Sai Gon xua an tuong 300 nam Tiep can dong bang Song Cuu Long

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:39' 20-08-2025
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:39' 20-08-2025
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
GIỚI THIỆU SÀI GÒN XƯA, Sơn Nam
- In lần thứ nhất, Tạp chí Văn, Sài Gòn, 1973.
- In lần thứ hai, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1995.
ẤN TƯỢNG 300 NĂM, Sơn Nam
- In lần thứ nhất, Nhà xuất bản Trẻ, Tp. HCM, 1998.
TIẾP CẬN VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG,
Sơn Nam
- In lần thứ nhất, Nhà xuất bản Trẻ, Tp. HCM, 2000.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ GIỮ BẢN QUYỀN
Copyright © 2003, 2009 Tre Publishing House Co.Ltd
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Sơn Nam, 1926-2008
Sài Gòn xưa, Ấn tượng 300 năm và Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long
: bút ký / Sơn Nam. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2008.
364tr. ; 20cm.
1. Văn học Việt Nam -- Thế kỷ 20. 2. Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam)
-- Lịch sử. 3. Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) -- Đời sống xã hội và tập quán.
I. Ts: Ấn tượng 300 năm. II. Ts: Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long.
895.9223403 -- dc 22
S698-N17
HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161B LÝ CHÍNH THẮNG - QUẬN 3 - TP. HỒ CHÍ MINH
ĐIỆN THOẠI: 9316211 - 9316289 - 8465595 - 8465596
FAX: 84.8.8437450
E-MAIL: NXBTRE@HCM.VNN.VN
LỜI GIỚI THIỆU
Từ những xóm làng heo hút giữa bạt ngàn rừng lau
sậy hoang vu, đêm đêm bên cạnh tiếng côn trùng rả rích
là tiếng voi gầm, vượn hú, cọp rống, sấu kêu đến những
khu đô thị hiện đại khang trang, ấp làng trù phú, đồng
ruộng thẳng cánh cò bay, Sài Gòn - Bến Nghé xưa nói
riêng và Nam Bộ nói chung đã trải qua 310 năm hình
thành và phát triển.
Trong bề dày lịch sử hình thành và phát triển của
mình, Sài Gòn và Nam Bộ đã bao phen dâu bể, bao lần
đổi thay. Từ những lưu dân thời mở nước đến những
công dân thời dựng nước hôm nay, người Sài Gòn và
Nam Bộ đã hun đúc cho mình bao nhiêu hồn thiêng
sông núi, để dù sống gởi thác về, họ vẫn đau đáu trong
lòng nỗi hoài niệm về một vùng quê xứ, về nơi tổ tiên
bao đời đã từ đó ra đi.
7
SƠNNAM
ẤN TƯỢNG
300 NĂM
SĐI GÌN XƯA
& ĐỒNG BẰNG
SĨNG CỬU LONG
Sống trên quê hương, sống giữa lòng thành phố,
người Nam Bộ nói chung và công dân Thành phố Hồ
Chí Minh nói riêng, từ em bé mới bắt đầu cắp sách đến
trường đến người đã hoàn thành nghĩa vụ, đang an
hưởng tuổi già thảy đều cần biết, cần nhớ, cần hiểu về
nơi chốn mình đang dừng chân, định cư.
Kỷ niệm 310 năm hình thành và phát triển (16982008) Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh và vùng đất
Nam Bộ, Nhà xuất bản Trẻ trân trọng giới thiệu đến
bạn đọc tập bút ký của nhà văn Sơn Nam bao gồm 3 tác
phẩm đã xuất bản được tập hợp lại. Đó là Giới thiệu Sài
Gòn xưa (NXB Kim Đồng, 1995), Ấn tượng 300 năm
(NXB Trẻ, 1998) và Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu
Long (NXB Trẻ, 2000).
Tập sách được xuất bản nhân dịp nhà văn Sơn Nam
qua đời được thất tuần như một nén hương nhỏ tưởng
nhớ nhà văn lớn - người khởi đi từ vùng rừng U Minh,
Rạch Giá đã dành hết cuộc đời mình cho sự nghiệp
nghiên cứu và viết về đất và người Nam Bộ, người đã
từ chang đước nhỏ trở thành cây đại thụ trong lòng
bạn đọc gần xa.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
GIỚI THIỆU
SÀI GÒN XƯA
BÚT KÝ
9
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh, cái tên
nghe rất quen nhưng lắm khi là còn xa lạ đối với đồng
bào cả nước, ngay cả với người sinh sống ở Sài Gòn.
