HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

CÂU HỎI NGỘ NGHĨNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7250164962913_84f238d0b671fe0677f1e7e331749009.jpg Z7250164962913_84f238d0b671fe0677f1e7e331749009.jpg Z7250164962912_b084675f94d554092bff399f19858e56.jpg Z7250164962851_56cfc0ad9074fe25273a19fa1a7b9b87.jpg Z7262370610256_71f3b37620411591fe3cf0db1de3fc27.jpg Z7262369223724_07e440c8e343bd700bf465b982fdbee3.jpg Z7262367947044_16c4312a1094ffd209d985bd41dc1751.jpg Z7262367018664_33a063eafba6d06638aecda5587535e0.jpg Z7262366320001_1c7103c48e54d35a12af9ceb63515423.jpg Z7262371477959_2fea5d82fb7227245b1e3bef5d259726.jpg Z7262389774262_468c4635c10feed241027cabae384d6d.jpg Z7250166121904_18b3b6254414d393dea8cb944903b7f9.jpg Z7250166121905_6c6310f58cab6be0eb8e1a122f4eef46.jpg Z7250166121907_546f6eb4a84724a9bd5f5431f251d033.jpg Z7250166121910_77f6ed726b705f433129b34f5d239a8b.jpg Z7232209187831_4d70fa29eedd5bd6d32c912ae4525769.jpg Z7232209187831_4d70fa29eedd5bd6d32c912ae4525769.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg

    VIDEO THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

    💕💕Thư viện không chỉ là nơi cất giữ sách, mà là nơi đánh thức giấc mơ.💕Hãy đến thư viện – nơi bắt đầu của những thay đổi lớn lao bằng những trang sách nhỏ bé💕

    vangbongmottho

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
    Ngày gửi: 18h:11' 21-08-2025
    Dung lượng: 515.7 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin ebook
    Tác phẩm: Vang bóng một thời
    Tác giả: Nguyễn Tuân
    Nxb Mãi Lĩnh, Hà Nội 1940
    Tạo ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Lời dẫn
    Vang Bóng Một Thời viết năm 1940 đã được dư luận chung coi như một
    trong những tác phẩm hay và nổi tiếng nhất của nền văn chương Việt Nam,
    cũng là một trong những tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất, được coi như
    ngang hàng với Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, Đôi Bạn của Nhất
    Linh, truyện đã được tác giả Nhà Văn Hiện Đại ca ngợi như sau.
    Tác phẩm đầu tay của ông là một văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ.
    Đó là tập Vang Bóng Một Thời (Tân Dân – Hà Nội 1940).
    Tập truyện đã làm sống lại cả một thời phong kiến đã qua với những nghệ
    thuật cổ thanh cao, những nếp sống, sinh hoạt xã hội nho phong của một nền
    văn minh xưa cũ, nó cũng là niềm nuối tiếc của một tâm hồn hoài cổ trước
    những cái hay, cái đẹp, những nghệ thuật cầu kỳ của một thời đại đã qua, cái
    thời ấy nay đã chết rồi, chỉ còn để lại một tiếng vang:
    . . . . Vang Bóng Một Thời. .
    Nguyễn Tuân sinh năm 1910 tại Hà Nội trong một gia đình nho giáo, con cụ
    Tú Hải Vân , thời còn trẻ ông đã theo gia đình sinh sống tại nhiều tỉnh miền
    Trung . Năm 1929 tham gia bãi khóa bị đuổi học, trốn sang Băng Cốc bị bắt
    giải về nước và bị bỏ tù, năm 1937 sống bằng nghề viết, năm 1938 sang
    Hồng Kông đóng phim Cánh Đồng Ma, năm 1945 theo Việt Minh , mất năm
    1987 tại Hà Nội.

    Cũng như nghìn, vạn người yêu nước khác ông đã tham gia kháng chiến
    chống Pháp, theo Hoàng Văn Chí trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản
    (De la colonisation au communisme), kháng chiến khởi đầu bằng phong trào
    yêu nước và kết thúc bằng Cộng Sản, những nhà ái quốc như Nguyễn Tuân
    đã lỡ theo nên phải theo luôn , ngẫu nhiên rơi vào thế cưỡi cọp, đã leo lên rồi
    không thể nhẩy xuống được nữa.
    Các tác phẩm chính của ông viết trước ngày theo kháng chiến Việt Minh
    gồm: Ngọn Đèn Dầu Lạc viết 1939, Quê Hương 1940, Tàn Đèn Dầu Lạc
    1941, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua 1941, Tùy Búy Một, Tùy Bút Hai 1943,
    Nguyễn 1945, Chùa Đàn 1946.
    Vang Bóng Một Thời do Tân Dân Hà Nội xuất bản 1940, được coi như tác
    phẩm đầu tay của Nguyễn Tuân, được Thạch Lam khen hay trên báo Ngày
    Nay và nổi tiếng ngay. Tác giả của nó là con người giang hồ ăn chơi phóng
    đãng, ông đã diễn tả cuộc đời ăn chơi phóng túng và trụy lạc trong Quê
    Hương, Một Chuyến Đi, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua, Ngọn Đèn Dầu Lạc.
    Nhưng ông lại tỏ ra hoài niệm dĩ vãng, tiếc nhớ những nét huy hoàng của
    một nền văn minh tinh thần, đó lại chính là bề mặt trái của con người trên.
    Ông Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn
    3 có nói.
    Những hàng trên viết ngay từ 1938 (trên Tiểu thuyết thứ bẩy) có thể coi là
    nguồn gốc tậm lý và cảm hứng của Vang Bóng Một Thời về sau. Yêu quá
    khứ đi tìm trong quá khứ những hình ảnh nên thơ nên mộng.
    Nguyễn Tuân là một nhà văn không thuộc về trường phái nào, văn đoàn nào,
    ông tự đứng riêng ra một phái cả về văn chương tư tưởng, Vũ Ngọc Phan
    xếp ông vào loại nhà văn chuyên về tùy bút. Tùy bút được định nghĩa là để
    tùy ý cho ngọn bút diễn tả một cách rộng rãi tự do tâm tư của tác giả.
    Ông Phạm Thế Ngũ định nghĩa như sau.
    Duy có điều là ký sự của ông không phải như ở giai đoạn Nam Phong. . . . .
    mà là đại biểu cho một giai đoạn già dặn . . . . . để tự do, tùy bút, muốn viết
    gì thì viết, ghi chép gì cũng được. Những truyện của Nguyễn Tuân hơn cả
    với Thạch Lam chẳng có gì làm truyện cả; nghĩa là những yếu tố thông lệ gọi
    là động tác, là thắt là cởi. Chỉ là những mảnh đời hé lộ của cuộc sống xưa,
    hay là những kể lể dông dài về một cuộc gặp gỡ, những tâm sự lê thê, những
    cảm tưởng vụn vặt của chính mình.

