Su Ta Chuyen Xua Ke Lai Tap 3 Nguyen Huy Thang Nguyen Nhu Mai Nguyen Quoc Tin

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:41' 20-08-2025
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:41' 20-08-2025
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hậu Lê Thánh Tông và lời tiên tri của Trạng Lường
hà Lê đến đời Lê Thánh Tông đã đạt đến đỉnh cao thịnh
trị. Dưới sự trị vì của ông, vị vua anh minh bậc nhất
trong lịch sử Đại Việt, nước ta đã có bước phát triển toàn
diện, từ việc tổ chức nhà nước, xã hội cho đến việc chăm
lo đời sống của nhân dân. Bản thân nhà vua cũng cảm
thấy yên tâm khi ông nghĩ mình có tới 14 con trai, không sợ thiếu
người nối dõi. Ông thường mãn nguyện nói với các quan: “Trẫm có
lắm con trai, cơ nghiệp sau này vững bền không phải lo gì nữa.”
Không ít người hùa theo tán tụng, riêng Lương Thế Vinh lấy làm lo
cho vua, ông thẳng thắn tâu bày: “Lắm con trai chỉ là đầu mối của
loạn lạc.” Nhà vua có ý không bằng lòng, nhưng nể Lương là người
tài, nói thẳng, nên không phạt tội. Ông chỉ quở trách: “Trạng Lường
tính toán như thần, nhưng lần này khanh lầm rồi. Xưa nay người ta
chỉ thấy không có con nối dõi thì mất cơ nghiệp, làm gì có chuyện
ngược đời như khanh nói!”
Thế rồi, theo quy luật tự nhiên, cả Lương Thế Vinh và Lê Thánh
Tông lần lượt qua đời. Lương Thế Vinh mất trước, nhà vua vô cùng
thương tiếc, làm bài thơ khóc Trạng, trong đó có câu: “Danh lạ còn
truyền để quốc gia”. Một năm sau, đến lượt Lê Thánh Tông ra đi,
nhưng xem ra ông không được hưởng cái chết tự nhiên như Trạng
Lường. Nguyên Lê Thánh Tông có nhiều vợ. Hoàng hậu là bà
Trường Lạc Nguyễn Thị Hằng vốn bị vua xa lánh lâu ngày, nên nuôi
lòng oán hận. Năm 1497, khi Lê Thánh Tông bị bệnh phù thũng, bà
lấy cớ vào thăm bệnh vua, rồi ngầm bôi thuốc độc vào tay xoa lên
những chỗ loét của ông. Do đó bệnh vua càng nặng thêm và chẳng
bao lâu sau thì mất.
Hoàng thái tử Lê Tranh, con trưởng của Lê Thánh Tông với
Hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng lên nối ngôi, tức Lê Hiến Tông, vị vua
thứ sáu nhà Hậu Lê. Là con trưởng, lên ngôi khi tuổi đã chín (vừa
tròn ba giáp), bản thân cũng là người thông minh, nhân hậu, ở ông
hội tụ đủ các yếu tố khiến cho việc làm vua diễn ra suôn sẻ. Ông luôn
tâm niệm Lê Thái Tổ đã gây dựng nên cơ đồ, vua cha đã sắp đặt mọi
việc đâu ra đấy, đến lượt mình chỉ nên lo giữ gìn nếp cũ, đặng làm
sáng rõ công đức của ông cha. Trong những năm ông trị vì, đất nước
yên ổn, không có loạn lạc. Nhà vua chú trọng chăm sóc bảo vệ đê
điều, khai sông, đắp đường; khuyến khích nông dân làm ruộng,
trồng dâu, nuôi tằm; ngăn ngừa tệ quan liêu, nhũng nhiễu chốn quan
trường... Có thể nói, bảy năm dưới thời Lê Hiến Tông mọi việc vẫn y
theo đời Hồng Đức, khác chăng người đứng đầu triều chính không
có được tầm vóc như đức vua Lê Thánh Tông.
Năm 1504, Lê Hiến Tông mất do bệnh nặng. Hoàng thái tử Lê
Thuần lên ngôi, tức Lê Túc Tông, vị vua thứ bảy của triều Lê. Cũng
giống như vua cha, Lê Túc Tông là người hiền hòa, được sử cũ miêu
tả là vị hoàng đế có tính cách “vui điều thiện”. (Ông nguyên là con
trai thứ ba, nhưng do chăm ngoan, hiếu học, nên được vua cha
phong làm Hoàng thái tử kế vị.) Không lâu sau khi lên nối ngôi, ông
đã làm được nhiều việc tốt, như phóng thích phi tần, giảm bớt sức
lao động của nhân dân, giữ vững nền quân chủ, kỉ cương khiến
người dân được sống thanh bình... Nhưng thật không may, cho ông
cũng như cho vương triều, Lê Túc Tông lên ngôi khi 16 tuổi, ở ngôi
mới được nửa năm thì bị bệnh nặng mất. Do chưa có con, nên ông
chỉ định người anh em cùng cha khác mẹ là Lê Tuấn lên ngôi. Di
chiếu của ông có viết về việc này như sau: “Bệnh trẫm chưa khỏi, lo
rằng việc phó thác nặng nề e sẽ không kham nổi. Con thứ hai của
Tiên hoàng đế là Tuấn, là người hiền minh, nhân hiếu, có thể nối
được ngôi chính thống, để thừa kế tổ tông, vỗ về thần dân.”
Thực hiện di chiếu của vua, đầu năm 1505 hoàng tử Lê Tuấn
được đưa lên ngôi, trở thành vị vua thứ tám của nhà Hậu Lê. Song
Lê Tuấn không phải là người “hiền minh, nhân hiếu” như Túc Tông
trông đợi, mà ngược lại, là một ông vua hoang dâm tàn bạo khét
tiếng trong lịch sử Đại Việt. Đó chính là Lê Uy Mục, hay Quỷ Vương,
như dân gian vẫn gọi.
Việc Lê Tuấn lên làm vua không chỉ là một trang sử buồn của đất
nước, mà còn mở đầu cho sự suy vong của nhà Hậu Lê. Từ đây cho
đến khi nhà Lê mất về tay nhà Mạc còn 22 năm nữa, nhưng đó là 22
năm kéo dài trong loạn lạc của một vương triều đã bị tha hóa từ
những năm trị vì của vua Uy Mục. Đồng thời, đây cũng là minh
chứng cho lời tiên đoán ngày nào của Trạng Lường Lương Thế Vinh:
“Lắm con trai chỉ là đầu mối của loạn lạc”!
Quỷ vương Lê Uy Mục
ặc dù đã có di chiếu của Túc Tông đưa người con thứ
hai của Hiến Tông là hoàng tử Lê Tuấn lên kế vị, Hoàng
thái hậu Nguyễn Thị Hằng vẫn kịch liệt phản đối. Lí do
bà đưa ra là Tuấn xuất thân hèn kém, không được giáo
dục tử tế, không có tư chất của bậc vương giả, nên không thể lên
ngôi thiên tử.
Nguyên mẹ của Lê Tuấn là Nguyễn Thị Cận vốn mồ côi cha từ
nhỏ, nhà lại nghèo khó nên phải tự bán mình cho một viên quan ở
Đông Đô. Người này sau phạm tội nên Nguyễn Thị Cận bị triều đình
bắt vào làm nô tì trong Cấm thành. Bấy giờ đang là đời vua Lê Thánh
Tông, Hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng bị vua ghẻ lạnh, phải ở cung
riêng Vĩnh Ninh. Nguyễn Thị Cận được đưa vào hầu Hoàng hậu ở
đó.
Vua Hiến Tông, khi ấy đang là Thái tử vào thăm mẹ, thấy người
nữ tì xinh đẹp liền đem lòng yêu mến ngay từ “cái nhìn đầu tiên”.
Sau ông lấy Nguyễn Thị Cận làm thiếp, có với nàng một người con,
đó chính là hoàng tử Lê Tuấn. Nguyễn Thị Cận sớm qua đời với thân
phận thê thiếp, vì thế nên Tuấn bị bà nội tìm cách gạt bỏ sau khi
Hiến Tông băng hà.
Song triều đình vẫn tuân theo di chiếu của tiên vương. Ngày 22
tháng 1 năm 1505, Lê Tuấn lên ngôi, tức Lê Uy Mục, vua thứ tám của
nhà Hậu Lê.
Một trong những việc làm đầu tiên của tân vương 17 tuổi là giết
hại chính bà nội mình, Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Hằng: Tháng 3
năm 1505, ngay khi chưa ấm chỗ trên ngai vàng, Uy Mục cho quân
đến cung của bà nội giết chết bà. Đồng thời sai giết hai đại thần là Lễ
bộ Thượng thư Đàm Văn Lễ và Đô ngự sử Nguyễn Quang Bật, vì lẽ
các ông này đã theo ý Hoàng thái hậu không muốn đưa Uy Mục lên
làm vua.
Máu hiếu sát của vua lộ rõ từ đấy. Ông thích xem người ta đánh
giết nhau, nên thường tổ chức các cuộc tỉ thí của quân cấm vệ, hay
giữa người hai bên ti Ngự Mã và Ngự Tượng, đến khi có người chết
mới thôi. Đêm đêm, vua cho gọi các cung nhân, phi tần vào bày trò
tiêu khiển, uống rượu say rồi hành lạc ngay tại chỗ, đến khi tan cuộc
mây mưa thì đem giết đi.
Để thỏa mãn thói rông càn, ăn chơi vô độ, Lê Uy Mục dựa vào
bọn nịnh thần, tin dùng đám ngoại thích, đồng thời xua đuổi người
trong tôn thất và công thần về xứ Thanh (đất phát tích của nhà Lê)
cho rảnh mắt. Ông ta còn bí mật sai người trong cung dò xét hết thảy
anh em, chú bác, ai có biểu hiện hay chỉ cần bị vu cho là chống đối
lập tức bị bắt giam, tra khảo.
Sự trác táng của Lê Uy Mục hiện ngay trên mặt. Sử chép rằng,
trong lần sang sứ nước ta, phó sứ thần Trung Quốc là Hứa Thiên
Tích trông thấy Uy Mục, đã làm bài thơ có câu như sau:
An Nam tứ bách vận vưu trường
Thiên ý như hà giáng quỷ vương? (1)
Từ đó, “Vua Quỷ” hay “Quỷ Vương” trở thành tên gọi Lê Uy Mục!
Tức nước vỡ bờ, sự tàn bạo của vua Uy Mục đã gây một làn sóng
bất bình trong dân chúng, quan lại, và nhất là các tôn thất họ Lê bị
bạc đãi, hay người nhà của những người bị hãm hại. Trong số các
nạn nhân của Lê Uy Mục có cả vợ con của Kiến Vương. Ông là con
thứ năm của Lê Thánh Tông, đồng thời là bác ruột của vua, vậy mà
vợ và các con trai ông cũng bị bắt: người con trưởng là Cẩm Giang
Vương Lê Sùng, người con thứ là Giản Tu Công Lê Oanh. Người con
thứ khôn khéo đút tiền cho người canh ngục nên được ra, trốn về
Tây Đô (Thanh Hóa). Ở đây, Lê Oanh được một công thần thất sủng
là Nguyễn Văn Lang lập làm minh chủ, phất cờ chống lại Lê Uy Mục.
