Ánh.
Nguyễn Ánh trao trọn quyền thay mặt mình cho Giám Mục Bá Đa Lộc
khi ông này trở về Pháp hồi tháng 12 năm 1784, để yêu cầu Vua Louis XVI
trợ giúp về mặt binh bị. Giám Mục tới Paris năm 1787, chính năm thủ lĩnh
Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc xưng đế ở miền Trung, lấy niên hiệu là Thái
Đức, đóng đô tại Qui Nhơn (Bình Định), đồng thời Nhạc phong Huệ làm
vua các tỉnh ở Bắc còn Lữ ngự trị các tỉnh miền Nam.
Giám Mục tâu với Vua Louis XVI:
Ông vua chính tông ở Nam Kỳ bị một kẻ soán ngôi lật đổ, ngài sai tôi
(cùng đứa con một của ngài năm nay 16 tuổi) đến khẩn cầu vua nước Pháp
trợ giúp. Xứ Nam Kỳ giàu có lắm và hoạt động sinh sản thật phi thường.
Những vật liệu đặc dùng trong cuộc nội thương và ngoại thương là: Vàng,
hạt tiêu, quế, lụa là, bông vải, màu chàm, sắt, trà, sáp ong, ngà voi, gôm
nhựa cây nhũ hương, vernir, các thứ cây, chỉ thôm, gạo khô, cây để kiến
trúc, v.v...Tóm lại, kiến lập một cơ sở Pháp ở Nam Kỳ sẽ là phương hướng
chắc chắn của ta để trừ bì ảnh hưởng lớn lao của Anh quốc trong toàn các
thuộc địa phủ Ấn Độ.
Số tiền người ta xuất ra để kiến lập, dù sao cũng là một việc bỏ vốn thâu
lợi thật nhiều cho ảnh hưởng chính trị và thương mại mà nước Pháp sẽ
hưởng trong thời gian ngắn ngủi tới ( 4).
https://thuviensach.vn
''Vua Nam Kỳ'' và Vua xứ Pháp liền ký tờ Hiệp Ước tương trợ ngày 28
tháng 11 năm 1787 ở Thành Versailles: Pháp giúp binh thì Vua Nam Kỳ
phải nhượng lại cho Pháp hải cảng chính ở Hội An (Đà Nẵng), Đảo Poulo
Condor-Côn Sơn Pháp làm chủ, thần dân của ''Đức Vua tận tâm theo Ky-tô
Giáo được tự do hoàn toàn về thương mại trong các lãnh thổ của Đức Vua
Nam Kỳ, trừ tuyệt toàn cả các nước Âu Châu khác. Người Pháp có thể gây
dựng được những cơ sở họ xem là nhu cần cho việc hàng hải và thương mại
của họ, cùng là để bồi bổ và đóng tầu''. ( 5)
Thế thì Giám Mục Bá Đa Lộc là người tiên phong của giai cấp tư sản
Pháp trong công cuộc xâm chiếm thuộc địa. Sự nghiệp này đã được phóng
đại vào thời Đệ Nhị Đế Quốc (1852-1870) và nhất là trong thời kỳ Đệ Tam
Cộng Hòa (1870...) Pháp.
Giám Mục rời xứ Pháp vào tháng chạp 17 năm 1787, chỉ được Nhà Vua
hứa giúp thôi. Ông không nhận được trợ giúp chính thức chút nào, nhưng
ông được những người Pháp buôn bán giầu có ở Ile de France (bây giờ là
Đảo Ile de la Réunion, ở Ile de Boubon bây giờ là Đảo Ile Maurice) và ở
các cơ nghiệp Pháp ở Pondicherry. Ngày 24 tháng 7 năm 1789, Giám Mục
cập bến ở Vũng Tàu, cùng với bọn đánh giặc mướn, tốp lính đào ngũ hoặc
bị đuổi khỏi các chiến thuyền của nhà vua và ''vọng tưởng phiêu lưu phù
phiếm''. Theo sau đó, nhiều chiếc tầu Pháp khác chở khí giới và đạn dược
cùng cập bến.
Lúc bấy giờ, Nguyễn Ánh đã thu phục Sài Gòn, Vua Tây Sơn Nguyễn
Văn Lữ đã từ trần năm 1787 rồi đạo binh của ông bị bại trận và rút lui. Cần
phải chinh phục Trung Kỳ, nơi ...
Table of Contents
Mục lục
TIỂU SỬ NGÔ VĂN:
Mục Lục:
LỜI PHÀM BIỆT:
THAY LỜI TỰA:
PHẦN THỨ NHẤT - NGỌN LỬA ẤP Ủ GIỚI TRÍ THỨC 1920
-1929 CHƯƠNG I
CHƯƠNG I (tt):
CHƯƠNG II
CHƯƠNG II (tt)
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
PHẦN THỨ BA -CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN DIỄN ĐÀN
CÔNG KHAI 1933-1939 CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
PHẦN THỨ TƯ - DƯỚI ÁCH NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG 19401945 CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XVIII
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
PHẦN THỨ NĂM - CÁCH MẠNG HAY PHẢN CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM NĂM 1945 CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXI (tt):
CHƯƠNG XXII
RỒI HIỆN BÂY GIỜ ?:
NHỮNG MẨU ĐỜI
NHỮNG MẨU ĐỜI (2):
NHỮNG MẨU ĐỜI (3):
NHỮNG MẨU ĐỜI (4):
Và những người bạn của tôi
https://thuviensach.vn
Mục lục
TIỂU SỬ NGÔ VĂN:
Mục Lục:
LỜI PHÀM BIỆT:
THAY LỜI TỰA:
PHẦN THỨ NHẤT - NGỌN LỬA ẤP Ủ GIỚI TRÍ THỨC 1920 -1929 CHƯƠNG I
CHƯƠNG I (tt):
CHƯƠNG II
CHƯƠNG II (tt)
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
PHẦN THỨ BA -CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN DIỄN ĐÀN CÔNG KHAI 19331939 CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
PHẦN THỨ TƯ - DƯỚI ÁCH NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG 1940-1945 CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
PHẦN THỨ NĂM - CÁCH MẠNG HAY PHẢN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM
1945 CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXI (tt):
CHƯƠNG XXII
RỒI HIỆN BÂY GIỜ ?:
NHỮNG MẨU ĐỜI
NHỮNG MẨU ĐỜI (2):
NHỮNG MẨU ĐỜI (3):
NHỮNG MẨU ĐỜI (4):
Và những người bạn của tôi
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM 1920-1945: CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG
Ngô Văn
www.dtv-ebook.com
TIỂU SỬ NGÔ VĂN:
Nom de naissance: Ngô Văn Xuyết
Naissance: 1913. Indochine
Décès: 1er janvier 2005. France
Pays de résidence: Viêt Nam, France
Profession:ouvrier, écrivain
Ngô Văn, né en 1913 près de Saigon et mort à Paris le 1er janvier
2005[1], de son nom complet Ngô Văn Xuyết, était un écrivain communiste
vietnamien. (Quatrième Internationale)
Militant anticolonialiste et communiste internationaliste, il fut
pourchassé par le pouvoir colonial puis par le pouvoir stalinien. Né dans le
village de Tan Lo, près de Saigon, Ngô Văn participa, à partir des années
1920, à la lutte anticoloniale dans les rangs du mouvement trotskiste, qui,
contrairement aux staliniens dirigés depuis Moscou par Ho chi Minh,
accordait plus d'importance au combat de classe qu'au combat nationaliste.