    Nhà phê bình văn học trong nước Nguyễn Mạnh Đăng định nghĩa như sau.
    Tùy bút là gì? Định nghĩa vừa dễ lại vừa khó. Dễ vì khái niệm bản thân nó
    đã tự giải thích,: là phóng bút, tùy bút mà viết chứ sao. . . có thể hiểu một
    cách đại khái thế này: người viết tùy bút thường mượn cớ thuật lại một sự
    kiện, một mẩu chuyện nào đó mà mình có trải qua để nhân đấy nêu lên
    những vấn đề này khác mà bàn bạc, mà nghị luận, triết luận, ném ra những
    suy tưởng của mình một cách thoải mái phóng túng.
    Nguyễn Tuân với Vang Bóng Một Thời và Thạch Lam với Hà Nội Băm Sáu
    Phố Phường được coi là hai người đầu tiên xây dựng thể tùy bút, tại miền
    Nam Việt nam từ sau 1954 đến 1975, các nhà văn tên tuổi nhiều người đã
    viết tùy bút, nay tại Hải ngoại, thể văn này lại rất thịnh hành được nhiều
    người ưa chuộng. Vang Bóng Một Thời được coi như cuốn tùy bút đầu tiên
    của Việt Nam, mặc dù ngoài trang đầu đề là truyện nhưng trên thực tế người
    ta vẫn coi đây chỉ là tập tùy bút vì truyện đa số không có kết thúc hoặc gỡ
    nút đúng theo tinh thần của một truyện, tác phẩm được in ra nhằm vào lúc có
    cơn gió phục hưng nên đã được độc giả hoan nghênh nồng nhiệt, từ 1940
    đến 1945 đã được tái bản ba lần, được tặng giải thưởng Gia Long. Nay trong
    nước Vang Bóng Một Thời vẫn là một tác phẩm được độc giả vô cùng hâm
    mộ: năm 1988 nhà xuất bản Văn Học đã tái bản lần thứ sáu với 30.000 cuốn
    bản giấy đẹp, bìa cứng.
    Toàn bộ tác phẩm gồm mười một truyện hay bài được xếp theo thứ tự như
    sau: Chém Treo Ngành, Những Chiếc Ấm Đất, Thả Thơ, Đánh Thơ, Ngôi
    Mả Cũ, Hương Cuội, Chữ Người Tử Tù, Ném Bút Chì, Chén Trà Trong
    Sương Sớm, Một Cảnh Thu Muộn, Báo Oán. Tác phẩm gồm hai loại đề tài
    chính: tàn bạo, phũ phàng rùng rợn và thanh tao nhẹ nhàng thi vị. Tôi xin đề
    cập theo thứ tự hai thể loại ấy như sau: Chém Treo Ngành, Ném Bút Chì,
    Chữ Người Tử Tù, Báo Oán, Hương Cuội, Chén Trà Trong Sương Sớm,
    Những Chiếc Ấm Đất, Một Cảnh Thu Muộn, Ngôi Mả Cũ, Thả Thơ, Đánh
    Thơ .
    CHÉM TREO NGÀNH
    Đây là bài đầu tiên của tác phẩm, Nguyễn Tuân ngụ ý cho là hay nhất nhưng
    lạ thay nó lại ít được các nhà phê bình như Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan,
    Phạm Thế Ngũ . . . ca ngợi. Trong cuốn Nguyễn Tuân, Về Tác Giả Và Tác
    Phẩm, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội năm 2001, dầy 600 trang khổ lớn,
    gồm trên 100 bài nói về Nguyễn Tuân, Chém Treo Nghành cũng không được
    các nhà phê bình trong nước chú ý bằng các truyện khác.