Tháng 11 năm 1509, Lê Oanh, khi ấy mới 14 tuổi, đưa quân về Đông
Đô, đánh chiếm kinh thành. Vua Uy Mục liền trả thù bằng cách giết
Lê Sùng và bà mẹ. Tháng Chạp năm Kỉ Tị (1509), Lê Oanh vào được
kinh thành, bắt Lê Uy Mục và bức vua tự tử.
Giết được Lê Uy Mục, Lê Oanh vẫn chưa nguôi giận việc vua giết
hại mẹ và anh mình. Ông sai lấy súng lớn, nhồi thuốc vào, để xác Uy
Mục lên trên rồi đem bắn cho tan xác. Đó là việc làm của Lê Oanh
trước khi tự lập làm vua, tức Lê Tương Dực, vị vua thứ chín nhà Hậu
Lê. Cũng như người tiền nhiệm, ông được sứ Tàu đặt cho một cái
tên, sau trở nên quen thuộc trong dân gian và cả trong sử sách: Vua
Lợn!
Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và giấc mơ Cửu trùng
đài
hững năm lẻ mười của thế kỉ 16...
Kinh thành Đông Đô không còn giữ được vẻ sung túc
như khi còn là “đời vua Thái Tổ, Thái Tông” buổi đầu lập
quốc, cũng không còn dáng vẻ huy hoàng của thời thịnh
trị Lê Thánh Tông mấy chục năm sau. Nhưng dẫu sao đất nước vẫn
được yên bình, nhân dân vẫn được yên ổn làm ăn, sinh sống. Người
dân kinh thành vẫn có thú vui tao nhã tìm đến những nơi danh lam
thắng cảnh để thưởng ngoạn, di dưỡng tinh thần. Hồ Dâm Đàm(1) là
nơi được cả người đất đế đô lẫn khách bốn phương hay đến vào mùa
thu, khi ấy trời xanh, mây trắng, gió thu thổi nhẹ vừa đủ khiến nước
hồ gợn sóng làm xao xuyến lòng người...
Chiều thu hôm ấy có một đám tao nhân mặc khách rủ nhau đến
hồ vãn cảnh, uống rượu bình thơ. Đi nhiều đã mỏi, họ vào một quán
nước bên hồ ngồi nghỉ, hóng những làn gió những tiếng reo hò, la
hét, lẫn trong tiếng trống thúc quân dồn dập. Tiếng động vọng đến
từ phía lòng hồ, thỉnh thoảng lại rộ lên rồi tắt, tắt rồi lại rộ. Loạn ư?
Binh biến ư? Hay đã xảy ra chiến tranh, giặc đánh đến nơi rồi? Liên
tưởng, họ nghĩ đến tin đồn người ta mới kháo nhau, rằng nhà vua
cho đóng chiến thuyền, nhiều lắm, đẹp lắm, không biết để làm gì...
Thôi, hay là có chuyện thật rồi, đánh nhau thật rồi! thu thổi hây hây.
Giữa cảnh tĩnh mạc nơi đây, bỗng nổi lên
Mọi người nhớn nhác, có người đã định bỏ chạy, nhưng định
thần nghe thì quái lạ! Thấy như có cả tiếng đàn bà con gái. Cũng
xung phong, cũng tấn công. Rồi là tiếng cười ngặt nghẽo, rồi lại tiếng
hò reo thắng rồi, thắng rồi...
Thấy lạ, mọi người đánh liều ra sát mép hồ để nhìn cho rõ: Đúng
là có đánh nhau thật, nhưng là đánh trận giả. Trên hồ, dàn thành thế
trận là hai đội chiến thuyền đang xông vào nhau trong một trận giao
tranh. Đứng đầu đôi bên là hai tướng chỉ huy, một người trông to
lớn, oai vệ, vai khoác hoàng bào; người kia mặc cũng rất sang, nhưng
dáng trông thanh tú, yêu kiều giống như đám quân lính.
Đó chính là vua Lê Tương Dực cùng các cung nữ do thứ phi Kim
Phượng, người thiếp yêu của vua chỉ huy, tập đánh trận giả. Ông vua
này có cái thú lạ đời là thích bày những trò vui quái đản cùng cung
nữ. Không dừng lại ở trò đánh trận giả, tiến tới, ông còn bắt cung nữ
khỏa thân, chèo thuyền chơi trên Hồ Tây giữa thanh thiên bạch nhật.
Tất nhiên, những khi ấy nhà vua sai lính cấm vệ ngăn các ngả đường
về phía hồ để không ai được thấy, ngoài ông ta, tấm thân “ngọc ngà”
của người thiếp yêu cùng các cung nữ xinh đẹp...
Lê Tương Dực tên húy là Oanh, con trai của Kiến Vương Lê Tân.
Kiến Vương là con trai thứ năm của Lê Thánh Tông, do vậy Lê
Tương Dực chính là cháu nội của đức vua anh minh, mặc dù xem ra
ông ta không xứng đáng chút nào. Công bằng mà nói, Lê Oanh là một
người có cơ mưu. Là con thứ của Kiến Vương, sau khi cha mất ông
được phong tước Giản Tu Công. Đến thời Lê Uy Mục, Lê Oanh bị bắt
giam cùng với mẹ và anh trai Lê Sùng, do nhà vua chủ trương triệt
bớt những người trong tôn thất có thể gây nguy hiểm cho ngai vàng
của mình. Tuy còn ít tuổi, Oanh đã tỏ ra rất khôn ngoan khi dùng bạc
đút cho lính canh ngục và thoát được ra ngoài. Trốn về đến Tây Đô
(Thanh Hóa), ông được một đại thần thất sủng là Nguyễn Văn Lang
lập làm minh chủ để chống lại vua Uy Mục. Lê Oanh ra hiệu triệu kể
tội Quỷ Vương, lấy danh nghĩa anh trai là Cẩm Giang Vương Lê Sùng
phất cờ khởi nghĩa. Khi đó ông mới 14 tuổi.
Về việc mạo tên này có người khen kẻ chê, nhưng rõ ràng là có lợi
vì Giản Tu Công Lê Oanh khi ấy còn quá ít tuổi, lại là con thứ, trong
khi anh trai vừa hơn về tuổi đời vừa hơn về vị thế (tước vương),
chắc chắn sẽ được nhiều người theo hơn.
Tháng 11 năm 1509, Lê Oanh kéo quân về đánh thành Đông Đô.
Nghe tin, Lê Uy Mục tức giận sai giết mẹ và anh trai ông là Lê Sùng
để trả thù. Điều đó khiến Lê Oanh càng căm phẫn, ra sức thúc quân
đánh thành. Ngày 1 tháng Chạp năm Kỉ Tị (1509), quân của Giản Tu
Công đại thắng, tiến vào thành Đông Đô. Giản Tu Công bắt được Lê
Uy Mục, bắt vua tự tử, rồi tự lập làm vua, tức Lê Tương Dực, vị vua
thứ chín nhà Hậu Lê. Ông lấy niên hiệu là Hồng Thuận, giống với
chữ đầu trong niên hiệu của ông nội mình là Hồng Đức.
Thời gian đầu trên ngôi báu, Lê Tương Dực xem ra là một tân
vương khá có trách nhiệm. Sách Đại Việt sử kí toàn thư có viết về
ông như sau: “Vua buổi đầu lên ngôi, ban hành giáo hóa, thận trọng
hình phạt, cũng đáng coi là có công nghiệp.” Một trong những việc
tốt mà nhà vua làm được là cho soạn bộ Việt giám thông khảo: Năm
1510, một năm sau khi lên ngôi, Lê Tương Dực sai Thượng thư Vũ
Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Đại Việt
thông giám hay Việt giám thông khảo. Bộ sách gồm 26 quyển, chép
từ kỉ Hồng Bàng đến đầu thời Lê Thái Tổ. Theo Phan Huy Chú, bộ
sách này được đánh giá là “quy mô và đúng với kinh, trúng với sử”.
Năm sau nữa, vua lại cho ban hành bộ Trị bình bảo phạm gồm 50
điều, trong đó nêu việc củng cố kỉ cương, giáo hóa, cẩn thận hình
phạt để ngăn ngừa lòng dân, khắc phục tình trạng rối loạn do đời
trước gây ra...
Trong những “cái được” của Lê Tương Dực cho đến khi ấy, không
thể không kể đến vai trò của các vị đại thần đã hết lòng phò tá. Đó là
Nghĩa quận công Nguyễn Văn Lang, em vợ vua Lê Thánh Tông,
người đã hậu thuẫn cho Lê Tương Dực từ khi mới thoát khỏi sự
giam cầm của Lê Uy Mục cho đến khi khởi binh thắng lợi rồi lên làm
vua; đó là Lại bộ Thượng thư Lương Đắc Bằng, người đã thảo hịch
kể tội Lê Uy Mục khiến cho mọi người nức lòng theo về với Lê
Tương Dực; đó còn là Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, viên tướng
dũng lược đã lập công lớn trong việc đánh đổ Lê Uy Mục, rồi lại giúp
Lê Tương Dực dẹp loạn sau khi lên ngôi... Nhưng rồi lòng người thay
đổi, mọi sự khó lường. Lê Tương Dực dần dần đi vào con đường ăn
chơi xa xỉ, hoang dâm vô độ. Về phương diện này, ít có vua nào trong
lịch sử Việt Nam để lại nhiều tai tiếng như ông. Sử cũ chép Lê Tương
Dực từng gian dâm với cung nữ của tiền triều, thậm chí thông dâm
với cả thê thiếp của cha mình. Đầu óc toàn nghĩ những chuyện dâm
dật, ông ta còn bắt cung nữ cởi truồng chèo thuyền ở Hồ Tây như
trên đã nói... Chả trách sứ nhà Minh khi sang phong cho Lê Tương
Dực làm “An Nam quốc vương”, đã bảo vua có tướng lợn: “Quốc
vương An Nam mặt thì đẹp mà người lệch, tính thích dâm, là vua
lợn...” Dân gian cũng theo đó mà gọi Vua Lợn (Trư Vương).
Nhưng có lẽ tên tuổi Lê Tương Dực gắn chặt nhất với việc xây
Cửu trùng đài. Nguyên ở Cẩm Giàng có một người thợ xây dựng tài
ba là Vũ Như Tô. Họ Vũ dùng mía dựng thành hình một tòa đài chín
tầng, trăm nóc, gọi là “Cửu trùng đài” đem dâng vua. Là người thích
hưởng lạc, lại giỏi tưởng tượng, Lê Tương Dực như bắt được của khi
xem mô hình tòa lâu đài. Lập tức ông ra lệnh khởi công xây Cửu
trùng đài, phong Vũ Như Tô làm đô đốc, tổng chỉ huy công trình.