Thử dạo chơi Sài Gòn, qua lịch sử thành hình của nó,
ta sẽ hiểu thêm từng bước. Hiểu và thương người và đất
Sài Gòn, với tấm lòng rộng rãi, với sự gắn bó máu thịt
giữa đồng bào Việt, mặc dù ở Sài Gòn có nhiều người
lai Khơme, lai Trung Hoa, lai Pháp, lai Ấn Độ, hoặc có
người mới đến, xin hộ khẩu chưa xong.
Thương và quí trọng người Sài Gòn, vì tình người:
Có thể nói hầu hết những người can đảm đến Sài Gòn
từ hồi 300 năm qua đều là kẻ cùng khổ, hoặc người khá
giả tương đối nhưng không thấy tương lai ở quê xứ của
mình. Họ ra đi, tìm chốn “đất lành chim đậu”, nhưng
thời gian đã trả lời rằng nếu gặp đất lành mà không đủ
kiên nhẫn, cần cù sáng tạo thì chim cũng sống lây lất.
11
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
Vả lại, khí hậu của Sài Gòn thời xưa đâu như bây giờ.
Bãi sông sình lầy, đất thì lắm ao vũng, một năm có đến
sáu tháng nước mặn từ biển lấn vào.
Sài Gòn vẫn lạ, lắm người vào Sài Gòn nhưng không
hiểu tại sao chợ Bến Thành lại ở trong đất liền, không
thành hình tại mé sông mé rạch? Đã gọi chợ Bà Chiểu
nhưng cũng quen gọi là Gia Định? Lại còn Chợ Lớn
cũ, Chợ Lớn mới. Thêm nhiều chùa mà giới bình dân
quen gọi là chùa Chà Và, hoặc chùa Ông, chùa Bà, thêm
những đình làng vẫn tồn tại và còn tấp nập ở nội thành?
Dịp lễ Nô en của đạo Thiên Chúa, người theo đạo
Phật, đạo Thờ cúng ông bà lại thức đêm, rong chơi, háo
hức. Lại còn thói quen ăn uống bên lề đường, dưới bóng
cây me cổ thụ, xem như là phong cách sang trọng. Báo
hằng ngày, báo tuần, bán khá chạy, mỗi gia đình mua
ba bốn tờ khác nhau. Hát cải lương được lắm người ưa
thích, cũng như bóng đá, đua xe đạp. Gần như phường
nào cũng có tỷ lệ khá cao Việt kiều trở về thăm nhà.
Thích áo quần lạ, ham xa xỉ phẩm, không biết tiết kiệm
tiền bạc. Hỏi vị trí những con đường như Hoàng Diệu,
Chu Văn An hoặc Cầu Mật, cầu Chà Và, nhiều người
tuy ở Sài Gòn lâu đời nhưng chẳng biết hướng nào mà
chỉ dẫn cụ thể.
Lạ hơn nữa, lắm người từ bé tới lớn chưa đặt chân
vào chợ Bến Thành hoặc dạo chơi Thảo Cầm Viên, Nhà
Bè. Sài Gòn quá rộng, khu nội thành dài lắm nơi hơn
mười ki-lô-mét. Củ Chi, Cần Giờ vẫn còn là đất lạ đối
với khá đông người; biết qua lượng thông tin nhưng
chẳng bao giờ đi đến lần nào. Lại còn sắc mặt vui tươi
khi xã giao, biểu lộ lòng hiếu khách. Và dịp Tết đến,
ai cũng ước mơ được về quê ăn Tết. Trong khi ấy, có
nhiều người sống gần như kiểu người Âu, suốt năm
quanh quẩn đường Đồng Khởi, đường Nguyễn Huệ.