    Đây là một đề tài tàn bạo, phũ phàng, rùng rợn hoàn toàn trái ngược với tinh
    thần nhẹ nhàng thanh tao của các nghệ thuật cầm, kỳ, thi, tửu vì nó là một
    nghệ thuật giết người, chém người ngọt như chuối vậy. Nguyễn Tuân ẩn núp
    dưới chiêu bài làm sống lại một nghệ thuật cổ để phơi bầy tội ác ghê tởm,
    rùng rợn của thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước vời loài người.
    Bát Lê là một tay đao phủ có tiếng, chuyên xử dụng thanh quất, loại kiếm hai
    lưỡi nay đã về già, mỗi lần có án trảm, ông chỉ ra pháp trường cho có mặt,
    việc đã có người khác đỡ tay. Nhưng nay quan lớn Đổng lý Quân vụ gọi vào
    cho biết có mười hai tên tử tù sắp phải bị hành hình, quan công sứ (thực dân)
    muốn được thị kiến. Bát Lê có tài chém đầu rất ngọt, chỉ một nhát lướt qua là
    đứt cổ nhưng vẫn còn dính một làn da.
    Thế là Bát Lê được phép vào vườn chuối để tập luyện cho thuận tay. Đến
    ngày hành hình, Bát Lê hoa thanh quất, mười hai cái đầu của tội nhân bị chẻ
    gục xuống, không một giọt máu vấy vào áo hắn, Bát Lê được quan công sứ
    thưởng mấy cọc bạc đồng bà lão.
    So với toàn bộ Vang Bóng Một Thời, Chém Treo Nghành đã được Nguyễn
    Tuân diễn tả kỹ lưỡng, tỉ mỉ, trong sáng và trang trọng; từ tả cảnh cho đến lối
    hành văn đều đã được chăm sóc tận tình. Ngay khi mở đầu tác giả đã tạo cho
    bài một không khí rùng rợn, quái đản qua tiếng hát tẩy oan của tên đao phủ,
    ngụ ý hắn vô tội.
    Trời nổi cơn lốc
    Cảnh càng u sầu
    Tiếng loa vừa dậy
    Hồi chuông mớm mau
    Ta hoa thanh quất
    Cỏ xanh đổi màu
    Sống không thù nhau
    Chết không oán nhau
    Thừa chịu lệnh cả

    Dám nghĩ thế nào
    Người ngồi cho vững
    Cho ngọt nhát dao
    Hỡi hồn!
    Hỡi quỉ không đầu
    Ngay khi Bát Lê còn tập luyện tại vườn chuối, sự diễn tả đã đủ thể hiện sự
    phũ phàng tàn bạo của tội ác:
    Bát Lê lại tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dẫy bên trái,
    Bát Lê thuận đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân
    cây thứ hai gục xuống nữa như một thân hình người quì, chịu tội. Thế rồi
    vừa hát vừa chém bên trái, vừa chém bên phải, Bát Lê đã hát hết mười bốn
    câu, và đánh gục mười bốn cây chuối.
    Để tăng phần hồi hộp, rùng rợn Nguyễn Tuân đã tả cảnh rất trịnh trọng, cảnh
    tĩnh cũng như hoạt cảnh.
    Trước nhà rạp người ta đã chôn sẵn mười hai cái cọc tre bị vồ gỗ đập mạnh
    xuống toét cả đầu. . . . . . . .
    . . . . Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thì sáng hơn nền trời. Nền trời vẩn
    những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình quái lạ. Những bức tranh mây chó
    mầu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt.
    Mọi người chờ đợi một cái gì.
    Tác giả đã vô cùng khéo léo tả chân kỹ kưỡng sự chuẩn bị cho cuộc hành
    quyết để che mắt bọn kiểm duyệt, bọn thám tử thực dân, ông đã thành công
    trong sự tố cáo tội ác man rợ của bọn chúng như sau:
    Lũ tử tù bị trói giật cánh khuỷu, quì gối trên mặt đất, khom khom lưng, xếp
    theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần
    việc ở bãi đoạn đầu đang bóp hông, nắn xương cổ và tuốt cho mềm sống
    lưng lũ tử tù. Họ cần om thế nào cho tội nhân lúc quì phải để được gót chân
    đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế tử tù sẽ phải rướn mình
    lên mà nhận lấy lưỡi đao thả mạnh xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người
    dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi người họ.

    Những người bị hành hình là dư đang của giặc Bãi sậy, những nhà ái quốc sa
    cơ thất thế, bằng nghệ thuật tả chân đường gươm tuyệt diệu của tên đao phủ,
    Nguyễn Tuân đã thành công trong sự tố cáo hành động bạo ngược của bọn
    sát nhân, chúng đã nhẫn tâm lấy việc giết người làm trò chơi tiêu khiển.
    Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm,
    thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!
    Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan
    với hồn con tội. Trong nhà rạp, các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lờ rờn rợn,
    quan công sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù múa hát
    đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quì kia chẻ gục đến đấy, những tia máu
    phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một
    chiếc thủ cấp nào rụng xuống.
    Nguyễn Tuân và Thạch Lam những nhà văn Việt Nam đầu tiên xử dụng lối
    mô tả tàn bạo y như Sholokhov trong tác phẩm vĩ đại Sông Don Thanh Bình
    (The Quiet Don) với những đường gươm bửa đôi đầu địch thủ, bằng những
    nét chấm phá tuyệt diệu tác giả đã tô điểm thêm bản cáo trạng tội ác của bọn
    sát nhân như sau.
    Bát Lê làm xong công việc, không nghỉ ngơi, chạy tuốt vào đứng trước nhà
    rạp. Bấy giờ quan Công Sứ mới nhìn kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây
    lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên quần áo trắng của y không một
    giọt máu phun tới, quan Công sứ gật gù hỏi quan Tổng Đốc để nhớ lấy tên
    họ một người đao phủ có lối chém treo nghành rất ngọt. Ngài thưởng cho
    Bát Lê mấy cọc bạc đồng bà lão.
    Tác giả đã ẩn mình vô cùng khéo léo dưới cách mô tả nghệ thuật hành hình
    để tố cáo tội ác của bọn sát nhân khát máu với nhân loại ngày một cao và
    nhiều hơn, ông đã qua mặt được cặp mắt cú vọ của bọn kiểm duyệt.
    Lúc quan Lưu Trú gần cầm mũ áo từ về tòa sứ, quan Đổng lý Quân vụ còn
    ân cần buộc ông thông ngôn Nam Kỳ dịch cho đủ câu này.
    -Bẩm quan lớn, chém treo nghành như thế này là phải lựa vào những lúc việc
    quân quốc thanh thản, số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhộn nhạo quá, tử tù
    đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào
    cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quì hướng về một chiều. Đại để nó cũng như là
    cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà róc
    ngang như người ta róc mắt mía.