Cửu trùng đài do Vũ Như Tô xây là một công trình có tham vọng
lớn lao bậc nhất trong lịch sử kiến trúc Việt Nam. Để thực hiện tòa
lâu đài chín tầng trăm nóc, Lê Tương Dực đã nghe theo họ Vũ, huy
động hàng vạn thợ thuyền, phu phen, bắt nhân dân cả nước đóng
góp sức người, sức của, gỗ quý, đá quý, đồng đỏ, đồng đen, ngà voi,
đồi mồi... Lại trưng thu xe cộ, tàu thuyền, những phương tiện làm ăn
sinh sống của người dân cho việc đài tải. Bao nhiêu tiền bạc để nuôi
công trình, thóc gạo, muối mắm để nuôi thợ cũng không đủ, ông lại
ra lệnh tăng thuế má các loại, bất chấp mất mùa, lụt lội, loạn lạc
khắp nơi. Các quan thừa dịp đục khoét, tham nhũng, nhưng cũng có
người can gián vua. Ngay đến các quan đại thần thân cận nhất cũng
lấy làm bất bình. Những người như Nguyễn Văn Lang, Lương Đắc
Bằng khuyên vua không được thì chỉ biết ngậm ngùi bất lực hay từ
quan về mở trường dạy học, song cũng có người như Nguyên quận
công Trịnh Duy Sản quyết can vua bằng được. Một lần, do nói quá
lời, ông bị vua bắt tội sai chém, sau mọi người xin mãi mới được tha
cho nhưng bị phạt đánh bằng trượng. Uất quá, Trịnh Duy Sản khởi
binh nổi loạn giết Lê Tương Dực. Coi Cửu trùng đài là nguyên nhân
của mọi sự, và Vũ Như Tô là kẻ mê hoặc vua xây đài, ông sai lính giết
chết Như Tô, phá Cửu trùng đài. Tòa lâu đài mới xây được một
phần, bỗng chốc bị đốt phá tan tành, nhấn chìm trong bể lửa khiến
khói bụi bay khắp kinh thành.
Cửu trùng đài bị phá, mọi người thoát được gánh nặng của một
công trình hao tiền tốn của khiến đất nước khánh kiệt, dân chúng
lầm than, nên ai nấy đều lấy làm hoan hỉ. Nhưng nước ta cũng mất
đi một công trình kiến trúc đầy hứa hẹn; một khi được hoàn thành,
chắc chắn đó sẽ là một tòa lâu đài rất vĩ đại, và đặc biệt, hết sức độc
đáo, có thể trở thành niềm tự hào cho muôn đời về sau. Nhưng thật
đáng tiếc, lịch sử đã xảy ra như vậy, và không thể thay đổi!(2)
Trần Cảo và lời sấm truyền “Phương Đông có thiên
tử khí”
hời vua Lê Tương Dực, ở điện Thuần Mỹ có người làm
chức giám tên là Trần Cảo. Ông vốn người trang Dưỡng
Chân, huyện Thủy Đường (nay là huyện Thủy Nguyên),
Hải Phòng. Nghe lời sấm truyền “phương Đông có thiên
tử khí”, Trần Cảo cho là ứng vào mình(1), bèn quyết định
khởi binh mưu việc lớn.
Ban đầu, ông tụ tập những người tha hương làm vây cánh, trong
đó có nhiều người Chiêm lưu lạc đang phải trốn tránh triều đình. Để
có danh chính ngôn thuận, Trần Cảo tự nhận mình là dòng dõi năm
đời của vua Trần và là ngoại thích của bà Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ vua
Lê Thánh Tông.
Tháng 3 năm 1516, Trần Cảo và con là Trần Cung cùng các thủ hạ
thân tín dấy binh khởi nghĩa ở chùa Quỳnh Lâm. Ông tự cho mình là
Đế Thích giáng sinh, xưng làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Ứng. Mỗi
khi ra trậnn ông mặc áo đen, quân lính đều cạo trọc đầu, để ba chỏm
tóc nên gọi là "quân ba chỏm". Quân của Trần Cảo đông tới vài vạn
người, quân triều đình không sao chống đỡ nổi. Cả một vùng Hải
Dương phía đông lần lượt thuộc về "quân ba chỏm".
Không dừng lại ở “phương Đông”, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng
lan rộng và cũng rất táo tợn. Chỉ trong có mấy tháng, Trần Cảo đã
hai lần tiến đánh kinh thành. Lần đầu, “quân ba chỏm” tiến về Bồ
Đề, uy hiếp Thăng Long. Họ tuy ô hợp nhưng liều chết khiến quân
triều đình rất khốn đốn. Bấy giờ quan đại thần Trịnh Duy Sản vì có
thù riêng với vua, lấy cớ đi đánh Trần Cảo rồi bất ngờ đem quân
quay về, giết chết Lê Tương Dực. Kinh thành náo loạn, binh lính đốt
phá, cướp bóc loạn xạ. Trịnh Duy Sản phải đem vua mới lập là Lê
Chiêu Tông chạy về Tây Đô. Kinh thành bị bỏ ngỏ, Trần Cảo liền đem
quân qua sông tiến vào làm chủ thành Thăng Long. Sau Lê Chiêu
Tông tập hợp lực lượng, kéo quân các trấn về đánh, có cả quân thủy
lẫn quân bộ, Trần Cảo mới chịu bỏ kinh thành, chạy về Trâu Sơn
(thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương).
Tưởng dễ dàng tiêu diệt được “quân ba chỏm”, Trịnh Duy Sản
liền dẫn các tướng đi đánh. Không ngờ bị Trần Cảo lập mưu, đặt
phục binh đánh cho một trận tan tành. Trịnh Duy Sản bị bắt sống
mang về Vạn Kiếp giết chết.
Thắng trận, Trần Cảo lại đem quân tiến đánh kinh thành. Lần
này, do có phần chủ quan, lại gặp phải Trần Chân là một tướng giỏi
của Lê Chiêu Tông, “quân ba chỏm” bị thua nặng. Trần Cảo phải
chạy lên Lạng Nguyên. Quân Trần Cảo và quân triều đình lấy sông
Cầu làm ranh giới. Sau nhiều ngày đánh nhau với Trần Chân không
phân thắng bại, Trần Cảo “truyền ngôi” cho con là Trần Cung. Ông
cạo đầu làm sư, giấu tên để trốn tránh. Mặc dù không biết kết cục
của ông ra sao, nhưng tại các thôn Bảo Lộc, An Lạc, Chu Nguyên
(thuộc phủ Lạng Giang, Bắc Giang) vẫn còn đền thờ Trần Cảo, nên
người ta phỏng đoán ông chết ở đó.
Trần Cung cũng xưng làm vua, tiếp tục chiếm cứ mạn phía đông
chống lại triều đình. Tới năm 1521, ông mới chịu thất bại dưới tay
Mạc Đăng Dung, viên tướng giỏi nhất của nhà Lê. Trần Cung bại
trận chạy lên châu Thất Nguyên rồi bị triều đình tầm nã bắt được,
giải về kinh hành hình.
Khởi nghĩa Trần Cảo là cuộc khởi nghĩa lớn nhất thời Lê Sơ,
được coi là một nguyên nhân khiến cho nhà Lê sụp đổ. Nhiều người
cũng cho rằng, việc ông tin vào lời sấm truyền “phương Đông có
thiên tử khí” để xưng vua phất cờ khởi nghĩa không phải là không có
cơ sở. Bởi Mạc Đăng Dung, người đánh bại con ông cũng xuất thân
từ phương có “khí thiên tử” đó(2), và không lâu sau cũng soán ngôi
nhà Lê, tự lập làm vua(3).
Kiến Vương Tân và các hậu duệ làm vua cuối thời Lê
Sơ
à con thứ năm của Lê Thánh Tông, Kiến Vương Lê Tân đi
vào lịch sử với tư cách là cha của một ông vua và ông nội
của hai ông vua khác.
Sinh năm 1466, đến năm 1471 thì hoàng tử Lê Tân
được cha phong cho tước vương. Tháng 7 năm ấy, đức vua sai Thái
bảo Hộ bộ Thượng thư Lê Cảnh Huy mang kim sách, sắc phong cho
hoàng tử làm Kiến Vương. Khi ấy ông mới lên năm tuổi, không rõ có
nhớ được gì không, nhưng vì ông là hoàng tử con vua nên sự kiện
này được sử sách ghi lại. Cũng từ đấy ông thường được gọi là Kiến
Vương Tân.
Tương truyền, Kiến Vương từ thuở bình sinh đã thông minh hiếu
học. Khi vua Lê Thánh Tông làm thơ thường sai con họa lại. Kiến
Vương còn biên soạn bộ Lạc Uyển thư nhàn, được Phan Huy Chú
bình luận: “Vương là người trầm tĩnh sâu xa, ham học, giỏi văn,
những bài họa thơ ngự chế của vua Lê Thánh Tông có nhiều câu
hay... Cách điệu trong trẻo mà khỏe khoắn, được nhiều người
đương thời khen ngợi.”
Kiến Vương mất năm Nhâm Tuất (1502) dưới thời trị vì của vua
anh Lê Hiến Tông, thọ 36 tuổi. Vua nghỉ chầu 3 ngày, ban cho ông
tên thụy là Trinh Tĩnh.
Đó là tất cả những gì sử sách ghi lại, và có lẽ đó cũng là tất cả sự
nghiệp của ông. Song, như trên đã nói, Kiến Vương Tân được nhớ
đến trước hết bởi những người con, cháu rất đặc biệt của mình –
những ông vua trong lịch sử!
Trong đó người “nổi tiếng” nhất phải kể đến Lê Oanh, con thứ
của Kiến Vương, lên ngôi năm 1509 tức Lê Tương Dực (đã được viết
thành một bài riêng). Một người con khác của Kiến Vương, tuy
không làm vua, nhưng cũng cần được nhắc đến là Cẩm Giang Vương
Lê Sùng, con trai cả của ông. Lê Sùng có hai con là Lê Y và Lê Xuân.
Năm 1516, khi khởi binh giết vua, Trịnh Duy Sản lập Lê Y khi ấy mới
10 tuổi lên làm vua, tức Lê Chiêu Tông. Như vậy, hậu duệ của Kiến
Vương đến đây có thêm cậu cháu đích tôn được đưa lên ngai vàng.
Lê Y làm vua trong bối cảnh loạn lạc, giặc giã nổi lên khắp nơi,
trong đó có cuộc khởi nghĩa lớn của Trần Cảo làm chao đảo vương
triều, dẫn đến sự sụp đổ của nhà Lê.
Khi quân khởi loạn đốt phá Cửu trùng đài, các tướng lập thành
phe phái nổi lên, đua nhau tranh cướp, phá phách kinh thành. Trịnh
Duy Sản phải đem Chiêu Tông chạy vào Tây Đô. Trần Cảo nhân cơ
hội vào chiếm thành Thăng Long. Các tướng tạm gác việc xung đột
để chống Trần Cảo. Trần Cảo thua phải chạy khỏi kinh thành, Lê
Chiêu Tông được đưa về kinh, ra tay thanh trừng các lực lượng phản
loạn.