Après 1945, les trotskistes vietnamiens, qui avaient acquis une certaine
importance, furent massacrés par les staliniens.
Ngô Văn a décrit le Viêt Nam de sa jeunesse dans Viêt Nam 1920-1945.
Révolution et contre-révolution sous le domination coloniale, et a relaté sa
vie militante et mouvementée en Indochine dans Au pays de la cloche fêlée,
tribulations d'un Cochinchinois à l'époque coloniale. Il y évoque son
enfance, ses activités de militants et sa rencontre avec Nguyễn An Ninh,
https://thuviensach.vn
comme lui militant anticolonialiste et créateur du journal La Cloche fêlée
qui parut de 1923 à 1926 à Saigon, et dont le titre évoquait le poème de
Baudelaire sur le mal-être.
Réfugié en France en 1948, il devient ouvrier électricien chez Simca à
Nanterre, puis connaît diverses tribulations qu'il conte dans Au pays
d'Héloïse, avant de travailler comme technicien chez Jeumont-Schneider,
tout en écrivant et en militant avec Maximilien Rubel au sein du Groupe
Communiste de Conseils et à Informations et correspondances ouvrières,
puis à Échanges et mouvement.
Ngô Văn est diplômé de l'École des hautes études et est docteur en
histoire des religions.
NGÔ VĂN
1913-2005
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ngô Văn
https://thuviensach.vn
Sinh năm: 1913. Tân Lộ, gần Sài Gòn
Mất 1 tháng 1 năm 2005, Paris, Pháp
Dân tộc: Kinh
Nghề nghiệp nhà văn, nhà hoạt động chính trị.
Website: http://chatquipeche.free.fr/
Ngô Văn Xuyết 1913-1 tháng 1 năm 2005 hay còn gọi dưới bí danh là
Ngô Văn, trước 1948 ông là một trong những nhà Cách Mạng Trotskyist
người Việt trong Phong Trào Đệ Tứ Quốc Tế ở Việt Nam nói riêng và trong
phong trào cộng sản tại Đông Dương nói chung. Ngô Văn còn được biết
đến là một nhà văn Việt Nam Trotskyist tại Pháp với nhiều tác phẩm về lịch
sử phong trào cách mạng Việt Nam trước 1945( 1). Khi Việt Minh đàn áp
phong trào Đệ Tứ, cuối cùng sau năm 1948 thì ông đã lưu vong sang Pháp,
ở đây ông tiếp tục viết về cuộc đời mình và phong trào cách mạng mà thời
trẻ ông tham gia và hoạt động ( 2),( 3)
Trong thời gian ở bên Pháp, Ngô Văn đã trở thành một người xu hướng
Mác-xít tuyệt đối tự do (libertarian marxist), thậm chí còn tốt hơn so với
những người vô chính phủ cộng sản bình thường và ''cổ điển'' (anarchocommunist)...
Ông là mộtngười cấp tiến độc lập trong các truyền thống chủ nghĩa cộng
sản hội đồng công nhân cách mạng (council-communism), và đồng thời
Ngô Văn có những quan hệ thân thiện với nhiều nhà cách mạng nổi tiếng
như Maximilien Rubel, Henri Simon,Claude Lefortv.v...( 4) trong nhóm
Socialisme ou Barbarie, ICO (Informations correspondance ouvrièrs),
Échanges et mouvement, và cũng đã từng hợp tác với những người thuộc
nhóm Quốc Tế Tình Huống (Situationist International) như Guy Debord và
đặc biệt là Ken Knabb.( 5)
https://thuviensach.vn
Sinh trưởng và hoạt động cách mạng
Ngô Văn Xuyết sinh năm 1913 ở Tân Lộ, một nơi gần Sài Gòn. Năm 14
tuổi ông đã rời làng của mình vào Sài Gòn để làm việc ở một nhà máy sắt
thép và vừa đi học. Ở Sài Gòn, ông đã bắt đầu tham gia phong trào công
nhân như đình công và biểu tình chống lại thực dân Pháp, các phong trào
biểu tình đòi tự do hội họp, thành lập báo chí, giáo dục và tự do đi lại. Các
phong trào này thường bị thực dân Pháp đàn áp rất ác liệt và những người
lãnh đạo phong trào thường bị đày ra Côn Đảo.
Bởi vì tham gia các phong trào trên nên ông đã bị buộc thôi học tại
trường. Nhưng do sử dụng tên giả nên Ngô Văn hay lui vào thư viện Sài
Gòn, ở đó ông đã bắt đầu tiếp xúc với các sách vở và tài liệu chủ nghĩa
Marx. Cũng chính nơi này ông đã bắt đầu gặp gỡ và tham gia vào các nhóm
Trotkyist ở Sài Gòn và giao lưu quen biết với các thành viên của đảng cộng
sản Đông Dương. Quan điểm Ngô Văn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của
phong trào công nhân chứ không phải trên tinh thần dân tộc như Nguyễn ái
Quốc.