    Thuật chém treo nghành của Nguyễn Tuân khiến tôi lại nhớ đến thuật sử sóc
    siên của bọn Thổ Nhĩ Kỳ khi chúng cai trị Nam Tư hồi thế kỷ thứ 18 trong
    cuốn tiểu thuyết bất hủ Cầu Sông Drina (Il est un pont sur le Drina) của nhà
    văn Nam Tư Ivo Andrich viết năm 1945, được giải Nobel văn chương năm
    1961 mà ông Phạm Công Thiện đã cho là giải văn chương xứng đáng nhất
    trong vòng mười năm qua.
    Họ trói kẻ tử tù bắt nằm xuống đất rồi lấy một cây cọc vót nhọn đầu bịt sắt
    đóng từ hậu môn đóng lên. Tên đao phủ là một tay rất thiện nghệ, hắn đóng
    rất khéo khiến cho mũi nhọn nằm giữa xương sống và các bộ phận trọng yếu
    như tim, gan, phèo, phổi. . . nó không đụng vào xương sống và các bộ phận
    ấy để khiến cho tên tử tội phải chết ngay. Hắn đóng từ từ cho cọc lên đến tận
    cổ mà tội nhân vẫn còn sống. Khi ấy chúng đem dựng cọc nơi bờ sông để răn
    đe nhân dân, những kẻ dám chống lại chúng, nạn nhân phải chịu đau đớn hai
    ngày sau mới chết.
    Ivo Andrich cũng như Nguyễn Tuân đã tả chân kỹ lưỡng những nghệ thuật
    giết người kinh hoàng khủng khiếp ấy để tố cáo với nhân loại tội ác và thú
    tính của bọn thực dân bạo ngược. Mặc dù phải vượt qua hàng rào kiểm duyệt
    gai góc của thực dân, Nguyễn Tuân vẫn lém lỉnh đưa vào đoạn kết những lời
    tiên tri cũng như ước vọng của ông về ngày tàn của chế độ thực dân đại gian
    đại ác.
    Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu còn dính vào cổ
    người chết quì kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán, nổi lên một trận gió lốc
    xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn
    gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi. Trận gió soắn hút cát, bụi lên,
    xoay vòng quanh đám tử thi.
    Bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân.
    Lối hành văn cổ kính, chịu ảnh hưởng của truyện Tam Quốc, Tây Hán Chí. .
    . Bố cục sáng sủa, khoa học, tả cảnh linh hoạt, sống động . . khiến cho Chém
    Treo Ngành trở thành tùy bút nổi bật nhất trong Vang Bóng Một Thời, đã
    được coi như một trong những áng văn tuyệt diệu nhất của nền văn chương
    Việt Nam.
    Tôi thiết nghĩ chúng ta cũng nên phiên dịch tác phẩm ấy ra các tiếng ngoại
    ngữ để tố cáo tội ác tầy trời của bọn thực dân, để cho cả thế giới thấy cái bộ
    mặt ghê tởm của chúng, bọn thực dân thường huyênh hoang ta đây yêu
    chuộng công bằng, bác ái, đi truyền bá văn minh nhưng thực chất chúng chỉ