Trong một lần đi đánh Trần Cảo ở Chí Linh (Hải Dương), Trịnh
Duy Sản bị chết. Trần Cảo lại mang quân về định đánh kinh thành.
May có người con nuôi của Duy Sản là Trần Chân phá được Trần
Cảo ở Gia Lâm. Trừ được mối nguy cho kinh thành, Trần Chân nắm
ngay lấy binh quyền. Bấy giờ trong số những người “phò vua”, Mạc
Đăng Dung tỏ ra là người có tài năng và khôn khéo. Ông dần dần
thâu tóm quyền hành và trở thành một nhân vật trụ cột của triều
đình. Nhận thấy thế lực của Trần Chân, Mạc Đăng Dung tìm cách kết
thân: ông hỏi con gái của Chân cho con trai mình là Mạc Đăng
Doanh, kết thông gia giữa hai nhà Trần - Mạc.
Bấy giờ Lê Chiêu Tông còn ít tuổi, mà uy thế của Trần Chân thì
quá lớn. Vì thế các cận thần khuyên vua nên trừ đi. Chiêu Tông nghe
lời gièm pha, cho triệu Trần Chân vào trong cung cấm, rồi hạ lệnh
đóng các cửa thành lại, sai lực sĩ vây bắt.
Trần Chân bị giết, song vây cánh vẫn còn, các tướng từ Sơn Tây
mang quân về đánh kinh thành, báo thù cho chủ. Chiêu Tông lại phải
triệu thông gia của Trần Chân là Mạc Đăng Dung, khi ấy đang trấn
thủ Hải Dương về cứu. Mạc Đăng Dung kéo quân thuỷ bộ về phá tan
quân khởi loạn ở Từ Liêm. Lê Chiêu Tông phong Đăng Dung làm
Minh Quận công, nhưng trong bụng luôn có ý lo sợ và muốn triệt đi.
Vua bèn mật bàn với các nội thần mời binh sĩ các nơi về đánh Mạc
Đăng Dung.
Một đêm tháng 7 năm 1522, Lê Chiêu Tông cùng các nội thần
chạy đi Mộng Sơn (Sơn Tây) gọi quân Cần vương. Nghe tin, Mạc
Đăng Dung một mặt sai quân đuổi theo, mặt khác lập em vua là Lê
Xuân lên ngôi, tức Lê Cung Hoàng. Từ đấy trong nước có hai vua là
Chiêu Tông và Cung Hoàng, cả hai đều là con cùng cha cùng mẹ của
Cẩm Giang Vương Lê Sùng và là cháu nội của Kiến Vương Tân.
Lê Chiêu Tông được các tướng cũ về “cứu giá”, thanh thế rất lớn,
áp đảo quân của Mạc Đăng Dung. Nhưng sau các tướng bất hoà,
Trịnh Tuy đem vua vào Thanh Hoá để tranh công. Từ đó các tướng
không theo Chiêu Tông nữa, nhiều người bỏ sang theo Đăng Dung.
Sau khi phá được quân của Trịnh Tuy ở Thanh Hóa, giết chết
Trịnh Tuy, tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng Dung bắt được Lê Chiêu
Tông mang về Thăng Long giam, được hơn một năm thì giết đi.
Chiêu Tông bị giết, quân bài Cung Hoàng không cần đến nữa, vì
từ lâu Mạc Đăng Dung đã tính chuyện cướp ngôi nhà Lê. Đăng Dung
giả cách lui về quê ở Cổ Trai (Hải Dương), nhưng thực tế vẫn nắm
triều đình. Tháng 4 năm 1527, Lê Cung Hoàng sai các đại thần cầm
cờ mao tiết, mũ áo, ô lọng, đai ngọc, kiệu tía... đến Cổ Trai phong
Mạc Đăng Dung làm An Hưng Vương. Vua còn tặng ông bài thơ
“Chu Công giúp Thành Vương”, ý muốn ông ta sẽ giúp mình như
Chu Công đời xưa.
Nhưng chỉ hai tháng sau, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai về kinh, bắt
Lê Cung Hoàng nhường ngôi. Triều thần lúc đó hầu hết là người của
Đăng Dung, liền “giúp” vua thảo chiếu nhường ngôi cho họ Mạc.
Ngày 15 tháng 6 âm lịch năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, tức
Mạc Thái Tổ, mở ra nhà Mạc. Cung Hoàng bị giáng xuống làm Cung
Vương, rồi sau cũng bị ép phải tự tử...
Kiến Vương Tân sinh năm 1466, mất năm 1502 khi mới 36 tuổi.
Ông không được trời cho tuổi thọ, âu cũng không có gì phải tiếc
nuối. Nếu ông sống thêm 25 năm nữa, hẳn đã phải chứng kiến hết
chuyện xấu xa của con trai (Lê Tương Dực), đến những chuyện đau
lòng xảy đến với các cháu nội mình. Chưa kể phải chứng kiến kết cục
thật đáng buồn của nhà Lê Sơ(1). May thay cho ông, số phận con
người ta, cũng giống như lịch sử, là không thể thay đổi!
Mạc Đăng Dung - từ đô lực sĩ tới ngôi vua
uối thời Lê Sơ, triều đình mở khoa thi Võ. Hôm ấy, bà
Từ Thục, con quan Thượng thư họ Nhữ cũng đi xem.
Giữa những đô vật bốn phương về tụ hội, bà tình cờ gặp
một chàng trai đánh cá tuổi vừa đôi mươi ở huyện Nghi
Dương lên ứng thí. Đó là một người cao lớn, mặt vuông,
mắt tròn, tiếng nói trầm hùng, ăn mặc rách rưới nhưng có phong độ
đàng hoàng, đĩnh đạc. Vừa làm quen nhau sau dăm ba câu chào hỏi,
nàng Từ Thục cất lời tự trách, tiếng than như phát ra tự đáy lòng:
“Lúc trước chẳng gặp nhau, nay đến đây làm gì!” Bởi bà đã thấy
được ở chàng trai ấy có khí tượng đế vương, sau này ngôi vua ắt về
tay chàng.
Bà Từ Thục từ thời trẻ đã tinh thông lí số, có tài tiên đoán tương
lai. Bà biết rằng khí số nhà Lê đã đến ngày suy và một bậc đế vương
sẽ xuất hiện. Sinh ra trong gia đình quyền quý, lại có khát vọng lớn,
bà hi vọng sẽ lấy được một người làm vua hoặc chí ít cũng sinh được
con có khí thiên tử. Kén chọn mãi bà mới lấy Nghiêm Quận công Văn
Đình. Nhưng sau khi lấy nhau, bà mới biết mình nhầm, vì với người
ấy giỏi lắm chỉ có thể sinh con đến bậc Trạng nguyên. Thế nên bà
càng tiếc khi gặp gỡ chàng trai kia...
Chàng trai ấy chính là Mặc Đăng Dung!
Mạc Đăng Dung làm nghề đánh cá tại làng chài Cổ Trai, huyện
Nghi Dương (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Chàng có sức khỏe lạ
thường, bơi lội như con cá kình, chèo lái thuyền băng băng cả khi
ngược gió. Chàng lại là hậu duệ bảy đời của vị Trạng nguyên hiển
hách Mạc Đĩnh Chi, nhưng nhà thì rất nghèo. Ngay từ thuở còn để
chỏm, Đăng Dung thường được nghe cha kể về sự tích cụ Trạng. Cụ
Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên năm Giáp Thìn (1304), làm quan
thanh liêm, được thăng tới chức cực phẩm. Cụ được cử sang sứ nhà
Nguyên, nhờ tài đối đáp và văn thơ uyên bác đã giữ được uy phong
cho đất nước, làm rạng danh kẻ sĩ Đại Việt. Vua Nguyên phong cho
là Trạng nguyên, vì vậy cụ trở thành “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.
Lần giở lên xa hơn, cụ viễn tổ 16 đời là Mạc Hiển Tích đỗ đầu khoa
văn học thủ tuyển năm Bính Dần (1086) đời vua Lí Nhân Tông. Cụ
cũng được coi là Trạng nguyên, mặc dù thời bấy giờ chưa có danh vị
này. Cụ được tin dùng, làm quan đến chức Thượng thư...
Vốn dòng dõi trâm anh thế phiệt, nhưng sau đận nhà Minh sang
xâm chiếm nước ta, con cháu mấy đời nay đều lâm vào cảnh nghèo,
phải bôn ba về xứ Hải Dương làm nghề chài lưới. Cha mẹ luôn nhắc
nhở Đăng Dung phải cố theo gót các bậc tiên hiền để làm nên nghiệp
lớn. Nhưng bấy giờ triều Lê đã suy tàn, giặc giã nổi lên khắp nơi,
triều đình không trọng văn nữa. Đăng Dung cũng như nhiều kẻ sĩ
khác muốn tiến thân phải theo đường võ nghiệp.
Mạc Đăng Dung còn trẻ, nhưng đã là một đô vật nổi danh khắp
xứ Đông. Ở đâu có đấu vật chàng đều đến ghi danh lên sới để thử
sức và học hỏi. Năm ấy chàng lên kinh thi. Ở môn đấu vật, Đăng
Dung lần lượt hạ các đô vật đến từ các lò vật nổi tiếng trong nước, từ
Phong Châu phía Bắc đến Thức Vụ xứ Nam. Sau khi chàng hạ đô vật
Mai Động, lò vật lừng lẫy ở kinh thành, trống trường thi giục đến ba
hồi vẫn không có ai lên thượng đài đấu với chàng nữa. Mạc Đăng
Dung được xướng loa trúng Đô lực sĩ Võ Trạng nguyên. Trong tiếng
reo hò dậy đất, chàng xin biểu diễn múa đao, môn sở trường. Ánh
đao loang loáng, tiếng xé gió vù vù, bụi đất cuồn cuộn bốc lên. Chiếc
đại đao dài 2,5 mét, nặng 25 cân trong tay chàng nhẹ như món đồ
chơi trong tay trẻ nhỏ. Ai cũng thán phục sức khỏe kinh người và tài
võ nghệ của vị tân Trạng nguyên.(1)
Thế rồi Đăng Dung được sung vào đội quân Túc vệ, khởi sự là
một viên võ quan cấp thấp: cầm lọng che theo xe vua Uy Mục! Chiếc
lọng ấy khá nặng, không phải võ sĩ nào cũng cầm được. Ngoài ra
Đăng Dung còn được giao nhiệm vụ “chấp kích lang”: vác kích theo
bảo vệ vua.
Trải qua ba đời vua, từ một quan võ cấp thấp, nhờ tài trí, mưu
lược, năm 25 tuổi Mạc Đăng Dung được phong Đô chỉ huy sứ đứng
đầu quân Túc vệ. Năm 28 tuổi được tấn phong tước Vũ Xuyên bá.