Ở Sài Gòn, các nhóm Trotskyist và Stalinist đã hợp tác với nhau trong
ba năm (1933-1936), cả hai phe đã thống nhất với nhau trên một mặt trận là
tờ báo pháp lý La Lutte bằng tiếng Pháp, do luật của thực dân Pháp lúc đó
là cấm xuất bản các ấn phẩm báo chí bằng tiếng Quốc Ngữ. Sau đó những
ứng cử viên phong trào Đệ Tứ ở Việt Nam đã được bầu vào Hội Đồng
Thành Phố, đây là một trong những thắng lợi lớn lao của phong trào Đệ Tứ
ở Việt Nam lúc bấy giờ. Nhưng sau khi chính phủ Pháp ký với lãnh đạo
Stalin của Liên Sô vào tháng 5.1935. Thì người Pháp và đảng cộng sản
Pháp đã không ủng hộ cho phong trào giải phóng thuộc địa ở Đông Dương
nữa. Vào lúc này Nhóm Tháng Mười đang được Hồ Hữu Tường lãnh đạo.
Ngô Văn và một số đồng chí khác của mình đã thành lập ''Liên đoàn quốc
tế cộng sản'' của Phong Trào Đệ Tứ Quốc Tế. Khi nhiều thành viên
https://thuviensach.vn
Trotskyist vẫn đang tham gia La Lutte, thì Ngô Văn đã âm thầm tách riêng
ra thành lập nhóm mới của mình.
Ngô Văn đã tổ chức một cuộc biểu tình đòi tăng lương ở nhà máy mình
làm việc cùng với các công nhân trong xưởng. Theo luật của thực dân Pháp
thời bấy giờ thì tụ tập quá 19 người là phạm pháp nên thực dân Pháp đã ra
tay đàn áp, nhiều bạn bè của Ngô Văn bị bắt và tra tấn, nhưng lần đó Ngô
Văn đã thoát được dù là người phát ngôn chính.
Tù nhân và lưu đày
Vào năm 24 tuổi, Ngô Văn bị bắt giữ trong kho của một nhà máy, tại nơi
này ông đã giấu rất nhiều tài liệu cách mạng từ nước ngoài ở dưới lòng đất
và cũng là nơi ông cùng các đồng chí của mình thảo luận kế sách chống
thực dân Pháp. Ngô Văn đã bị giam và tra tấn trong Khám Lớn Sài Gòn. Ở
đây nhiều thành viên Trotskyist và Stalinist bị giam chung với nhau, hai bên
luôn đề phòng nhau. Nhưng để tránh gây sơ hở với kẻ thù chung là thực dân
Pháp, ông đã cùng mọi người tham gia tuyệt thực để đòi những quyền lợi
cho tù nhân chính trị.
Vào năm 1937 nhận chỉ thị từ Moscow, những thành viên thuộc phe
Stalinist trong tờ báo La Lutte đã tách ra và công kích những người
Trotskyist là thông đồng với phát xít.
Ngô Văn và các đồng chí của ông đã nhiều lần bị ngồi tù và tra tấn rồi
lại được thả ra. Đã có lần ông bị bắt giam tám tháng chỉ vì một bức thư giới
thiệu cuốn sách của Lev Trotsky cho người bạn, và lời hỏi thăm đến lãnh tụ
Trotskyist bấy giờ là Tạ Thu Thâu. Ông cũng đã từng bị lưu đày đến Trà
Vinh, tại một hòn đảo ở đồng bằng sông Cửu Long. Cuối năm 1940, một
cuộc nổi dậy của nông dân đã nổ ra ở các Tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Gần
6.000 người bị bắt, hơn 200 người bị hành quyết công khai, và ngàn người
khác bị chết vì bom đạn bởi chính quyền Vichy. Vào trong khoảng thời gian
này ông được phát hiện mắc bệnh lao.
https://thuviensach.vn
Tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật vào Sài Gòn và thiết quân luật ở đây.
Các lực lượng phe Đồng Minh đã ném bom Sài Gòn. Miền Bắc Việt Nam
bấy giờ bị kiểm soát bởi Việt Minh. Những người Việt Minh chủ trương
liên kết với các đảng phái khác và hợp tác với các nước Đồng Minh như là
con đường giải phóng dân tộc. Nhưng những người Trotskyist phản đối
đường lối này, xem chuyện này như là một điều ảo tưởng, và đã kêu gọi
công nhân nổi dậy chống lại sự áp bức của Đế Quốc và mọi thế lực khác.
Ngô Văn và các đồng chí của ông đã rất vui mừng và phấn khởi khi hơn
30.000 người công nhân mỏ ở Hòn Gai-Cẩm Phả đã bầu ra thành lập một
hội đồng giữa các thợ mỏ để tổ chức chiến dịch xóa mù chữ, tham gia vào
phong trào cách mạng.
Sau những cuộc càn quét của Việt Minh, ông chạy trốn khỏi Việt Nam
và sang Pháp lưu vong năm 1948. Ở Pháp ông viết sách về những gì xảy ra
từ thập niên 1920, qua giai đoạn Mặt Trận Bình Dân và Cách Mạng Tháng
Tám ở Việt Nam. Bà Hilary Horrocks ở Edinburgh, Vương Quốc Anh là
người đang dịch hồi ký của ông Ngô Văn sang tiếng Anh, cho biết tác phẩm
của ông Ngô Văn có giá trị lịch sử lớn và được viết với ngòi bút đầy hình
ảnh.( 3)
Từ khi rời khỏi Đông Dương năm 1948, nếu hy vọng và niềm tin về sự
cần thiết phải lật đổ một trật tự thế giới ti tiện không bao giờ rời khỏi Ngô
Văn, thì nó cũng nuôi dưỡng trong Ngô Văn những suy nghĩ mới về chủ
nghĩa Bolshevik và về cách mạng.