    là bọn uống máu người không tanh đã đem cảnh máu chảy thịt rơi ra làm trò
    tiêu khiển y như những tên bạo chúa La Mã ngày xưa vậy.
    NÉM BÚT CHÌ
    Trong truyện này Nguyễn Tuân diễn tả những môn võ nghệ cao cường của
    bọn ăn cướp thời ấy: Ném bút chì, tức là phóng một cái mai (cây xuổng lưỡi
    bằng đào đất) để giết địch thủ, cán mai có buộc sợi dây thừng, phóng tới mục
    tiêu rồi giật cái mai trở lại. Lý Văn nhân vật chính, tên trùm đảng cướp là tay
    ném bút chì giỏi nhất, hắn có thể phóng cây mai cắt đứt hai chân con gà
    nhưng còn chừa lại một làn da y như chém treo nghành vậy.
    Toàn bài có một vẻ uy nghi như không khí hào hùng của truyện Thủy Hử với
    những tay giang hồ hảo hán như Tống Giang, Triệu Cái . . . Tác giả đã làm
    sống lại cái thời xa xưa ấy qua buổi sinh hoạt của bọn cướp trước khi chúng
    đánh một mẻ lớn vào tối hôm ấy. Bọn ở Kim Sơn và bọn ở Tam Tổng đến
    tìm Lý Văn, trong đó Cai Xanh là tay chơi nổi tiếng ở vùng Thanh nội,
    Thanh Ngoại, những tay anh chị trong đám cướp lớn đều phải phục tài nghệ
    hắn, Nguyễn Tuân mô tả về huyền thoại con dao hai lưỡi của Cai Xanh như
    sau.
    Trong những phút rất nguy nan, phải giết kẻ khác để gỡ lấy mạng mình,
    chưa bao giờ Cai Xanh chịu phóng dao và bỏ dao lại trên chiến địa. Hóa cho
    nên con dao đó, sau những khi cắm ngập vào thớ thịt còn nóng hổi giòng
    máu của bao nhiêu tử thi, dao đó lại trở lại nằm trong hầu bao của Cai Xanh.
    Chung quanh con dao thép sáng ngời, một huyền sử kinh sợ đã bao chùm.
    Hôm sau, phó Kinh tay phóng bút chì có tiếng lại tìm Lý Văn, cả bọn Tam
    Tổng và Kim Sơn cùng kéo tới nhà Lý Văn, họ cùng đánh chén rượu thịt. .
    phó Kinh trổ tài.
    Phó Kinh cuộn mấy vòng dây thừng dài đến mấy sải vào cánh tay trái. Bàn
    tay trái y nắm chắc cổ cán mai, bàn tay phải y giữ đốc ngọn mai.
    -Đàn anh thử xem hạ cây chuối phía bên trái.
    Bỗng một tiếng phập, thân trên cây chuối đã gục xuống mặt đất, kêu đánh
    roạt.
    Rồi hắn dựt cái mai nằm gọn trong tay, hắn biểu diễn một đường nữa hạ
    buồng chuối nhưng quá tay đứt nửa thân cây chuối. Lý Văn tay nghề rất cao
    so với phó Kinh, hắn nói có khi phải nhẹ tay vì chỉ cần đánh dọa người ta

    thôi, Lý Văn bèn phóng bút chì vào một con gà, vết thương gọn gàng vừa
    đúng quãng đầu gối, cặp giò chưa đứt hẳn còn một lần da y như chém treo
    nghành.
    Tay nghề của tên trùm cướp được diễn tả như sau.
    Lý Văn gác mai nói với cả bọn.
    -Nếu mình ném mạnh tay quá và không biết tính sức đi của “bút chì”là nát
    mất gà. Các chú không phải đánh những “tiếng bạc” vào sinh ra tử, các chú
    không biết chứ đòn “bút chì”khó khiến lắm. Và một cây “bút chì”ngang tàng
    như thế mà phải lụy một cành tre đấy. Chú nào hay xử cây “bút chùng”ở các
    đường độc đạo, nên cẩn thận khi thấy bên địch tung cành tre ra để phá “bút
    chì”. Để hôm nào rảnh, anh sẽ dậy cho các chú tập đánh cái lối đón bơi chèo
    bằng gỗ cau. Đánh đến đòn hỗn chiến ấy thì đầu người rụng cứ như sung.
    Nguyễn Tuân không có ý ca ngợi bọn cướp nhưng chỉ mô tả những đòn,
    thuật cao tay của chúng. Chắc là tác giả đã nghe các bậc cha ông kể lại
    chuyện tại những vùng miền Thanh Hoá, nơi ông đã theo gia đình sinh sống
    tại miền Trung. Ném Bút Chì đã mô tả một cách sinh động những món võ
    nghệ cao cường của các tay giang hồ hảo hán khiến ta như thấy hiện ra cái
    không khí hào hùng của Thủy Hử với Tống Giang, Triệu Cái. .
    CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
    Truyện một viên quan cai ngục hâm mộ chữ viết đẹp của tên tử tù, một
    người văn võ song toàn, xin cho được thủ bút của người ấy, tác giả ca ngợi
    thú chơi chữ của viên quan.
    Một viên quan cai ngục tại tỉnh Sơn nhận được sáu tên tù tội chết chém,
    đứng đầu là Huấn Cao, người có tài viết chữ đẹp, văn võ song toàn. Viên
    quan sai một người thơ lại mang rượu thịt biệt đãi người tử tù, Huấn cao tỏ
    vẻ bực mình không muốn nhận nhưng viên quản ngục vẫn vui vẻ không cáu
    giận ông với hy vọng ông sẽ dịu tính nết để viết cho mình mấy chữ trên chục
    vuông lụa. Một buổi chiều viên quan nhận được lệnh giải Huấn Cao và các
    đồng chí vào kinh, sai thơ lại vào nói cho Huấn Cao biết, ông nói từ trước
    đến nay chỉ viết có vài bộ chữ cho mấy người bạn thôi, cảm kích vì tấm lòng
    hâm mộ của viên quản ngục, Huấn cao bằng lòng cho chữ trên tấm lụa trắng
    rồi đĩnh đạc bảo.
    -Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chỗ ở đi, chỗ này không phải
    là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn rõ ràng