Năm 33 tuổi được cử đi trấn thủ Sơn Nam, và đến năm 35 tuổi được
thăng Đề đốc, tước Vũ Xuyên Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải
Phòng ngày nay). Do công đánh dẹp cuộc nổi loạn của Lê Do, chiêu
hàng Nguyễn Kính, Hoà...
hà Lê đến đời Lê Thánh Tông đã đạt đến đỉnh cao thịnh
trị. Dưới sự trị vì của ông, vị vua anh minh bậc nhất
trong lịch sử Đại Việt, nước ta đã có bước phát triển toàn
diện, từ việc tổ chức nhà nước, xã hội cho đến việc chăm
lo đời sống của nhân dân. Bản thân nhà vua cũng cảm
thấy yên tâm khi ông nghĩ mình có tới 14 con trai, không sợ thiếu
người nối dõi. Ông thường mãn nguyện nói với các quan: “Trẫm có
lắm con trai, cơ nghiệp sau này vững bền không phải lo gì nữa.”
Không ít người hùa theo tán tụng, riêng Lương Thế Vinh lấy làm lo
cho vua, ông thẳng thắn tâu bày: “Lắm con trai chỉ là đầu mối của
loạn lạc.” Nhà vua có ý không bằng lòng, nhưng nể Lương là người
tài, nói thẳng, nên không phạt tội. Ông chỉ quở trách: “Trạng Lường
tính toán như thần, nhưng lần này khanh lầm rồi. Xưa nay người ta
chỉ thấy không có con nối dõi thì mất cơ nghiệp, làm gì có chuyện
ngược đời như khanh nói!”
Thế rồi, theo quy luật tự nhiên, cả Lương Thế Vinh và Lê Thánh
Tông lần lượt qua đời. Lương Thế Vinh mất trước, nhà vua vô cùng
thương tiếc, làm bài thơ khóc Trạng, trong đó có câu: “Danh lạ còn
truyền để quốc gia”. Một năm sau, đến lượt Lê Thánh Tông ra đi,
nhưng xem ra ông không được hưởng cái chết tự nhiên như Trạng
Lường. Nguyên Lê Thánh Tông có nhiều vợ. Hoàng hậu là bà
Trường Lạc Nguyễn Thị Hằng vốn bị vua xa lánh lâu ngày, nên nuôi
lòng oán hận. Năm 1497, khi Lê Thánh Tông bị bệnh phù thũng, bà
lấy cớ vào thăm bệnh vua, rồi ngầm bôi thuốc độc vào tay xoa lên
những chỗ loét của ông. Do đó bệnh vua càng nặng thêm và chẳng
bao lâu sau thì mất.
Hoàng thái tử Lê Tranh, con trưởng của Lê Thánh Tông với
Hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng lên nối ngôi, tức Lê Hiến Tông, vị vua
thứ sáu nhà Hậu Lê. Là con trưởng, lên ngôi khi tuổi đã chín (vừa
tròn ba giáp), bản thân cũng là người thông minh, nhân hậu, ở ông
hội tụ đủ các yếu tố khiến cho việc làm vua diễn ra suôn sẻ. Ông luôn
tâm niệm Lê Thái Tổ đã gây dựng nên cơ đồ, vua cha đã sắp đặt mọi
việc đâu ra đấy, đến lượt mình chỉ nên lo giữ gìn nếp cũ, đặng làm
sáng rõ công đức của ông cha. Trong những năm ông trị vì, đất nước
yên ổn, không có loạn lạc. Nhà vua chú trọng chăm sóc bảo vệ đê
điều, khai sông, đắp đường; khuyến khích nông dân làm ruộng,
trồng dâu, nuôi tằm; ngăn ngừa tệ quan liêu, nhũng nhiễu chốn quan
trường... Có thể nói, bảy năm dưới thời Lê Hiến Tông mọi việc vẫn y
theo đời Hồng Đức, khác chăng người đứng đầu triều chính không
có được tầm vóc như đức vua Lê Thánh Tông.
Năm 1504, Lê Hiến Tông mất do bệnh nặng. Hoàng thái tử Lê
Thuần lên ngôi, tức Lê Túc Tông, vị vua thứ bảy của triều Lê. Cũng
giống như vua cha, Lê Túc Tông là người hiền hòa, được sử cũ miêu
tả là vị hoàng đế có tính cách “vui điều thiện”. (Ông nguyên là con
trai thứ ba, nhưng do chăm ngoan, hiếu học, nên được vua cha
phong làm Hoàng thái tử kế vị.) Không lâu sau khi lên nối ngôi, ông
đã làm được nhiều việc tốt, như phóng thích phi tần, giảm bớt sức
lao động của nhân dân, giữ vững nền quân chủ, kỉ cương khiến
người dân được sống thanh bình... Nhưng thật không may, cho ông
cũng như cho vương triều, Lê Túc Tông lên ngôi khi 16 tuổi, ở ngôi
mới được nửa năm thì bị bệnh nặng mất. Do chưa có con, nên ông
chỉ định người anh em cùng cha khác mẹ là Lê Tuấn lên ngôi. Di
chiếu của ông có viết về việc này như sau: “Bệnh trẫm chưa khỏi, lo
rằng việc phó thác nặng nề e sẽ không kham nổi. Con thứ hai của
Tiên hoàng đế là Tuấn, là người hiền minh, nhân hiếu, có thể nối
được ngôi chính thống, để thừa kế tổ tông, vỗ về thần dân.”
Thực hiện di chiếu của vua, đầu năm 1505 hoàng tử Lê Tuấn
được đưa lên ngôi, trở thành vị vua thứ tám của nhà Hậu Lê. Song
Lê Tuấn không phải là người “hiền minh, nhân hiếu” như Túc Tông
trông đợi, mà ngược lại, là một ông vua hoang dâm tàn bạo khét
tiếng trong lịch sử Đại Việt. Đó chính là Lê Uy Mục, hay Quỷ Vương,
như dân gian vẫn gọi.
Việc Lê Tuấn lên làm vua không chỉ là một trang sử buồn của đất
nước, mà còn mở đầu cho sự suy vong của nhà Hậu Lê. Từ đây cho
đến khi nhà Lê mất về tay nhà Mạc còn 22 năm nữa, nhưng đó là 22
năm kéo dài trong loạn lạc của một vương triều đã bị tha hóa từ
những năm trị vì của vua Uy Mục. Đồng thời, đây cũng là minh
chứng cho lời tiên đoán ngày nào của Trạng Lường Lương Thế Vinh:
“Lắm con trai chỉ là đầu mối của loạn lạc”!
Quỷ vương Lê Uy Mục
ặc dù đã có di chiếu của Túc Tông đưa người con thứ
hai của Hiến Tông là hoàng tử Lê Tuấn lên kế vị, Hoàng
thái hậu Nguyễn Thị Hằng vẫn kịch liệt phản đối. Lí do
bà đưa ra là Tuấn xuất thân hèn kém, không được giáo
dục tử tế, không có tư chất của bậc vương giả, nên không thể lên
ngôi thiên tử.
Nguyên mẹ của Lê Tuấn là Nguyễn Thị Cận vốn mồ côi cha từ
nhỏ, nhà lại nghèo khó nên phải tự bán mình cho một viên quan ở
Đông Đô. Người này sau phạm tội nên Nguyễn Thị Cận bị triều đình
bắt vào làm nô tì trong Cấm thành. Bấy giờ đang là đời vua Lê Thánh
Tông, Hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng bị vua ghẻ lạnh, phải ở cung
riêng Vĩnh Ninh. Nguyễn Thị Cận được đưa vào hầu Hoàng hậu ở
đó.
Vua Hiến Tông, khi ấy đang là Thái tử vào thăm mẹ, thấy người
nữ tì xinh đẹp liền đem lòng yêu mến ngay từ “cái nhìn đầu tiên”.
Sau ông lấy Nguyễn Thị Cận làm thiếp, có với nàng một người con,
đó chính là hoàng tử Lê Tuấn. Nguyễn Thị Cận sớm qua đời với thân
phận thê thiếp, vì thế nên Tuấn bị bà nội tìm cách gạt bỏ sau khi
Hiến Tông băng hà.
Song triều đình vẫn tuân theo di chiếu của tiên vương. Ngày 22
tháng 1 năm 1505, Lê Tuấn lên ngôi, tức Lê Uy Mục, vua thứ tám của
nhà Hậu Lê.
Một trong những việc làm đầu tiên của tân vương 17 tuổi là giết
hại chính bà nội mình, Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Hằng: Tháng 3
năm 1505, ngay khi chưa ấm chỗ trên ngai vàng, Uy Mục cho quân
đến cung của bà nội giết chết bà. Đồng thời sai giết hai đại thần là Lễ
bộ Thượng thư Đàm Văn Lễ và Đô ngự sử Nguyễn Quang Bật, vì lẽ
các ông này đã theo ý Hoàng thái hậu không muốn đưa Uy Mục lên
làm vua.
Máu hiếu sát của vua lộ rõ từ đấy. Ông thích xem người ta đánh
giết nhau, nên thường tổ chức các cuộc tỉ thí của quân cấm vệ, hay
giữa người hai bên ti Ngự Mã và Ngự Tượng, đến khi có người chết
mới thôi. Đêm đêm, vua cho gọi các cung nhân, phi tần vào bày trò
tiêu khiển, uống rượu say rồi hành lạc ngay tại chỗ, đến khi tan cuộc
mây mưa thì đem giết đi.
Để thỏa mãn thói rông càn, ăn chơi vô độ, Lê Uy Mục dựa vào
bọn nịnh thần, tin dùng đám ngoại thích, đồng thời xua đuổi người
trong tôn thất và công thần về xứ Thanh (đất phát tích của nhà Lê)
cho rảnh mắt. Ông ta còn bí mật sai người trong cung dò xét hết thảy
anh em, chú bác, ai có biểu hiện hay chỉ cần bị vu cho là chống đối
lập tức bị bắt giam, tra khảo.
Sự trác táng của Lê Uy Mục hiện ngay trên mặt. Sử chép rằng,
trong lần sang sứ nước ta, phó sứ thần Trung Quốc là Hứa Thiên
Tích trông thấy Uy Mục, đã làm bài thơ có câu như sau:
An Nam tứ bách vận vưu trường
Thiên ý như hà giáng quỷ vương? (1)
Từ đó, “Vua Quỷ” hay “Quỷ Vương” trở thành tên gọi Lê Uy Mục!
Tức nước vỡ bờ, sự tàn bạo của vua Uy Mục đã gây một làn sóng
bất bình trong dân chúng, quan lại, và nhất là các tôn thất họ Lê bị
bạc đãi, hay người nhà của những người bị hãm hại. Trong số các
nạn nhân của Lê Uy Mục có cả vợ con của Kiến Vương. Ông là con
thứ năm của Lê Thánh Tông, đồng thời là bác ruột của vua, vậy mà
vợ và các con trai ông cũng bị bắt: người con trưởng là Cẩm Giang
Vương Lê Sùng, người con thứ là Giản Tu Công Lê Oanh. Người con
thứ khôn khéo đút tiền cho người canh ngục nên được ra, trốn về
Tây Đô (Thanh Hóa). Ở đây, Lê Oanh được một công thần thất sủng
là Nguyễn Văn Lang lập làm minh chủ, phất cờ chống lại Lê Uy Mục.