Muôn người muôn vẻ, chẳng ai quan tâm đến kiểu ăn
mặc của người đi bên cạnh, giàu hay nghèo thích đổ
xô ra đường, lấy đường phố làm nhà. Tiền bạc ở ngoài
đường chớ không phải ở trong nhà. Vì vậy, sắm xe để
đi tới lui, với tốc độ nhanh. Với chiếc xe gắn máy, mỗi
ngày ta gặp năm bảy người bạn ở xa cách nhau, trong
khi đi xe đạp thì đi viếng đôi ba chỗ là nhiều. Đường
phố đầy người và xe. Ngoài số người rong chơi, vung
tiền ra cửa sổ, lắm người dầm mưa, dãi nắng để tìm dịch
vụ hoặc giải quyết những dịch vụ, từ việc bán chiếc xe
đạp đến việc mua ngôi nhà giùm cho người bạn, hoặc
lo giấy tờ về nhà đất, thuế vụ, tiêu thụ mặt hàng ứ đọng,
tìm thêm công việc đem lợi tức nhiều hơn.
*
* *
Sài Gòn là đất mới
Thủ đô nước ta dời từ động Hoa Lư chật hẹp đến đất
Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay từ năm 1010 (đời
nhà Lý), trong khi Sài Gòn trở thành lãnh thổ Việt Nam
chánh thức trước năm 1700, sau Hà Nội đến 700 năm.
13
Huế là Phủ Chúa đời nhà Nguyễn, khi đang mở nước,
trở thành kinh đô sau năm 1800.
Trong buổi đầu, Sài Gòn chỉ có dân ở chung quanh
Đồn Dinh (phỏng định nay ở góc đường Cách Mạng
Tháng Tám - Nguyễn Trãi), quân sĩ lo an ninh, dân ở
chung quanh làm ruộng, rẫy; hàng tiêu dùng phải đưa
từ miền Trung vào.
Ta nhớ khi Bá Đa Lộc qua Pháp cầu viện, thay mặt
Nguyễn Ánh, để đánh Tây Sơn, trong hiệp ước vua nước
Pháp chỉ đòi Đà Nẵng và Côn Đảo mà thôi. Sài Gòn
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
bấy giờ chưa đáng chú ý. Phải đợi đến năm 1830, cách
đây hơn 150 năm, dưới đời Minh Mạng, khi tả quân Lê
Văn Duyệt làm tổng trấn ở xứ Gia Định (gồm toàn Nam
Bộ), cảng Sài Gòn mới tấp nập, xứng đáng là hải cảng,
tàu thuyền liên lạc ra Huế, Hà Nội, Trung Hoa, Phi Luật
Tân. Bài phú Cổ Gia Định mô tả chợ Bến Thành với tàu
từ Tây phương, với thủy thủ người Ma Ni (Philíppin),
lại còn tàu của người Anh ghé bến.
Bấy giờ, chợ Bến Thành ở trước mặt thành Phiên
An, trung tâm của thành này phỏng định vị trí nền nhà
thờ Đức Bà. Bến cảng ở bờ sông Sài Gòn trước mặt
thành, khoảng tượng Trần Hưng Đạo ngày nay chạy
dài đến cầu Nguyễn Tất Thành. Nhưng tiếc thay, với
chánh sách “đóng cửa rút cầu” của Minh Mạng, sau khi
Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng trù dập tay chân của
họ Lê, vì vậy xảy ra cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi
(1833). Sinh hoạt của Bến Thành không còn vì quân sĩ
triều đình Huế kéo vào, đàn áp.
Suốt non ba năm ròng rã, ngay trung tâm Sài Gòn có
hàng vạn binh sĩ bao vây, ngày như đêm, hò hét dưới
hầm hố. Bên trong, vài ngàn quân sĩ của Lê Văn Khôi
đã chống cự, rồi chịu thất thủ. Cả nội thành là chiến
trường, quân sĩ đôi bên đông đúc hơn dân số tại Sài
Gòn, lúc bây giờ. Sau đó, thành này bị san bằng, Minh
Mạng cho xây thành khác, nhỏ hơn, chính thực dân Pháp
đã đánh thành này, gọi thành Gia Định, vào năm 1859.
Bấy giờ, thực dân Pháp muốn tìm điểm tựa cho tàu
dừng lại để tiểu tu, đồng thời lập kho dự trữ hàng hóa ở
Đà Nẵng, gần Huế, trên đường mà thực dân Tây phương
từ châu Âu qua mua bán với Trung Hoa và Nhật Bản.
Hai nước sau này rất đông dân, lại có thổ sản như tơ lụa.