    như thế. Thoi mực, kiếm được ở đâu tốt và thơm lắm. Thầy có thấy mùi
    thơm ở chậu mực bốc lên không?. . . ta bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về
    nhà quê mà ở đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ, ở đây khó giữ thiên
    lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.
    Theo các nhà phê bình trong nước Huấn Cao chẳng ai khác hơn là Cao bá
    Quát, con người bất đắc chí đi làm cách mạng chống lại chế độ phong kiến,
    họ nói Nguyễn Tuân là người yêu nước ca ngợi tinh thần phản kháng của
    Huấn cao. Theo tôi biết Nguyễn Tuân không có mục đích nào khác hơn là
    diễn tả tấm lòng yêu nghệ thuật của một viên quan coi ngục, ông ta phải hạ
    mình chiều chuộng một tên tử tù để xin chữ viết, người tử tù tài hoa nổi tiếng
    là văn hay chữ tốt, ông đã bị Huấn cao khinh mạn mà vẫn kiên nhẫn sai thư
    lại mang rượu thịt biệt đãi người tù này cho đến khi xin được chữ viết.
    Các nhà phê bình trong nước chú trọng khen ngợi truyện này rất nhiều, họ
    hay có phong trào, cũng như trong cuốn Thạch Lam Về Tác Giả Và Tác
    Phẩm, nhiều nhà đã khen lấy khen để truyện Hai Đứa Trẻ (Nắng Trong
    Vườn) là độc đáo sâu sắc. . mà thực ra nó lại không được dư luận chung chú
    ý mấy, ta không thấy họ nói nó hay ở chỗ nào. Khi có một hoặc hai nhà phê
    bình khen hay là họ a dua nhau khen lấy khen để.
    BÁO OÁN
    Truyện này nhuốm màu ma quái tựa như không khí quái đản trong Liễu Trai
    Chí Dị của Bồ Tùng Linh hay trong những truyện quái đản của Edgar Poe,
    nhà văn cổ điển Mỹ, truyện cũng có giá trị như một tài liệu về những ngày
    suy tàn của nho học, những năm tháng cuối cùng của cái học nhà nho.
    Khóa trước, tại tỉnh Hà Nam, ông Đầu Xứ Anh bị loại ngay vòng đầu, khóa
    này ông không nạp quyển dự thi mặc dù nhiều người khuyến khích ông
    nhưng ông nhường cho em, Đầu Xứ Em xuôi tỉnh sửa soạn thi. Ba năm trước
    chánh chủ khảo khấn “Báo oán giả tiên nhập, báo ân giả thứ nhập”, oan hồn
    vào báo oán ông Đầu Xứ Anh, một người đàn bà trẻ xõa tóc, ẵm con hiện ra
    dưới lều, kêu khóc, lấy mực đổ vào quyển ông, giữ gịt tay không cho ông
    viết, rồi ông lại thấy nổi cơn đau bụng phải bỏ dở kỳ thi. Nguyên do ông cụ
    thân sinh đã khiến một nàng hầu tự ải khi bà có thai sáu, bẩy tháng, cái âm
    oán sẽ còn theo mãi nếu ông còn dự thi, khóa này ông để ông em đi thi xem
    có còn báo oán nữa không. Hai ông ghé quán cô Phương, cô hàng sách có
    cảm tình với ông anh.
    Ông em vào trường thi, thấy đau bụng, ông đốt vàng tự nhiên nghe tiếng

    cười lanh lảnh, rồi lại mớ tóc xoã, người đàn bà cất tiếng the thé, ông đau
    bụng dữ dội gục xuống . . . người ta điểm trống ngoại hạn.
    Truyện này đúng với cái ý nghĩa vang bóng của một thời đã qua trong khung
    cảnh một khóa thi nho học cuối cùng, Nguyễn Tuân không ca ngợi cái học
    nhà nho lỗi thời hủ lậu nhưng chỉ có tính cách mô tả sự suy tàn của một thời
    kỳ văn học, của một nền văn minh tinh thần đã qua.
    Ở vào buổi giao thời, nếu người ta còn cái lòng công danh, thì khoa thi Mậu
    Ngọ là một cơ hội cuối cùng. Từ Mậu Ngọ trở về sau, sẽ mở một thời khác,
    chữ Hán chỉ còn là một thứ xa xỉ phẩm trong cõi học vấn của một lớp người.
    Từ sau khoa này, cái lều, cái chõng chỉ còn là những vật cổ tích mỗi khi nhắc
    nhỏm tới lại gợi lại một chút nhớ tiếc trong lòng một đám người mệt mỏi còn
    sống thêm một ngày là càng chỉ thêm một ngày bỡ ngỡ với phong hội mới.
    Mặc dù là truyện ma quái nhưng cũng có thể là truyện có thật trong chốn thi
    cử lều chỗng xa xưa, một ông anh văn hay chữ tốt bị báo oán do ông cụ thân
    sinh ăn ở thất đức nên đã hỏng kỳ thi trước, nhường cho ông em đi thi khóa
    sau nhưng rốt cuộc cũng vẫn bị báo oán phá hỏng kỳ này. Ông Đầu Xứ Anh
    đã đi coi đồng cốt biết rằng cái oan hồn của người đàn bà vẫn theo ông mãi.
    Nguyễn Tuân sở trường cả về hai chủ đề rùng rợn cũng như nên thơ thi vị,
    dưới đây là đoạn văn thể hiện không khí quái đản của tác giả.
    Một người đàn bà trẻ, sõa tóc ẵm con, hiện ngay dưới lều, ngay chỗ đầu
    chõng, kêu gào giữ gịt lấy tay không cho viết. Gào khóc chán người đàn bà
    ấy lấy mớ tóc soã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên và cười sằng sặc, lấy
    nghiên mực đổ vào quyển ông.
    Hoặc.
    Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường
    thi. Đấy là lời người thiếp đó lúc ốp vào con đồng khi phụ lên. Nàng xưng là
    cô và gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé “nó còn
    đi thi cô còn báo mãi. Các người hỏi cô muốn gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó
    phạm húy, cho nó bị tội cả nhà kia
    Đây không phải chỉ nói đến chuyện báo oán tại trường thi nhưng nó còn là
    một bài thuật sự đầy đủ về khoa thi cử Hán nho, từ cảnh sĩ tử mang lều
    chõng ra đi đến sinh hoạt tại trường thi, lễ cúng tam sinh trâu, dê, lợn. Có thể
    nói đây là một áng văn chương hay, một tài liệu giá trị về trường thi nho học
    vào lúc suy tàn.