Tháng 11 năm 1509, Lê Oanh, khi ấy mới 14 tuổi, đưa quân về Đông
Đô, đánh chiếm kinh thành. Vua Uy Mục liền trả thù bằng cách giết
Lê Sùng và bà mẹ. Tháng Chạp năm Kỉ Tị (1509), Lê Oanh vào được
kinh thành, bắt Lê Uy Mục và bức vua tự tử.
Giết được Lê Uy Mục, Lê Oanh vẫn chưa nguôi giận việc vua giết
hại mẹ và anh mình. Ông sai lấy súng lớn, nhồi thuốc vào, để xác Uy
Mục lên trên rồi đem bắn cho tan xác. Đó là việc làm của Lê Oanh
trước khi tự lập làm vua, tức Lê Tương Dực, vị vua thứ chín nhà Hậu
Lê. Cũng như người tiền nhiệm, ông được sứ Tàu đặt cho một cái
tên, sau trở nên quen thuộc trong dân gian và cả trong sử sách: Vua
Lợn!
Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và giấc mơ Cửu trùng
đài
hững năm lẻ mười của thế kỉ 16...
Kinh thành Đông Đô không còn giữ được vẻ sung túc
như khi còn là “đời vua Thái Tổ, Thái Tông” buổi đầu lập
quốc, cũng không còn dáng vẻ huy hoàng của thời thịnh
trị Lê Thánh Tông mấy chục năm sau. Nhưng dẫu sao đất nước vẫn
được yên bình, nhân dân vẫn được yên ổn làm ăn, sinh sống. Người
dân kinh thành vẫn có thú vui tao nhã tìm đến những nơi danh lam
thắng cảnh để thưởng ngoạn, di dưỡng tinh thần. Hồ Dâm Đàm(1) là
nơi được cả người đất đế đô lẫn khách bốn phương hay đến vào mùa
thu, khi ấy trời xanh, mây trắng, gió thu thổi nhẹ vừa đủ khiến nước
hồ gợn sóng làm xao xuyến lòng người...
Chiều thu hôm ấy có một đám tao nhân mặc khách rủ nhau đến
hồ vãn cảnh, uống rượu bình thơ. Đi nhiều đã mỏi, họ vào một quán
nước bên hồ ngồi nghỉ, hóng những làn gió những tiếng reo hò, la
hét, lẫn trong tiếng trống thúc quân dồn dập. Tiếng động vọng đến
từ phía lòng hồ, thỉnh thoảng lại rộ lên rồi tắt, tắt rồi lại rộ. Loạn ư?
Binh biến ư? Hay đã xảy ra chiến tranh, giặc đánh đến nơi rồi? Liên
tưởng, họ nghĩ đến tin đồn người ta mới kháo nhau, rằng nhà vua
cho đóng chiến thuyền, nhiều lắm, đẹp lắm, không biết để làm gì...
Thôi, hay là có chuyện thật rồi, đánh nhau thật rồi! thu thổi hây hây.
Giữa cảnh tĩnh mạc nơi đây, bỗng nổi lên
Mọi người nhớn nhác, có người đã định bỏ chạy, nhưng định
thần nghe thì quái lạ! Thấy như có cả tiếng đàn bà con gái. Cũng
xung phong, cũng tấn công. Rồi là tiếng cười ngặt nghẽo, rồi lại tiếng
hò reo thắng rồi, thắng rồi...
Thấy lạ, mọi người đánh liều ra sát mép hồ để nhìn cho rõ: Đúng
là có đánh nhau thật, nhưng là đánh trận giả. Trên hồ, dàn thành thế
trận là hai đội chiến thuyền đang xông vào nhau trong một trận giao
tranh. Đứng đầu đôi bên là hai tướng chỉ huy, một người trông to
lớn, oai vệ, vai khoác hoàng bào; người kia mặc cũng rất sang, nhưng
dáng trông thanh tú, yêu kiều giống như đám quân lính.
Đó chính là vua Lê Tương Dực cùng các cung nữ do thứ phi Kim
Phượng, người thiếp yêu của vua chỉ huy, tập đánh trận giả. Ông vua
này có cái thú lạ đời là thích bày những trò vui quái đản cùng cung
nữ. Không dừng lại ở trò đánh trận giả, tiến tới, ông còn bắt cung nữ
khỏa thân, chèo thuyền chơi trên Hồ Tây giữa thanh thiên bạch nhật.
Tất nhiên, những khi ấy nhà vua sai lính cấm vệ ngăn các ngả đường
về phía hồ để không ai được thấy, ngoài ông ta, tấm thân “ngọc ngà”
của người thiếp yêu cùng các cung nữ xinh đẹp...
Lê Tương Dực tên húy là Oanh, con trai của Kiến Vương Lê Tân.
Kiến Vương là con trai thứ năm của Lê Thánh Tông, do vậy Lê
Tương Dực chính là cháu nội của đức vua anh minh, mặc dù xem ra
ông ta không xứng đáng chút nào. Công bằng mà nói, Lê Oanh là một
người có cơ mưu. Là con thứ của Kiến Vương, sau khi cha mất ông
được phong tước Giản Tu Công. Đến thời Lê Uy Mục, Lê Oanh bị bắt
giam cùng với mẹ và anh trai Lê Sùng, do nhà vua chủ trương triệt
bớt những người trong tôn thất có thể gây nguy hiểm cho ngai vàng
của mình. Tuy còn ít tuổi, Oanh đã tỏ ra rất khôn ngoan khi dùng bạc
đút cho lính canh ngục và thoát được ra ngoài. Trốn về đến Tây Đô
(Thanh Hóa), ông được một đại thần thất sủng là Nguyễn Văn Lang
lập làm minh chủ để chống lại vua Uy Mục. Lê Oanh ra hiệu triệu kể
tội Quỷ Vương, lấy danh nghĩa anh trai là Cẩm Giang Vương Lê Sùng
phất cờ khởi nghĩa. Khi đó ông mới 14 tuổi.
Về việc mạo tên này có người khen kẻ chê, nhưng rõ ràng là có lợi
vì Giản Tu Công Lê Oanh khi ấy còn quá ít tuổi, lại là con thứ, trong
khi anh trai vừa hơn về tuổi đời vừa hơn về vị thế (tước vương),
chắc chắn sẽ được nhiều người theo hơn.
Tháng 11 năm 1509, Lê Oanh kéo quân về đánh thành Đông Đô.
Nghe tin, Lê Uy Mục tức giận sai giết mẹ và anh trai ông là Lê Sùng
để trả thù. Điều đó khiến Lê Oanh càng căm phẫn, ra sức thúc quân
đánh thành. Ngày 1 tháng Chạp năm Kỉ Tị (1509), quân của Giản Tu
Công đại thắng, tiến vào thành Đông Đô. Giản Tu Công bắt được Lê
Uy Mục, bắt vua tự tử, rồi tự lập làm vua, tức Lê Tương Dực, vị vua
thứ chín nhà Hậu Lê. Ông lấy niên hiệu là Hồng Thuận, giống với
chữ đầu trong niên hiệu của ông nội mình là Hồng Đức.
Thời gian đầu trên ngôi báu, Lê Tương Dực xem ra là một tân
vương khá có trách nhiệm. Sách Đại Việt sử kí toàn thư có viết về
ông như sau: “Vua buổi đầu lên ngôi, ban hành giáo hóa, thận trọng
hình phạt, cũng đáng coi là có công nghiệp.” Một trong những việc
tốt mà nhà vua làm được là cho soạn bộ Việt giám thông khảo: Năm
1510, một năm sau khi lên ngôi, Lê Tương Dực sai Thượng thư Vũ
Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Đại Việt
thông giám hay Việt giám thông khảo. Bộ sách gồm 26 quyển, chép
từ kỉ Hồng Bàng đến đầu thời Lê Thái Tổ. Theo Phan Huy Chú, bộ
sách này được đánh giá là “quy mô và đúng với kinh, trúng với sử”.
Năm sau nữa, vua lại cho ban hành bộ Trị bình bảo phạm gồm 50
điều, trong đó nêu việc củng cố kỉ cương, giáo hóa, cẩn thận hình
phạt để ngăn ngừa lòng dân, khắc phục tình trạng rối loạn do đời
trước gây ra...
Trong những “cái được” của Lê Tương Dực cho đến khi ấy, không
thể không kể đến vai trò của các vị đại thần đã hết lòng phò tá. Đó là
Nghĩa quận công Nguyễn Văn Lang, em vợ vua Lê Thánh Tông,
người đã hậu thuẫn cho Lê Tương Dực từ khi mới thoát khỏi sự
giam cầm của Lê Uy Mục cho đến khi khởi binh thắng lợi rồi lên làm
vua; đó là Lại bộ Thượng thư Lương Đắc Bằng, người đã thảo hịch
kể tội Lê Uy Mục khiến cho mọi người nức lòng theo về với Lê
Tương Dực; đó còn là Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, viên tướng
dũng lược đã lập công lớn trong việc đánh đổ Lê Uy Mục, rồi lại giúp
Lê Tương Dực dẹp loạn sau khi lên ngôi... Nhưng rồi lòng người thay
đổi, mọi sự khó lường. Lê Tương Dực dần dần đi vào con đường ăn
chơi xa xỉ, hoang dâm vô độ. Về phương diện này, ít có vua nào trong
lịch sử Việt Nam để lại nhiều tai tiếng như ông. Sử cũ chép Lê Tương
Dực từng gian dâm với cung nữ của tiền triều, thậm chí thông dâm
với cả thê thiếp của cha mình. Đầu óc toàn nghĩ những chuyện dâm
dật, ông ta còn bắt cung nữ cởi truồng chèo thuyền ở Hồ Tây như
trên đã nói... Chả trách sứ nhà Minh khi sang phong cho Lê Tương
Dực làm “An Nam quốc vương”, đã bảo vua có tướng lợn: “Quốc
vương An Nam mặt thì đẹp mà người lệch, tính thích dâm, là vua
lợn...” Dân gian cũng theo đó mà gọi Vua Lợn (Trư Vương).
Nhưng có lẽ tên tuổi Lê Tương Dực gắn chặt nhất với việc xây
Cửu trùng đài. Nguyên ở Cẩm Giàng có một người thợ xây dựng tài
ba là Vũ Như Tô. Họ Vũ dùng mía dựng thành hình một tòa đài chín
tầng, trăm nóc, gọi là “Cửu trùng đài” đem dâng vua. Là người thích
hưởng lạc, lại giỏi tưởng tượng, Lê Tương Dực như bắt được của khi
xem mô hình tòa lâu đài. Lập tức ông ra lệnh khởi công xây Cửu
trùng đài, phong Vũ Như Tô làm đô đốc, tổng chỉ huy công trình.