Ngô Văn tìm thấy ở nước Pháp, trong những nhà máy và ở các nơi khác,
những người đồng minh, những người Pháp, người thuộc địa, người Tây
Ban Nha - những người sống sót khác - mà họ cùng với đảng POUM hay
những người vô chính phủ (anarchists), đã từng sống sót qua những kinh
nghiệm giống như của Ngô Văn: Đây là dấn thân vào một cuộc tranh đấu
trên hai mặt trận, chống chính quyền phản động và chống một đảng kiểu
Stalin đang giành chính quyền.
https://thuviensach.vn
Những cuộc gặp gỡ đó, một cuộc đọc lại Marx được soi sáng với những
công trình của Maximilien Rubel, phát giác phong trào hội đồng công nhân
cách mạng ở xứ Bavari năm 1919, hay cuộc thủy thủ nổi dậy ở Kronstad tại
nước Nga năm 1921, rồi cuộc hồi sinh của hội đồng công nhân trong cuộc
bạo động ở nước Hungary năm 1956, đã đưa Ngô Văn đi tìm một viễn cảnh
cách mạng mới, đưa ông đi xa khỏi chủ nghĩa Bolsheviks-Leninismens,
trotskisme, phát triển trong ông một sự nghi hoặc tuyệt đối với tất cả những
cái gì có thể trở thành ''bộ máy''. Các đảng gọi là công nhân (đặc biệt là
đảng theo chủ nghĩa Lénine) là những mầm móng của bộ máy nhà nước về
sau. Một khi lên cầm quyền, những đảng đó trở thành hạt nhân của giai cấp
cầm quyền mới. ''Sự tồn tại của nhà nước và sự tồn tại của chế độ nô lệ là
không thể tách rời nhau'' (Karl Marx)
''Những kẻ là chủ nhân của hiện tại, tại sao không thể là chủ nhân của
quá khứ ?'' George Orwell đã viết một cách sáng suốt như vậy. Khi lịch sử
được kể theo lời lẽ của kẻ chiến thắng, che đậy và nhận chìm mọi cuộc đấu
tranh trong quá khứ dưới luận điệu xóa bỏ hết mọi toan tính, sự thật hiện tại
thì bị áp đặt như một định mệnh tất yếu. Tương lai của xã hội loài người
phải phụ thuộc vào khả năng của nhân loại giành lại cái quá khứ đó từ
những bàn tay lạnh lùng của những chủ nhân hiện tại. Nhiều tiếng nói đã bị
chìm đi: Phải cố làm cho nó sống lại, tìm lại dấu vết sống động của những
cuộc cách mạng nối tiếp nhau qua thời gian - và tìm cách dựng lại nó như
một nhân chứng qua đường.( 6)
Ông mất vào ngày 1 tháng 1 năm 2005, Ngô Văn được chôn tại nghĩa
trang Parisien d'Ivry ( 3) tại Thị Xã Ivry-sur-Seine ở Thủ Đô Paris nước
Pháp.
Tác phẩm
Vụ án Moscow, nhà xuất bản Chống Trào Lưu, Saigon, 1937 (brochure
en vietnamien dénonçant les procès de Moscou)
https://thuviensach.vn
Divination, magie et politique dans la Chine ancienne, PUF, 1976, YouFeng, 2002Revolutionaries They Could Not Break, Index
Bookcentre,Londres, 1995
Avec Maximilien Rubel, une amitié, une lutte 1954-1996,in les Amis de
Maximilien Rubel, L'insomniaque, 1997,épuisé
Viêt-nam 1920-1945, révolution et contre-révolution sous la domination
coloniale, L'insomniaque, 1996, Nautilus, 2000
Việt Nam 1920-1945, Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực
dân, Chuông Rè-L'insomniaque, 2000 (version vietnamienne du précédent)
Au Pays de la cloche fêlée, tribulations d'un Cochinchinoisà l'époque
coloniale, L'insomniaque, 2000.
Contes d'autrefois du Viêt-nam/Chuyện đời xưa xứ Việt, avec Hélène
Fleury, édition bilingue, You-Feng, 2001
Cuentos populares de Vietnam, traduit du précédent par Magali Sirera,
Octaedro, Barcelone, 2004
Memoria Escueta, de Cochinchina a Vietnam, traduction de Mercè
Artigas de Au Pays de la cloche fêlée, Octaedro, Barcelone, 2004
Utopie antique et guerre des paysans en Chine, Le Chat qui Pêche, 2004
Le Joueur de flûte et Hô chi Minh, Viêt-nam 1945-2005, ParisMéditerranée, 2005
Au Pays d'HéloIse, L'insomniaque, 2005
Tại xứ Chuông Rè, 2000
CHÚ THÍCH:
https://thuviensach.vn
1.- ''Ngo Van Xuyet, réfugié en France depuis 1948, est décédé le 1er
janvier 2005, à Paris, à l'age de 91 ans. Cet ancien trotskiste, exemple d'un
type d'ouvriers militants qu'on ne connait plus guère aujourd'hui, était né en
1913, dans le village de Tan Lo, près de Saigon.''.
2.- ''Hommes & migrations 2005 p36 ''Ngo Van, Au pays de la Cloche
fêlée. Tribulations d'un Cochinchinois à l'époque coloniale, Paris 2000.
Militant trotskyste, il échappe à la répression Viet Minh et se réfugie en
France en 1948.''.
3.- ''Người Việt Nam và cộng sản Đệ Tứ''. BBC
4.- ''Ngô Van avec Maximilien Rubel - 1954-1996 une amitié, une
lutte'' (PDF).
5.- ''Ngo Van - IN THE CROSSFIRE - Adventures of a Vietnamese
Revolutionary''.
6.- [n.pdf ''Tại Xứ Chuông rè PDF''] (PDF).