    HƯƠNG CUỘI
    Ngoài cái biệt tài diễn tả không khí quái đản rùng rợn như ta thấy ở các
    truyện trên, Nguyễn Tuân cũng làm sống lại cả một nền văn minh tinh thần
    thanh cao,huy hoàng rực rỡ, một thế giới tao nhã đầy những phong, hoa,
    tuyết, nguyệt . . . như Hương Cuội ở đây.
    Cụ Kép người làng Mọc có thói quen mặc áo lông cừu ra vườn để chăm sóc
    hoa thơm cỏ quí, chiều ba mươi gia đình dọn dẹp để ăn Tết, gói bánh chưng,
    nấu cỗ. . . cụ Kép sai người nô bộc lấy rổ đá cuội trắng đem ra ao rửa sạch,
    lựa những viên tròn để riêng ra, cụ đã cho ngâm thóc lấy mầm nấu kẹo mạch
    nha từ mấy hôm nay. Cụ đã hoàn toàn nhàn rỗi, chỉ thích uống rượu ngâm
    thơ và chơi hoa lan, chăm sóc hoa cỏ tận tình. Hai ông Ấm con trai cụ đang
    phất giấy vào những nan lồng, nồi kẹo mạch nha nấu xong phải đợi canh hai
    mới nguội.
    Bõ già lấy cuội trải trên mặt đất những chậu hoa gần nở rồi lấy những hạt
    cuội tròn bỏ vào nồi kẹo quấn kẹo bọc kín lấy đá, xong đặt trên lượt đá sỏi
    trên nền đất của chậu hoa. Hai ông Ấm úp lồng bàn giấy lên chậu hoa vừa
    lúc cúng giao thừa.
    Năm nay cụ Tú Kép cùng bốn cụ bạn uống rượu với kẹo tẩm mạch nha ngày
    mồng một Tết, các cụ nhận xét phê bình về kẹo, tiệc rượu rồi bàn chuyện văn
    thơ.
    Đây là bài tùy bút thi vị thanh tao nhất của Vang Bóng Một Thời, tác giả đã
    dựng lại cả một thế giới đầy hương thơm ngào ngạt của hương lan, kẹo đá,
    chắc hẳn Nguyễn Tuân đã chịu ảnh hưởng của thi ca đời Đường, của những
    thú vui tao nhã ngâm thơ, vịnh nguyệt.
    Quân tự cố hương lai
    Ưng tri cố hương sự
    Lai nhật ỷ song tiền
    Hàn mai trước hoa vị
    (Vương Duy)
    Bạn từ quê cũ đến, chẳng hỏi han gì hơn là cây hoa mai trước cửa sổ đã nở
    hay chưa? Nghệ thuật mà tác giả đem lòng nuối tiếc lại toàn là những nghệ

    thuật cầu kỳ.
    Cụ Kép thường nói với lớp người bạn cũ rằng có một vườn hoa là một việc
    dễ dàng, nhưng đủ thời giờ mà chăm sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ muốn
    nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối
    đãi với cả đến cái đẹp không bao giờ lên tiếng nói. Như thế mới phải đạo của
    người tài tử. Chứ còn cứ gây được một khoảnh vườn, khuân hoa cỏ ở các nơi
    về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đầy chúng ra mưa nắng với thờ ơ,
    chúng trổ bông không biết đến, chúng tàn lá cũng không hay, thì chơi hoa
    làm gì thêm tội với Chúa Xuân.
    Những nghệ thuật thưởng xuân ấy thật là xa lạ, độc đáo ít ai ngờ tới như đá
    kẹo, tác giả diễn tả tỉ mỉ lúc rửa cuội đến khi bỏ vào nồi kẹo, úp lồng bàn
    giấy lên chậu hoa đầy kẹo để ủ hương thơm lên kẹo. . . . cho đến khi các cụ
    nhắm rượu, thưởng xuân nhai kẹo, làm thơ. . . thật là vô cùng thi vị khiến ta
    như thoáng thấy một niềm nuối tiếc cho những cái hay, cái đẹp của một nền
    văn minh tinh thần rực rỡ nay còn đâu.
    Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất chật hẹp
    từ đêm qua đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ và bõ già đánh
    hơi mũi; những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ bầu không khí trong vắt
    như có ý theo rõi luồng hương thơm đang thấm nhập vào các lớp khí trời.
    Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian.
    Thú chơi hoa lan, uống rượu, ngâm thơ, nhai kẹo mạch nha ướp hương lan. .
    mà tác giả diễn tả tỉ mỉ đượïc thể hiện như một biểu tượng của những cái hay
    cái đẹp đã vang bóng một thời, những cái đẹp thanh tao nay đã bị thời buổi
    nhố nhăng làm cho tiêu hao đi mất.
    Cụ Kép là người thích uống rượu ngâm thơ và chơi hoa lan. Cụ đã tới cái
    tuổi được hoàn toàn nhàn rỗi để dưỡng lấy tính tình. Vì bây giờ trong nhà
    cũng đã thừa bát ăn. Xưa kia cụ cũng muốn có một mảnh vườn để sớm chiều
    ra đấy tự tình. Nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một nhà nho sống vào giữa buổi
    Tây Tầu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao nhiêu
    giá trị tinh thần; nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một kẻ chọn nhầm thế kỷ với
    hai bàn tay không có lợi khí mới, thì riêng cho thân thế, lo cho sự mất còn
    của mình cũng chưa xong, nói chi đến chuyện chơi hoa.
    CHÉN TRÀ TRONG SƯƠNG SỚM
    Đây cũng là một nghệ thuật cầu kỳ, công phu mang nhiều cá tính dân tộc,