Đánh Đà Nẵng thì dễ, nhưng quân sĩ Pháp lưu trú
tại đó gặp nhiều khó khăn về tiếp tế. Thực dân đã nghĩ
đến chuyện đánh chiếm kinh đô Huế, nhưng quân sĩ
Pháp đi bộ, vượt đèo Hải Vân là chuyện quá gian nan,
nguy hiểm. Nhìn trên bản đồ, chúng nghĩ đến việc tạm
rút lui về phía Nam, chờ cơ hội đánh ra Huế rồi ra
Bắc Bộ. Sài Gòn lúc ấy chưa nhiều lúa gạo, lại bị ảnh
hưởng ba năm giết chóc qua vụ Lê Văn Khôi, thương
gia trong nước và nước ngoài không đến làm ăn nên
trở thành tiêu điều, nhà cửa hư nát trong khi quan lại
lo vơ vét, triều đình Huế không chi viện món gì cả.
15
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
Năm 1859 người Pháp mô tả Sài Gòn như một vùng
quê, với vài mươi căn nhà ngói. Pháp chiếm Sài Gòn
nhằm tạo chỗ dừng chân, đánh khá dễ vì chiến thuyền
từ Vũng Tàu vào Sài Gòn không khó như trường hợp
vượt đèo vượt núi. Chiến thuyền Pháp cặp bến Sài
Gòn pháo kích ngay để gây hoang mang. Chúng đổ bộ
ngay đầu đường Tôn Đức Thắng ở mé sông, kéo lên
đụng đường Nguyễn Du bây giờ là giao chiến trước
cửa thành Gia Định (thành mới xây, sau vụ Lê Văn
Khôi). Chiếm xong, chúng san bằng, đề phòng quân
ta tái chiếm.
Sau đó, khi ổn định, chúng lần hồi nhận ra Sài Gòn là
điểm quan trọng có thể là một hải cảng, giao lưu thuận
lợi với các nước Đông Nam châu Á và châu Âu.
Lần hồi, chúng phát triển ngành hàng hải, tàu buôn
trang bị máy chạy với sức hơi nước sôi, thêm vài cánh
buồm to tiếp sức gió.
*
* *
Sông trước mặt chợ Sài Gòn tên thật là rạch Bến
Nghé. Gọi rạch vì đường thủy này là chi nhánh của sông
Đồng Nai, tiếp giáp ở điểm gọi Nhà Bè với sự tích nửa
hư nửa thực đáng nhắc lại cho vui.
Hồi xưa lúc mới khẩn hoang, người từ miền Trung
vào, nhanh chóng, không qua đèo qua núi, vì họ đã có
truyền thống đi biển. Vào Vũng Tàu, gọi như thế vì đây là
cái vịnh nhỏ, làm nơi trú ẩn cho tàu (hiểu là ghe thuyền)
khi giông tố, lại dễ tìm nước ngọt, tìm củi nấu cơm.
Vào sông Đồng Nai, đi ngược dòng, đến ngã ba Nhà
Bè, ai muốn đi lên phía Biên Hòa để làm vườn, hoặc
làm chút ít ruộng thì đi thẳng; còn ai muốn đi Gia Định
(hiểu là Sài Gòn và phía đồng bằng sông Cửu Long) thì
quẹo vào sông Sài Gòn.