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM 1920-1945: CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG
Ngô Văn
www.dtv-ebook.com
Mục Lục:
LỜI PHÀM BIỆT
MỘT VÀI PHIÊU LỊCH SỬ
THAY LỜI TỰA
PHẦN THỨ NHẤT
NGỌN LỬA ẤP Ủ GIỚI TRÍ THỨC 1920-1929
I.- Ngũ Long tại Paris
Phan Chu Trinh, Phan Văn Tường, Nguyễn ái Quốc, Nguyễn An Ninh,
Nguyễn Thế Truyền.
II.- Sài Gòn 1924-1926: Lớp trí thức trẻ thức tỉnh, Nguyễn An Ninh và
báo La Cloche Fêlée (Chuông Rè) Alexander Varenne, phe xã hội, Toàn
Quyền Đông Dương, Phan Chu Trinh: Đạo đức và luân lý Đông Tây. Vụ án
Phan Bội Châu, tháng 11 năm 1925. Mùa xuân Sài Gòn, tháng 3-4 năm
1926. Vụ án Nguyễn An Ninh lần thứ nhất.
III.- Đợt sinh viên du học mới và những bước đầu tìm đường cách mạng
1925-1929
- Nguyễn Thế Truyền, người sáng lập Đảng An Nam Độc Lập. Trần Văn
Thạch và tờ Báo của sinh viên An Nam (Journal des Etudiants annamites).
- Tạ Thu Thâu và tờ Phục Sinh (La Résurrection). Nhóm cộng sản An
Nam, Lao động. Vụ Café Turqueti.
https://thuviensach.vn
- ''Xứ An Nam không phải là một bộ phận của nước Pháp''.
IV.- Phong trào quốc gia bí mật ở trong nước thời kỳ này:
Tân Việt Cách Mạng Đảng (1925-1929). Hội kín Nguyễn An Ninh
(1928-1929), Việt Nam Quốc Dân Đảng (1927-1930). Thanh Niên Cách
Mạng Đồng Chí Hội (1925-1930).
V.- Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, mầm mống quốc gia chủ
nghĩa của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Nguyễn ái Quốc, người sáng lập
Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Con đường Quảng Châu. Đám cháy
dữ dội ở Trung Quốc. Quốc Dân Đảng và giai cấp công nhân Trung Hoa
sau cuộc Cách Mạng Cộng Hòa 1911. Tấn bi kịch Trung Hoa. Những rắc
rối nhỏ trong tổ chức Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội.
VI.- Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội Tan Vỡ. Vụ án ở đường
Barbier (Lý Trần Quán) Sài Gòn. Quốc tế cộng sản trở ngược đường lối và
quá trình vô sản hóa của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội-Đông
Dương Cộng Sản Đảng ra đời.
PHẦN THỨ HAI
NHỮNG VỤ BÙNG NỔ 1930-1933
VII.- Cuộc bạo động Yên Bái, tháng 2 năm 1930. Cuộc biểu tình trước
Điện Elysée ngày 22 tháng 5 năm 1930.
VIII.- Đông Dương Cộng Sản tả phái đối lập chống chủ nghĩa Stalin
xuất hiện ở Pháp. Thử nghiệm đề xuất lý luận chính trị.
IX.- Phong trào nông dân 1930-1931. Ở Bắc Kỳ. Ở Nam Kỳ. Ở Trung
Kỳ. Phong trào Sô Viết nông dân Nghệ Tĩnh. Sự phân liệt trong nội bộ đảng
cộng sản Đông Dương.
https://thuviensach.vn
X.- Phái Tả Đối Lập Đông Dương ở Sài Gòn. Phái Tả Đối Lập ở Pháp,
nhóm người Đông Dương trong Liên Minh Cộng Sản (Tả Đối Lập).
XI.- Khủng hoảng kinh tế và đàn áp chính trị ở Nam Kỳ năm 19321933. Ba vụ án cộng sản năm 1933 ở Sài Gòn.
PHẦN THỨ BA
CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN DIỄN ĐÀN CÔNG KHAI 19331939
XII.- Mặt trận thống nhất Tranh Đấu (La Lutte) 1933-1935. Mặt trận
thống nhất đầu tiên ''Tranh Đấu'' (La Lutte), tháng 4 năm 1933. Tháng 8
năm 1933, phong trào hòa bình Amsterdam-Player ở Sài Gòn. 1934 ở Pháp,
nhóm phát xít bạo động và mặt trận thống nhất thứ hai, nhóm Tranh Đấu,
tháng 10 năm 1934. Năm 1935: Cuộc tuyển cử Hội Đồng Quản Hạt ở Nam
Kỳ và Hội Đồng Thành Phố ở Sài Gòn. Hiệp Ước Laval-Stalin. Phái xu
hướng Leon Lev Trotskij đối lập, hoạt động bí mật.
XIII.- Nhóm Tranh Đấu trong thời kỳ Mặt Trận Bình Dân Pháp 19361937. Mặt Trận Bình Dân Pháp và tiếng dội của nó tới Đông Dương năm
1936. Tiến tới một ''Mặt Trận Bình Dân'' trong nước, Đông Dương Đại
Hội. Các Ủy ban hành động - mầm mống Sô Viết nhân dân. Báo Chiến Sĩ
(Le Militant). Phong trào bãi công lại phát triển mạnh từ tháng 6 năm 1936.
Sắc lệnh Blum-Moutet ngày 30 tháng chạp năm 1936. Bãi công và biểu tình
năm 1937. Tổng quan.
XIV.- Cuộc đàn áp chống lại thợ thuyền và Mặt Trận Tranh Đấu tan vỡ.
Phong trào nghiệp đoàn và sự hỗn loạn về chính trị. Những bước đầu của sự
ly khai tháng 6 năm 1937. Cuộc chia rẽ. Báo Tranh Đấu, tiếng nói của Đệ
Tứ Quốc Tế. Cuộc đàn áp ập xuống không phân biệt phái theo Stalin hay
theo Lev Trotskij. Sai khi chia rẽ.
https://thuviensach.vn
XV.- Đảng Cộng Sản Đông Dương dưới bóng cờ tam sắc. ''Nước Pháp
vị đe dọa tại Đông Dương''. Tự do tương đối cho báo chí ra bằng Quốc
Ngữ. Đệ Tam và Đệ Tứ đối đầu trong cuộc tuyển cử Hội Đồng Quản
Hạttháng 4 năm 1939. Nguyễn ái Quốc chỉ thị ''thanh toán về chính trị''
những người xu hướng Lev Trotskij.