    những cái hay, cái đẹp mà tác giả tiếc nhớ có những nét thật độc đáo khiến ta
    có cảm tưởng như đó là nghệ thuật ở một nước non xa lạ.
    Buổi sớm mùa đông cụ Ấm dậy sớm từ lúc còn tối trời để đun nước pha trà.
    Một mình cụ thức trong căn nhà ba gian này để đun nước, Nguyễn Tuân mô
    tả kỹ lưỡng cảnh một ông già ngồi bên hỏa lò để nói lên cái thú của việc đun
    nước, nó cũng là một phần của thú uống trà.
    Trong cảnh trời đất lờ mờ chưa đủ phân phần đêm và phần ngày, ông cụ Ấm
    có cả phong thái một triết nhân ngồi rình bước đi của thời gian.
    Đêm đông dài không cùng, nó mênh mông và tự hết rất chậm chạp.
    Cụ quạt hỏa lò cho than tầu nổ lép bép rồi ngồi nhìn ngọn lửa cháy, nước đã
    sôi, cụ pha trà xong chỉ uống hai chén con là đủ, nghệ thuật pha trà ở đây
    cũng là một nghệ thuật cầu kỳ y như trà đạo của người Nhật: trong cuốn
    phim cổ điển Sayonara, ông thiếu tá Mỹ (Marlon Brando) hỏi cô bạn gái
    Nhật (Mikyo Taka) khi nhìn cảnh pha trà công phu tỉ mỉ.
    -Sao cầu kỳ thế?
    Cô bạn đáp .
    -Cái thú là ở chỗ đó.
    Nghệ thuật của Nguyễn Tuân cũng gặp lại trà đạo của xứ Phù Tang cùng một
    điểm.
    Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho
    mình cũng như pha trà mời khách, cụ ấm đã để vào đấy bao nhiêu công phu.
    Những công phu đó đã trở nên lễ nghi, nếu trong ấm trà pha ngon, người ta
    chịu nhận thấy một chút mùi thơm và một tị triết lý và tâm lý.
    Uống trà tầu đúng phong cách phải là đạm bạc , nhấm nháp, không phải lối
    uống nhanh hết chén này sang chén khác, những người uống trà sành điệu
    cùng uống trà với nhau một cách thanh nhã, chủ nhân phải tự tay mình chế
    nước, cụ Ấm còn nhớ những ngày hầu trà cho quan Đốc, vừa uống trà vừa
    ngâm thơ nữa, các cụ cho rằng đó là cách vận động thần khí để tiết ra ngoài
    những cái nặng nề trong thân thể, đón khí lành của trời đất.
    Lại thêm một cách thức cầu kỳ nữa là lấy những giọt nước đọng trên lá sen,
    phải đi thuyền thúng vét từng giọt trên những lá sen trong hồ mới đủ nước

    pha một ấm trà thơm lành, cầu kỳ chưa từng thấy.
    Chén Trà Trong Sương Sớm, một cái thú uống trà cầu kỳ, vô cùng thi vị qua
    hình ảnh một cậu học sinh đi hốt nước trên lá sen, nó cũng đượm vẻ huyền bí
    thanh đạm qua hình ảnh một cụ đồ nho ngồi bên bếp lửa đun nước pha trà
    ngâm mấy bài thơ đón khí lành đầu tiên của trời đất.
    NHỮNG CHIẾC ẤM ĐẤT
    Bài này cũng nằm trong phạm vi nghệ thuật uống trà nhưng nhấn mạnh về
    cái ấm. Cụ Sáu sai người xuống giếng chùa xin nước về pha trà uống đã gần
    mười năm nay, cứ nước giếng này cụ mới chịu pha trà, cụ nói chỉ có nước
    giếng nhà chùa mới pha được trà ngon, nếu giếng mà cạn thì cụ sẽ đem cho
    không bộ đồ ấm chén.
    Ông cụ phá gần hết cơ nghiệp ông cha, coi phú quí không bằng một ấm trà
    tầu. Một người khách lạ kể chuyện một tên ăn mày cổ quái, hắn chỉ chọn
    những nhà đại phú vào xin ăn, một hôm hắn lại một nhà phú hộ khi họ đang
    đãi khách uống trà, hắn xin được uống trà tầu, họ cho hắn mượn khay, ấm,
    chén rồi phát than tầu cho hắn, người ăn mày đun nước pha trà, uống xong
    hai chén thì nheo mắt lại, hắn chắp tay vái tạ chủ nhân và thưa rằng bình trà
    có lẫn mùi trấu. Người ăn mày đi khỏi đến chiều chủ nhà đánh đổ trà thấy có
    lẫn chừng mươi mảnh trấu, họ giật mình sợ tên ăn mày là dân sành sỏi uống
    trà.
    Cụ Sáu cho rằng tên này đã tiêu cả một sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn
    nên mới sành như thế. Cụ và khách nói về các loại bình trà: Thế Đức gan gà,
    Lưu Bội, Mạnh Thần. Mấy năm sau ông khách đi xa về ghé nhà cụ Sáu, cụ
    đã bán nhà, cụ sa sút, c...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHÚ NAM AN - HÀ NỘI !