Có câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về
Gia Định, Đồng Nai thì về”. Chỗ ngã ba gần biển này,
hơn sáu tháng chịu ảnh hưởng nước mặn, hai bên bờ
chưa nhà cửa, toàn là dừa nước, bần, cây mắm, cây vẹt
của rừng nước mặn. Sông Đồng Nai khá to ở điểm này,
vì là ngã ba khá rộng nên có sóng gió triền miên. Ông
Võ Hữu Hoằng là nhà phú hộ, dạo trước giữ một thủ
(tức là đồn trạm kiểm soát), dĩ nhiên thời phong kiến
sinh lắm điều tiêu cực, nhờ tham nhũng công khai, nên
trở thành khá giả. Tương truyền về già, ông lo ngại cho
kiếp sau của mình, bèn mướn pháp sư làm phép cho
ông được “đi thiếp”, mê man hồn lìa khỏi xác. Đến âm
phủ là bọn quỉ sứ đầu trâu mặt ngựa đưa ông vào xem
địa ngục, chợt thấy một cái gông thật to, đề sẵn tên Võ
Hữu Hoằng! Ông hoảng sợ, quỉ sứ bảo rằng sau khi
chết, cái gông này dành để tra vào cổ ông. Ông khóc
lóc, vị quan nọ bảo muốn được nhẹ tội thì khi trở về
dương gian phải làm việc phước thiện. Khi tỉnh dậy,
ông mua tre rừng khá nhiều, kết lại chiếc bè to, nổi
trên mặt nước. Bè này có mái lợp che nắng che mưa,
17
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
lại bố trí từng phòng cho khách vãng lai. Chiếc bè ấy
đậu tại vị trí ngã ba sông ngày nay. Vốn hào hiệp, ông
dự trữ gạo, nước ngọt, cá mắm, phân phát cho những
ai túng thiếu, không lấy tiền. Ghe thuyền qua lại tạm
ghé vào, lần hồi nhiều người mua bán gom lại kề bên,
lượng người từ miền Trung vào Nam lập nghiệp khá
đông. Khu vực ngã ba trở thành kiểu chợ nổi trên sông,
gọi chợ Nhà Bè (nay ta cũng lấy tên truyền thống ấy
đặt tên huyện). Nhà cửa đông đúc, lần hồi chợ dời lên
trên bờ. Chuyện được thêu dệt về sau, nhưng ta khẳng
định một điều: Bấy giờ, đường thủy khó khăn, người
đến Gia Định - Đồng Nai còn nghèo, lòng từ thiện của
ông Võ Hữu Hoằng thật đáng biểu dương. Vì kính nể,
chẳng ai dám vô phép gọi đúng tên, Hoằng nói trại ra
Huồng. Về già, ông lập ngôi chùa, thờ Phật, nay ở thành
phố Biên Hòa hãy còn chùa Thủ Huồng.
*
* *
Về cấu tạo đất đai, Sài Gòn rất đa dạng. Phía bến
Bạch Đằng ngày nay, sát mé sông, ăn lên một đỗi đến
Thị Nghè rồi lên phía Biên Hòa, phía bắc, là đất phù
sa cổ, đất sét và đất cát quyện nhau, khá cứng rắn, như
đất rừng miền Đông. Ta gặp môi trường thích hợp cho
cây cỏ vùng cao, nào cây dầu, cây sao, đã thử trồng cây
cao su, lẻ tẻ làm cây cảnh. Vùng này, đào giếng gặp
mạch nước tốt.
Nhưng đi về phía tây, là vùng Chợ Lớn, sát mé rạch
vàm Bến Nghé (tên con rạch nhỏ đổ ra sông Sài Gòn),
đất ẩm thấp, sình lầy chịu ảnh hưởng nước lớn nước
ròng, ngập bờ, quả là đất phù sa mới, chịu ảnh hưởng
nước mặn, giống như phù sa của mũi Cà Mau. Bãi bùn
đầy những loại thảo mộc gần như vô dụng, như ô rô, cóc
kèn. Cá đối, cua biển nay đã vắng bóng vì dòng nước bị
ô nhiễm với rác rến, hóa chất phế thải. Rạch vàm Bến
Nghé (còn được gọi rạch Cầu Ông Lãnh, vì có chợ Cầu
Ông Lãnh) ăn vào phía Chợ Lớn, đổi tên là kinh Tàu
Hủ (xưa là rạch, được nạo vét lại).