XVI.- Đàn áp và chiến tranh. Hiệp Ước Hitler-Stalin và chiến tranh.
Cuộc tranh đấu chống chiến tranh vẫn tiếp tục. Những vụ án.
PHẦN THỨ TƯ
DƯỚI ÁCH CHIẾM ĐÓNG NHẬT BẢN
XVII.- Cuộc khởi nghĩa nông dân ở Nam Kỳ. Cuộc bạo động. Cuộc đàn
áp. Ban trung ương đảng cộng sản Đông Dương không chịu trách nhiệm về
cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.
XVIII.- Chính phủ Decoux và sự chiếm đóng Nhật Bản. Cuộc sống của
thợ thuyền và dân cày. Các thủ đoạn của Pháp và Nhật. Các giáo phái chính
trị Cao Đài và Hòa Hảo.
XIX.- Việt Minh thay bộ y phục mới của đảng cộng sản Đông Dương
1941-1945. Nguyễn ái Quốc hồi phục Việt Minh. Thành lập Việt Cách do
sáng kiến của Tướng Trương Phát Khuê. Hồ chí Minh sở cậy vào OSS
(Office of Strategic Service-Cục tình báo chiến lược) của Mỹ. Hồ chí Minh
tìm thỏa hiệp với đế quốc Pháp trong ''đồng minh Pháp-Đông Dương''.
XX.- Cuộc đảo chính Nhật 9 tháng 3 năm 1945 và sau đó. Cuộc đảo
chính. Chính phủ Bảo Đại Trần Trọng Kim, tháng 4-8 năm 1945. Ở Bắc
Kỳ: Những lực lượng theo chủ nghĩa quốc gia. Ở Nam Kỳ:Các đảng phái và
giáo phái. Xu hướng Trotskij sống sót tập hợp lại.
PHẦN THỨ NĂM
https://thuviensach.vn
CÁCH MẠNG HAY PHẢN CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
XXI.- Việt Minh nắm chính quyền. Hồ chí Minh lấy chính quyền ở Hà
Nội trước khi quân Trung Hoa tới. Chế độ ''Cộng Hòa Dân Chủ'' và những
hoạt động khởi phát của công nhân và nông dân. Miền Nam ''sôi sục cách
mạng'' trước khi lực lượng Anh-Ấn tới. Ngày 21 tháng 8, cuộc biểu tình
của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ở Sài Gòn. Ngày 25 tháng 8, cuộc biểu
tình tán thành chính quyền Việt Minh. Nông dân miền Tây và chính quyền
Việt Minh. Phái Stalin điều đình với phái Charles de Gaulle và sự đề cập
đến chính quyền Việt Minh ngày 2 tháng 9. Ảo vọng Việt Minh đối với
''Đồng minh Anh'' tan vỡ. Sự bất đồng giữa Việt Minh miền Bắc và Việt
Minh miền Nam. General Sir Douglas David Gracey-Tướng Douglas
Gracey chuẩn bị cho Pháp tái chiếm Đông Dương.
XXII.- Bộ mặt của ''nước Pháp mới'' tái chinh phục thuộc địa. Sài Gòn
bạo động ngày 23 tháng 9 năm 1945. Những hành động sát nhân của phái
Stalin ở Nam Kỳ. ''Phải triệt ngay bọn Trotskyism!'' Công cuộc ''bình
định''. Ở Bắc Bộ, quân Trung Hoa chiếm đóng. Không một tiếng súng
nào!'' Từ cuộc đàm phán trò hề cho đến cuộc bạo động võ trang ngày 19
tháng chạp năm 1946.
RỒI HIỆN BÂY GIỜ
PHỤ LỤC
NHỮNG MẪU ĐỜI
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM 1920-1945: CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG
Ngô Văn
www.dtv-ebook.com
LỜI PHÀM BIỆT:
Kể từ 1887 cho đến 1954, xứ Việt Nam là bộ phận xứ Đông Dương
thuộc Pháp đô hộ, chia ra làm ba Kỳ:
Bắc Kỳ: Kinh đô Hà Nội
Trung Kỳ, Kinh đô Huế và Nam Kỳ, Kinh đô Sài Gòn
(Nay là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ).
Dân số năm 1940 độ 20 triệu người: - Bắc 9,4 - Trung 6,4 - Nam 4,8.
Dân cư 9/10 là người Việt (Kinh), ngoài ra còn có những dân tộc ít
người mà người ta ít nói đến, họ bị lấn ép vào miền rừng núi. Ở Bắc có dân
Tày, Thái, Mường, Máng, Nùng, Mèo (Hmông), Dao..., ở miền Trung có
dân Chàm, cùng các dân/tục gọi mọi Giarai, Eđê, Bana, Sođăng, Mnông,
Ma, Xtiêng ..., ở Nam có người Chàm và Khome, tục gọi người Cao-mên.
Dân tộc ít người đông nhất là Hoa kiều gồm người Tàu di cư sang Việt Nam
và người Minh Hương. ( Người Tàu di cư sang Việt Nam hai lần lớn nhất:
Lần thứ nhất triều Mãn Thanh xâm chiếm Nhà Minh, nên gọi là Minh
Hương, lần thứ hai Chủ Tịch Mao Trạch Đông nhuộm đỏ lục địa Trung
Hoa, chú thích TQP)
https://thuviensach.vn
Vương Quốc Annam do Giáo Sĩ Alexandre deRhodes họa (1653)
https://thuviensach.vn
Từ trước đến 1945, các tài liệu thông thường đều dùng hai chữ An Nam
đồng như chữ Annamite trong văn kiện Pháp. Thế nên chúng tôi vẫn giữ
nguyên văn theo các văn kiện thời ấy, hai chữ Việt Nam trở nên thông
thường kể từ 1945.