Cửu trùng đài do Vũ Như Tô xây là một công trình có tham vọng
lớn lao bậc nhất trong lịch sử kiến trúc Việt Nam. Để thực hiện tòa
lâu đài chín tầng trăm nóc, Lê Tương Dực đã nghe theo họ Vũ, huy
động hàng vạn thợ thuyền, phu phen, bắt nhân dân cả nước đóng
góp sức người, sức của, gỗ quý, đá quý, đồng đỏ, đồng đen, ngà voi,
đồi mồi... Lại trưng thu xe cộ, tàu thuyền, những phương tiện làm ăn
sinh sống của người dân cho việc đài tải. Bao nhiêu tiền bạc để nuôi
công trình, thóc gạo, muối mắm để nuôi thợ cũng không đủ, ông lại
ra lệnh tăng thuế má các loại, bất chấp mất mùa, lụt lội, loạn lạc
khắp nơi. Các quan thừa dịp đục khoét, tham nhũng, nhưng cũng có
người can gián vua. Ngay đến các quan đại thần thân cận nhất cũng
lấy làm bất bình. Những người như Nguyễn Văn Lang, Lương Đắc
Bằng khuyên vua không được thì chỉ biết ngậm ngùi bất lực hay từ
quan về mở trường dạy học, song cũng có người như Nguyên quận
công Trịnh Duy Sản quyết can vua bằng được. Một lần, do nói quá
lời, ông bị vua bắt tội sai chém, sau mọi người xin mãi mới được tha
cho nhưng bị phạt đánh bằng trượng. Uất quá, Trịnh Duy Sản khởi
binh nổi loạn giết Lê Tương Dực. Coi Cửu trùng đài là nguyên nhân
của mọi sự, và Vũ Như Tô là kẻ mê hoặc vua xây đài, ông sai lính giết
chết Như Tô, phá Cửu trùng đài. Tòa lâu đài mới xây được một
phần, bỗng chốc bị đốt phá tan tành, nhấn chìm trong bể lửa khiến
khói bụi bay khắp kinh thành.
Cửu trùng đài bị phá, mọi người thoát được gánh nặng của một
công trình hao tiền tốn của khiến đất nước khánh kiệt, dân chúng
lầm than, nên ai nấy đều lấy làm hoan hỉ. Nhưng nước ta cũng mất
đi một công trình kiến trúc đầy hứa hẹn; một khi được hoàn thành,
chắc chắn đó sẽ là một tòa lâu đài rất vĩ đại, và đặc biệt, hết sức độc
đáo, có thể trở thành niềm tự hào cho muôn đời về sau. Nhưng thật
đáng tiếc, lịch sử đã xảy ra như vậy, và không thể thay đổi!(2)
Trần Cảo và lời sấm truyền “Phương Đông có thiên
tử khí”
hời vua Lê Tương Dực, ở điện Thuần Mỹ có người làm
chức giám tên là Trần Cảo. Ông vốn người trang Dưỡng
Chân, huyện Thủy Đường (nay là huyện Thủy Nguyên),
Hải Phòng. Nghe lời sấm truyền “phương Đông có thiên
tử khí”, Trần Cảo cho là ứng vào mình(1), bèn quyết định
khởi binh mưu việc lớn.
Ban đầu, ông tụ tập những người tha hương làm vây cánh, trong
đó có nhiều người Chiêm lưu lạc đang phải trốn tránh triều đình. Để
có danh chính ngôn thuận, Trần Cảo tự nhận mình là dòng dõi năm
đời của vua Trần và là ngoại thích của bà Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ vua
Lê Thánh Tông.
Tháng 3 năm 1516, Trần Cảo và con là Trần Cung cùng các thủ hạ
thân tín dấy binh khởi nghĩa ở chùa Quỳnh Lâm. Ông tự cho mình là
Đế Thích giáng sinh, xưng làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Ứng. Mỗi
khi ra trậnn ông mặc áo đen, quân lính đều cạo trọc đầu, để ba chỏm
tóc nên gọi là "quân ba chỏm". Quân của Trần Cảo đông tới vài vạn
người, quân triều đình không sao chống đỡ nổi. Cả một vùng Hải
Dương phía đông lần lượt thuộc về "quân ba chỏm".
Không dừng lại ở “phương Đông”, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng
lan rộng và cũng rất táo tợn. Chỉ trong có mấy tháng, Trần Cảo đã
hai lần tiến đánh kinh thành. Lần đầu, “quân ba chỏm” tiến về Bồ
Đề, uy hiếp Thăng Long. Họ tuy ô hợp nhưng liều chết khiến quân
triều đình rất khốn đốn. Bấy giờ quan đại thần Trịnh Duy Sản vì có
thù riêng với vua, lấy cớ đi đánh Trần Cảo rồi bất ngờ đem quân
quay về, giết chết Lê Tương Dực. Kinh thành náo loạn, binh lính đốt
phá, cướp bóc loạn xạ. Trịnh Duy Sản phải đem vua mới lập là Lê
Chiêu Tông chạy về Tây Đô. Kinh thành bị bỏ ngỏ, Trần Cảo liền đem
quân qua sông tiến vào làm chủ thành Thăng Long. Sau Lê Chiêu
Tông tập hợp lực lượng, kéo quân các trấn về đánh, có cả quân thủy
lẫn quân bộ, Trần Cảo mới chịu bỏ kinh thành, chạy về Trâu Sơn
(thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương).
Tưởng dễ dàng tiêu diệt được “quân ba chỏm”, Trịnh Duy Sản
liền dẫn các tướng đi đánh. Không ngờ bị Trần Cảo lập mưu, đặt
phục binh đánh cho một trận tan tành. Trịnh Duy Sản bị bắt sống
mang về Vạn Kiếp giết chết.
Thắng trận, Trần Cảo lại đem quân tiến đánh kinh thành. Lần
này, do có phần chủ quan, lại gặp phải Trần Chân là một tướng giỏi
của Lê Chiêu Tông, “quân ba chỏm” bị thua nặng. Trần Cảo phải
chạy lên Lạng Nguyên. Quân Trần Cảo và quân triều đình lấy sông
Cầu làm ranh giới. Sau nhiều ngày đánh nhau với Trần Chân không
phân thắng bại, Trần Cảo “truyền ngôi” cho con là Trần Cung. Ông
cạo đầu làm sư, giấu tên để trốn tránh. Mặc dù không biết kết cục
của ông ra sao, nhưng tại các thôn Bảo Lộc, An Lạc, Chu Nguyên
(thuộc phủ Lạng Giang, Bắc Giang) vẫn còn đền thờ Trần Cảo, nên
người ta phỏng đoán ông chết ở đó.
Trần Cung cũng xưng làm vua, tiếp tục chiếm cứ mạn phía đông
chống lại triều đình. Tới năm 1521, ông mới chịu thất bại dưới tay
Mạc Đăng Dung, viên tướng giỏi nhất của nhà Lê. Trần Cung bại
trận chạy lên châu Thất Nguyên rồi bị triều đình tầm nã bắt được,
giải về kinh hành hình.
Khởi nghĩa Trần Cảo là cuộc khởi nghĩa lớn nhất thời Lê Sơ,
được coi là một nguyên nhân khiến cho nhà Lê sụp đổ. Nhiều người
cũng cho rằng, việc ông tin vào lời sấm truyền “phương Đông có
thiên tử khí” để xưng vua phất cờ khởi nghĩa không phải là không có
cơ sở. Bởi Mạc Đăng Dung, người đánh bại con ông cũng xuất thân
từ phương có “khí thiên tử” đó(2), và không lâu sau cũng soán ngôi
nhà Lê, tự lập làm vua(3).
Kiến Vương Tân và các hậu duệ làm vua cuối thời Lê
Sơ
à con thứ năm của Lê Thánh Tông, Kiến Vương Lê Tân đi
vào lịch sử với tư cách là cha của một ông vua và ông nội
của hai ông vua khác.
Sinh năm 1466, đến năm 1471 thì hoàng tử Lê Tân
được cha phong cho tước vương. Tháng 7 năm ấy, đức vua sai Thái
bảo Hộ bộ Thượng thư Lê Cảnh Huy mang kim sách, sắc phong cho
hoàng tử làm Kiến Vương. Khi ấy ông mới lên năm tuổi, không rõ có
nhớ được gì không, nhưng vì ông là hoàng tử con vua nên sự kiện
này được sử sách ghi lại. Cũng từ đấy ông thường được gọi là Kiến
Vương Tân.
Tương truyền, Kiến Vương từ thuở bình sinh đã thông minh hiếu
học. Khi vua Lê Thánh Tông làm thơ thường sai con họa lại. Kiến
Vương còn biên soạn bộ Lạc Uyển thư nhàn, được Phan Huy Chú
bình luận: “Vương là người trầm tĩnh sâu xa, ham học, giỏi văn,
những bài họa thơ ngự chế của vua Lê Thánh Tông có nhiều câu
hay... Cách điệu trong trẻo mà khỏe khoắn, được nhiều người
đương thời khen ngợi.”
Kiến Vương mất năm Nhâm Tuất (1502) dưới thời trị vì của vua
anh Lê Hiến Tông, thọ 36 tuổi. Vua nghỉ chầu 3 ngày, ban cho ông
tên thụy là Trinh Tĩnh.
Đó là tất cả những gì sử sách ghi lại, và có lẽ đó cũng là tất cả sự
nghiệp của ông. Song, như trên đã nói, Kiến Vương Tân được nhớ
đến trước hết bởi những người con, cháu rất đặc biệt của mình –
những ông vua trong lịch sử!
Trong đó người “nổi tiếng” nhất phải kể đến Lê Oanh, con thứ
của Kiến Vương, lên ngôi năm 1509 tức Lê Tương Dực (đã được viết
thành một bài riêng). Một người con khác của Kiến Vương, tuy
không làm vua, nhưng cũng cần được nhắc đến là Cẩm Giang Vương
Lê Sùng, con trai cả của ông. Lê Sùng có hai con là Lê Y và Lê Xuân.
Năm 1516, khi khởi binh giết vua, Trịnh Duy Sản lập Lê Y khi ấy mới
10 tuổi lên làm vua, tức Lê Chiêu Tông. Như vậy, hậu duệ của Kiến
Vương đến đây có thêm cậu cháu đích tôn được đưa lên ngai vàng.
Lê Y làm vua trong bối cảnh loạn lạc, giặc giã nổi lên khắp nơi,
trong đó có cuộc khởi nghĩa lớn của Trần Cảo làm chao đảo vương
triều, dẫn đến sự sụp đổ của nhà Lê.
Khi quân khởi loạn đốt phá Cửu trùng đài, các tướng lập thành
phe phái nổi lên, đua nhau tranh cướp, phá phách kinh thành. Trịnh
Duy Sản phải đem Chiêu Tông chạy vào Tây Đô. Trần Cảo nhân cơ
hội vào chiếm thành Thăng Long. Các tướng tạm gác việc xung đột
để chống Trần Cảo. Trần Cảo thua phải chạy khỏi kinh thành, Lê
Chiêu Tông được đưa về kinh, ra tay thanh trừng các lực lượng phản
loạn.