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM 1920-1945: CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG
Ngô Văn
www.dtv-ebook.com
THAY LỜI TỰA:
Kể từ Thế Kỷ XVI, bọn lái buôn và truyền giáo người xứ Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha, đã từng lui tới các ven biển Đông Dương. Sau đó thì có
những người Hà Lan, Anh quốc. Các Giáo Sĩ Ky-tô (Công Giáo) tới Nam
Kỳ vào năm 1615. Mười năm sau, Giáo Sĩ Alexandre de Rhodes chỉ dẫn
cùng họ tạo ra chữ Quốc Ngữ, lấy chữ a b c viết ra tiếng An Nam, thay thế
chữ Nôm, chữ viết hiện hành thời đó, mượn chữ Hán mà viết ra thành ra ít
người đọc nổi. Chẳng bao lâu về sau, ở Thành Rome có xuất bản quyển
Giáo Lý bằng tiếng La-tinh và Quốc Ngữ. Lẽ cố nhiên, xin nhắc lại rằng
việc phát minh chữ Quốc Ngữ sau này rất quan trọng trong việc truyền bá
văn hóa Việt vào Thế Kỷ XX.
Truyền đạo và bán buôn trục lợi - cây thánh giá hội hiệp với đòn cân - ta
có thể xem truyền giáo sĩ và lái buôn là những kẻ đi tiên phong trong cuộc
xâm chiếm thuộc địa.
https://thuviensach.vn
Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn
Thời ấy dân Việt Nam sống dưới ách đô hộ của hai gia tộc cường hào
thù nghịch nhau, cả hai đều là gian thần Vua Lê và thường cùng nhau chinh
chiến. Chúa Trịnh thống quản Bắc Kỳ (Đàng ngoài) đóng đô ở Thăng Long,
Chúa Nguyễn trị vì Trung Kỳ (Đàng trong), đóng đô ở Huế.
Phía Nam lãnh thổ Việt, Quốc Vương Chàm chạy dài tới Phan Thiết
(Bình Thuận), còn xuống thẳng tới Cà Mau thì có những đất phì nhiêu châu
thổ tam giác sông Cửu Long là xứ người Cao Mên hay Khmer.
Từ đầu Thế Kỷ XVII, Chúa Nguyễn khởi đầu xâm chiếm xứ Chàm (tới
Qui Nhơn năm 1602) rồi thôn tính toàn bộ Quốc Vương Chàm vào lối cuối
thế kỷ (tới Phan Thiết năm 1897). Một tảng đá có khắc chữ Chàm ghi nhớ
việc người Chàm bị người An Nam áp bức trên đường Nam Tiến: ''Con của
người An Nam sai khiến người Chàm như sai khiến trâu. Người An Nam
sai khiến rồi cười, bên họ có vua! còn người Chàm mồ côi...''
Đồng một lượt người Việt tiếp tục xuống miền Nam, khởi đầu khẩn
hoang, kinh doanh đồn điền, có lúc tiếp xúc hòa bình với người bản xứ, lúc
lại tác chiến xâm chiếm đất Khmer bấy giờ rất ít dân cư. Họ chiếm Bà Rịa
từ năm 1658 rồi lấy Sài Gòn, bấy giờ là Prei Nokor năm 1675 ( 1)
Năm 1673, Chúa Nguyễn vừa ký kết đình chiến với Chúa Trịnh, thừa
nhận sông Gianh, gần lối vĩ tuyến 18, là bờ cõi phân hai lãnh địa ( 2).
Trong công cuộc bành trướng lãnh thổ, Chúa Nguyễn được trợ giúp:
Một đạo binh người Tàu 3.000 người trên 50 chiếc thuyền chạy thoát quyền
đô hộ Mãn Châu tới Đà Nẵng xin lánh nạn. Chúa Nguyễn bèn tống họ đi về
phía Nam khai khẩn và chiếm đất, lúc bấy giờ Vua Khmer đã phục tùng
Chúa Nguyễn. Những người lánh nạn ấy an bài ở Biên Hòa, Gia Định, Mỹ
https://thuviensach.vn
Tho, sau cùng ở Chợ Lớn; họ bán buôn, trồng tỉa và cướp giật. Họ là thủy
tổ Hoa kiều ở Nam Kỳ.
Một số người Tàu di dân khác ở Quảng Đông tới lập nghiệp trong vùng
Hà Tiên, đó cũng vẫn là đất Khmer, sau đó họ khuếch trương lĩnh vực của
họ từ Đảo Phú Quốc tới Rạch Giá và Cà Mau. Thủ lĩnh của họ, tên phiêu
bạc Mạc Cửu chịu dưới quyền đô hộ Nhà Nguyễn vào năm 1714.
Trong nhóm di dân có tín đồ hội kín ''phản Thanh phục Minh'' cảm hóa
người đồng cảnh ngộ, hiệp nhau tạo ra bên ngoài xã hội công khai, một trật
tự xã hội kín đáo có nghi thức riêng, đây là cội rễ các phái chính trị tôn giáo
có tính chất mưu toan lật đổ đương quyền - đặc biệt như Thiên Địa Hội thù sâu chống người Âu Tây đột nhập.
Năm 1698, Nhà Nguyễn chế định Sài Gòn là đầu phủ các Tỉnh Gia Định
và Đồng Nai (Biên Hòa); năm 1733, tới lượt Long Hồ (Vĩnh Long) rồi đến
Định Tường (Mỹ Tho) đều bị chiếm. Năm 1754, một quan tổng trấn ngự tại
Sài Gòn đặt các lãnh thổ đã chiếm theo luật Nhà Nguyễn rồi người An Nam
tiếp tục thâm nhập cho tới cuối miền Nam.
Tuy nhiên các Chúa Nguyễn còn phải đương đầu cùng nhiều địch thủ
mới.
https://thuviensach.vn
Giặc Tây Sơn lật đổ Chúa Nguyễn,
Chúa Trịnh
Nông dân nổi dậy thường xuyên, làm rung động cả hai trào Chúa
Nguyễn-Trịnh.
Có ba anh em, cả ba đều thuộc hạng sĩ phu - quê quán ở Ấp Tây Sơn
(ngày nay là An Khê, Qui Nhơn), vì vậy tên gọi Tây Sơn - Nguyễn Văn
Nhạc làm Biện Lại, cùng hiệp sức với hai em là Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn
Văn Huệ, nhờ''đoạt của nhà giàu để cứu giúp người nghèo'' ( 3)mà họ
chiêu tập được ít ngàn nông dân. Ba anh em chiếm Thành Qui Nhơn năm
1773, sau đó đoạt toàn Trung Kỳ và đánh đuổi Chúa Trịnh ở Bắc Kỳ.
Họ tiến thẳng tới Gia Định năm 1776 rồi hạ sát Chúa Nguyễn đang cư
trú ở đó. Chỉ một mình Hoàng Tử Nguyễn Ánh, 16 tuổi được thoát thân.
Rồi đây Nguyễn Ánh sẽ cầu Pháp giúp để phục hồi ngôi chúa.
Tây Sơn đang làm chủ tể toàn xứ, từ Bắc Kỳ tới Nam Kỳ.
https://thuviensach.vn
Thánh giá mở đường gươm súng
Vừa tới Nam Kỳ năm 1767, Giám Mục Bá Đa Lộc-Pigneau de Behaine,
người của Hội truyền giáo ngoại bang ở Paris, bèn ra tay cứu vớt Nguyễn
Ánh lúc bấy giờ bị Tây Sơn đuổi theo, đang cùng sáu viên quan và độ trăm
người tùy tùng trung thành ẩn lánh tại cù lao Phú Quốc. Giám Mục làm
thầy và người chỉ dẫn cho Nguyễn Ánh.
Nguyễn Ánh trao trọn quyền thay mặt mình cho Giám Mục Bá Đa Lộc
khi ông này trở về Pháp hồi tháng 12 năm 1784, để yêu cầu Vua Louis XVI
trợ giúp về mặt binh bị. Giám Mục tới Paris năm 1787, chính năm thủ lĩnh
Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc xưng đế ở miền Trung, lấy niên hiệu là Thái
Đức, đóng đô tại Qui Nhơn (Bình Định), đồng thời Nhạc phong Huệ làm
vua các tỉnh ở Bắc còn Lữ ngự trị các tỉnh miền Nam.
Giám Mục tâu với Vua Louis XVI:
Ông vua chính tông ở Nam Kỳ bị một kẻ soán ngôi lật đổ, ngài sai tôi
(cùng đứa con một của ngài năm nay 16 tuổi) đến khẩn cầu vua nước Pháp
trợ giúp. Xứ Nam Kỳ giàu có lắm và hoạt động sinh sản thật phi thường.
Những vật liệu đặc dùng trong cuộc nội thương và ngoại thương là: Vàng,
hạt tiêu, quế, lụa là, bông vải, màu chàm, sắt, trà, sáp ong, ngà voi, gôm
nhựa cây nhũ hương, vernir, các thứ cây, chỉ thôm, gạo khô, cây để kiến
trúc, v.v...Tóm lại, kiến lập một cơ sở Pháp ở Nam Kỳ sẽ là phương hướng
chắc chắn của ta để trừ bì ảnh hưởng lớn lao của Anh quốc trong toàn các
thuộc địa phủ Ấn Độ.
Số tiền người ta xuất ra để kiến lập, dù sao cũng là một việc bỏ vốn thâu
lợi thật nhiều cho ảnh hưởng chính trị và thương mại mà nước Pháp sẽ
hưởng trong thời gian ngắn ngủi tới ( 4).
https://thuviensach.vn
''Vua Nam Kỳ'' và Vua xứ Pháp liền ký tờ Hiệp Ước tương trợ ngày 28
tháng 11 năm 1787 ở Thành Versailles: Pháp giúp binh thì Vua Nam Kỳ
phải nhượng lại cho Pháp hải cảng chính ở Hội An (Đà Nẵng), Đảo Poulo
Condor-Côn Sơn Pháp làm chủ, thần dân của ''Đức Vua tận tâm theo Ky-tô
Giáo được tự do hoàn toàn về thương mại trong các lãnh thổ của Đức Vua
Nam Kỳ, trừ tuyệt toàn cả các nước Âu Châu khác. Người Pháp có thể gây
dựng được những cơ sở họ xem là nhu cần cho việc hàng hải và thương mại
của họ, cùng là để bồi bổ và đóng tầu''. ( 5)
Thế thì Giám Mục Bá Đa Lộc là người tiên phong của giai cấp tư sản
Pháp trong công cuộc xâm chiếm thuộc địa. Sự nghiệp này đã được phóng
đại vào thời Đệ Nhị Đế Quốc (1852-1870) và nhất là trong thời kỳ Đệ Tam
Cộng Hòa (1870...) Pháp.
Giám Mục rời xứ Pháp vào tháng chạp 17 năm 1787, chỉ được Nhà Vua
hứa giúp thôi. Ông không nhận được trợ giúp chính thức chút nào, nhưng
ông được những người Pháp buôn bán giầu có ở Ile de France (bây giờ là
Đảo Ile de la Réunion, ở Ile de Boubon bây giờ là Đảo Ile Maurice) và ở
các cơ nghiệp Pháp ở Pondicherry. Ngày 24 tháng 7 năm 1789, Giám Mục
cập bến ở Vũng Tàu, cùng với bọn đánh giặc mướn, tốp lính đào ngũ hoặc
bị đuổi khỏi các chiến thuyền của nhà vua và ''vọng tưởng phiêu lưu phù
phiếm''. Theo sau đó, nhiều chiếc tầu Pháp khác chở khí giới và đạn dược
cùng cập bến.
Lúc bấy giờ, Nguyễn Ánh đã thu phục Sài Gòn, Vua Tây Sơn Nguyễn
Văn Lữ đã từ trần năm 1787 rồi đạo binh của ông bị bại trận và rút lui. Cần
phải chinh phục Trung Kỳ, nơi ...
 