Trong một lần đi đánh Trần Cảo ở Chí Linh (Hải Dương), Trịnh
Duy Sản bị chết. Trần Cảo lại mang quân về định đánh kinh thành.
May có người con nuôi của Duy Sản là Trần Chân phá được Trần
Cảo ở Gia Lâm. Trừ được mối nguy cho kinh thành, Trần Chân nắm
ngay lấy binh quyền. Bấy giờ trong số những người “phò vua”, Mạc
Đăng Dung tỏ ra là người có tài năng và khôn khéo. Ông dần dần
thâu tóm quyền hành và trở thành một nhân vật trụ cột của triều
đình. Nhận thấy thế lực của Trần Chân, Mạc Đăng Dung tìm cách kết
thân: ông hỏi con gái của Chân cho con trai mình là Mạc Đăng
Doanh, kết thông gia giữa hai nhà Trần - Mạc.
Bấy giờ Lê Chiêu Tông còn ít tuổi, mà uy thế của Trần Chân thì
quá lớn. Vì thế các cận thần khuyên vua nên trừ đi. Chiêu Tông nghe
lời gièm pha, cho triệu Trần Chân vào trong cung cấm, rồi hạ lệnh
đóng các cửa thành lại, sai lực sĩ vây bắt.
Trần Chân bị giết, song vây cánh vẫn còn, các tướng từ Sơn Tây
mang quân về đánh kinh thành, báo thù cho chủ. Chiêu Tông lại phải
triệu thông gia của Trần Chân là Mạc Đăng Dung, khi ấy đang trấn
thủ Hải Dương về cứu. Mạc Đăng Dung kéo quân thuỷ bộ về phá tan
quân khởi loạn ở Từ Liêm. Lê Chiêu Tông phong Đăng Dung làm
Minh Quận công, nhưng trong bụng luôn có ý lo sợ và muốn triệt đi.
Vua bèn mật bàn với các nội thần mời binh sĩ các nơi về đánh Mạc
Đăng Dung.
Một đêm tháng 7 năm 1522, Lê Chiêu Tông cùng các nội thần
chạy đi Mộng Sơn (Sơn Tây) gọi quân Cần vương. Nghe tin, Mạc
Đăng Dung một mặt sai quân đuổi theo, mặt khác lập em vua là Lê
Xuân lên ngôi, tức Lê Cung Hoàng. Từ đấy trong nước có hai vua là
Chiêu Tông và Cung Hoàng, cả hai đều là con cùng cha cùng mẹ của
Cẩm Giang Vương Lê Sùng và là cháu nội của Kiến Vương Tân.
Lê Chiêu Tông được các tướng cũ về “cứu giá”, thanh thế rất lớn,
áp đảo quân của Mạc Đăng Dung. Nhưng sau các tướng bất hoà,
Trịnh Tuy đem vua vào Thanh Hoá để tranh công. Từ đó các tướng
không theo Chiêu Tông nữa, nhiều người bỏ sang theo Đăng Dung.
Sau khi phá được quân của Trịnh Tuy ở Thanh Hóa, giết chết
Trịnh Tuy, tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng Dung bắt được Lê Chiêu
Tông mang về Thăng Long giam, được hơn một năm thì giết đi.
Chiêu Tông bị giết, quân bài Cung Hoàng không cần đến nữa, vì
từ lâu Mạc Đăng Dung đã tính chuyện cướp ngôi nhà Lê. Đăng Dung
giả cách lui về quê ở Cổ Trai (Hải Dương), nhưng thực tế vẫn nắm
triều đình. Tháng 4 năm 1527, Lê Cung Hoàng sai các đại thần cầm
cờ mao tiết, mũ áo, ô lọng, đai ngọc, kiệu tía... đến Cổ Trai phong
Mạc Đăng Dung làm An Hưng Vương. Vua còn tặng ông bài thơ
“Chu Công giúp Thành Vương”, ý muốn ông ta sẽ giúp mình như
Chu Công đời xưa.
Nhưng chỉ hai tháng sau, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai về kinh, bắt
Lê Cung Hoàng nhường ngôi. Triều thần lúc đó hầu hết là người của
Đăng Dung, liền “giúp” vua thảo chiếu nhường ngôi cho họ Mạc.
Ngày 15 tháng 6 âm lịch năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, tức
Mạc Thái Tổ, mở ra nhà Mạc. Cung Hoàng bị giáng xuống làm Cung
Vương, rồi sau cũng bị ép phải tự tử...
Kiến Vương Tân sinh năm 1466, mất năm 1502 khi mới 36 tuổi.
Ông không được trời cho tuổi thọ, âu cũng không có gì phải tiếc
nuối. Nếu ông sống thêm 25 năm nữa, hẳn đã phải chứng kiến hết
chuyện xấu xa của con trai (Lê Tương Dực), đến những chuyện đau
lòng xảy đến với các cháu nội mình. Chưa kể phải chứng kiến kết cục
thật đáng buồn của nhà Lê Sơ(1). May thay cho ông, số phận con
người ta, cũng giống như lịch sử, là không thể thay đổi!
Mạc Đăng Dung - từ đô lực sĩ tới ngôi vua
uối thời Lê Sơ, triều đình mở khoa thi Võ. Hôm ấy, bà
Từ Thục, con quan Thượng thư họ Nhữ cũng đi xem.
Giữa những đô vật bốn phương về tụ hội, bà tình cờ gặp
một chàng trai đánh cá tuổi vừa đôi mươi ở huyện Nghi
Dương lên ứng thí. Đó là một người cao lớn, mặt vuông,
mắt tròn, tiếng nói trầm hùng, ăn mặc rách rưới nhưng có phong độ
đàng hoàng, đĩnh đạc. Vừa làm quen nhau sau dăm ba câu chào hỏi,
nàng Từ Thục cất lời tự trách, tiếng than như phát ra tự đáy lòng:
“Lúc trước chẳng gặp nhau, nay đến đây làm gì!” Bởi bà đã thấy
được ở chàng trai ấy có khí tượng đế vương, sau này ngôi vua ắt về
tay chàng.
Bà Từ Thục từ thời trẻ đã tinh thông lí số, có tài tiên đoán tương
lai. Bà biết rằng khí số nhà Lê đã đến ngày suy và một bậc đế vương
sẽ xuất hiện. Sinh ra trong gia đình quyền quý, lại có khát vọng lớn,
bà hi vọng sẽ lấy được một người làm vua hoặc chí ít cũng sinh được
con có khí thiên tử. Kén chọn mãi bà mới lấy Nghiêm Quận công Văn
Đình. Nhưng sau khi lấy nhau, bà mới biết mình nhầm, vì với người
ấy giỏi lắm chỉ có thể sinh con đến bậc Trạng nguyên. Thế nên bà
càng tiếc khi gặp gỡ chàng trai kia...
Chàng trai ấy chính là Mặc Đăng Dung!
Mạc Đăng Dung làm nghề đánh cá tại làng chài Cổ Trai, huyện
Nghi Dương (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Chàng có sức khỏe lạ
thường, bơi lội như con cá kình, chèo lái thuyền băng băng cả khi
ngược gió. Chàng lại là hậu duệ bảy đời của vị Trạng nguyên hiển
hách Mạc Đĩnh Chi, nhưng nhà thì rất nghèo. Ngay từ thuở còn để
chỏm, Đăng Dung thường được nghe cha kể về sự tích cụ Trạng. Cụ
Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên năm Giáp Thìn (1304), làm quan
thanh liêm, được thăng tới chức cực phẩm. Cụ được cử sang sứ nhà
Nguyên, nhờ tài đối đáp và văn thơ uyên bác đã giữ được uy phong
cho đất nước, làm rạng danh kẻ sĩ Đại Việt. Vua Nguyên phong cho
là Trạng nguyên, vì vậy cụ trở thành “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.
Lần giở lên xa hơn, cụ viễn tổ 16 đời là Mạc Hiển Tích đỗ đầu khoa
văn học thủ tuyển năm Bính Dần (1086) đời vua Lí Nhân Tông. Cụ
cũng được coi là Trạng nguyên, mặc dù thời bấy giờ chưa có danh vị
này. Cụ được tin dùng, làm quan đến chức Thượng thư...
Vốn dòng dõi trâm anh thế phiệt, nhưng sau đận nhà Minh sang
xâm chiếm nước ta, con cháu mấy đời nay đều lâm vào cảnh nghèo,
phải bôn ba về xứ Hải Dương làm nghề chài lưới. Cha mẹ luôn nhắc
nhở Đăng Dung phải cố theo gót các bậc tiên hiền để làm nên nghiệp
lớn. Nhưng bấy giờ triều Lê đã suy tàn, giặc giã nổi lên khắp nơi,
triều đình không trọng văn nữa. Đăng Dung cũng như nhiều kẻ sĩ
khác muốn tiến thân phải theo đường võ nghiệp.
Mạc Đăng Dung còn trẻ, nhưng đã là một đô vật nổi danh khắp
xứ Đông. Ở đâu có đấu vật chàng đều đến ghi danh lên sới để thử
sức và học hỏi. Năm ấy chàng lên kinh thi. Ở môn đấu vật, Đăng
Dung lần lượt hạ các đô vật đến từ các lò vật nổi tiếng trong nước, từ
Phong Châu phía Bắc đến Thức Vụ xứ Nam. Sau khi chàng hạ đô vật
Mai Động, lò vật lừng lẫy ở kinh thành, trống trường thi giục đến ba
hồi vẫn không có ai lên thượng đài đấu với chàng nữa. Mạc Đăng
Dung được xướng loa trúng Đô lực sĩ Võ Trạng nguyên. Trong tiếng
reo hò dậy đất, chàng xin biểu diễn múa đao, môn sở trường. Ánh
đao loang loáng, tiếng xé gió vù vù, bụi đất cuồn cuộn bốc lên. Chiếc
đại đao dài 2,5 mét, nặng 25 cân trong tay chàng nhẹ như món đồ
chơi trong tay trẻ nhỏ. Ai cũng thán phục sức khỏe kinh người và tài
võ nghệ của vị tân Trạng nguyên.(1)
Thế rồi Đăng Dung được sung vào đội quân Túc vệ, khởi sự là
một viên võ quan cấp thấp: cầm lọng che theo xe vua Uy Mục! Chiếc
lọng ấy khá nặng, không phải võ sĩ nào cũng cầm được. Ngoài ra
Đăng Dung còn được giao nhiệm vụ “chấp kích lang”: vác kích theo
bảo vệ vua.
Trải qua ba đời vua, từ một quan võ cấp thấp, nhờ tài trí, mưu
lược, năm 25 tuổi Mạc Đăng Dung được phong Đô chỉ huy sứ đứng
đầu quân Túc vệ. Năm 28 tuổi được tấn phong tước Vũ Xuyên bá.
Năm 33 tuổi được cử đi trấn thủ Sơn Nam, và đến năm 35 tuổi được
thăng Đề đốc, tước Vũ Xuyên Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải
Phòng ngày nay). Do công đánh dẹp cuộc nổi loạn của Lê Do, chiêu
hàng Nguyễn Kính, Hoà...
 