Có thể nói: Biển ở gần kề Sài Gòn, ngăn cách bởi
vùng đất sình lầy, chưa định hình. Ngày trước, huê lợi
lớn nơi đây là cây cói (lát) để dệt chiếu. Bằng cớ: chợ
Xóm Chiếu đã thành hình, trước đời Tự Đức nay còn
tên đất. Vì là rừng sác (rừng hoang với các giống cây
nước mặn ven biển) nên ở làng Tân Kiểng (nay quận 5,
sát đường Trần Hưng Đạo), cách đây hơn 200 năm, năm
1771, vào dịp Tết, dân làng đang vui chơi lúc rảnh rang
lại xảy ra chuyện cọp vào chợ. Từ phía rừng sác cọp
xuất hiện thình lình. Xưa nay, cọp sợ đám đông, nhưng
đây là con cọp quá hung hăng; ai nấy hoảng chạy, cấp
báo với quân sĩ. Suốt ba ngày, cọp vẫn còn tới lui, bấy
giờ vùng Tân Kiểng gồm đa số dân sống với ruộng rẫy,
nhà cửa thưa thớt, gọi là chợ, nhưng kiểu chợ làng, với
đường mòn và những bờ tre gai. Bấy giờ, có nhà sư,
không rõ pháp danh, sử ghi là ông tăng Ân, (ông tăng
19
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
tên Ân) cùng đi với đồ đệ là Trí Năng đến nơi xin đánh
cọp. Ông tăng Ân dùng roi (gọi là côn) tiến vào bờ tre
mà khiêu khích. Cọp nhảy ra, sau một hiệp giao chiến,
cọp lui vào bụi tre, thủ thế. Ông tăng Ân xốc tới, cọp trở
ra cùng thi đấu, nhưng bất ngờ, khi lui bước, ông tăng
Ân té xuống mương cạn. Cọp nhảy tới, quơ nanh vuốt,
ông ngã xuống, máu me linh láng. Đồ đệ là Trí Năng
nhảy tới đánh trúng đầu cọp. Cọp chết tại chỗ, nhưng
ông tăng Ân vì bị thương nặng, sau đó cũng mất. Người
địa phương thương tiếc, đem chôn cất ông tại chỗ, xây
tháp lưu niệm. Rất tiếc, nay tháp ấy không còn. Cũng
vào buổi mở nước, ở khu vực xa hơn, cũng thuộc về
đất Gia Định, hãy còn chuyện ông tăng Ngộ. Thuở bé
ông sùng đạo Phật, lấy lý tưởng từ bi bác ái làm phương
châm để giúp người đi khai phá vùng đất mới. Hồi còn
bé, ông tăng Ngộ đòi đi tu, cha không cho.
Cha bảo:
- Tu hành là cực khổ, sẵn sàng đối phó với mọi khó
khăn, của cải không còn ý nghĩa. Muốn chứng tỏ đức
tánh ấy, con phải cầm cục lửa than cháy đỏ này trong
tay cho cha xem thử.
Bấy giờ người cha đang hút thuốc, bên cạnh là bếp
lửa. Lập tức, ông tăng Ngộ cầm cục than đỏ rực trong
lòng bàn tay mà sắc mặt không thay đổi, cầm khá lâu.
Người cha đành cho con đi tu. Gặp vị chân tu ở chùa
Vinh Quang, ông tăng Ngộ giữ gìn kỷ luật, mỗi ngày
siêng làm việc, chỉ ăn một bữa cơm trưa mà thôi. Nhiều
năm sau, ông nổi danh về đạo đức, người trong vùng ai
cũng mến phục. Rừng rậm còn nhiều, cọp cứ lai vãng,
ít ai dám đến làng mà khai khẩn ruộng đất. Ông nghĩ ra
chuyện đắp con đường từ đông sang tây, vượt qua vùng
sình lầy, rậm rạp. Tự tay ông làm việc, dân làng khâm
phục nhưng chẳng ai dám noi gương vì con cọp dữ mãi
tới lui. Nhiều người mua bán tập họp qua lại, cọp vẫn
xuất hiện. Hôm ấy, lúc ông đang đắp con lộ, cọp xuất
hiện. Ông ung dung làm việc, cọp đến gần, đứng nhìn
ông rồi cọp cúi đầu, đi mất dạng, mặc dầu trong tay ông
không có ngọn roi để tự vệ, chỉ là cây cuốc bình thường.
Dân làng mừng rỡ, tiếp sức với ông, nhờ vậy ruộng rẫy
hai bên đường càng thâu hoạch bông trái.
Con rạch vàm Bến Nghé ăn từ sông Sài Gòn chảy
về phía đồng bằng nối liền đến rạch Bến Lức. Đời Gia
Long, cách đây non hai trăm năm, đã bố trí một nhà
kho lớn, ở nơi gọi Cầu Kho, nay hãy còn tên đất với
khu chợ ở quận Nhất. Kho là kho lúa thóc, do nông dân
vùng đồng bằng gom về gần Sài Gòn, chờ đưa ra kinh
đô Huế để nộp thuế bằng sản vật. Xa một đỗi, ta đến
Chợ Quán, nơi tập trung năm ba quán nhỏ, ghe thuyền
qua lại nghỉ ngơi, khách uống trà Huế, loại trà tươi, lá
vò nát, nấu trong cái nồi to. Uống bát trà nóng, ăn cái
bánh có thể tạm dằn cơn đói.
Rời Chợ Quán một đỗi, về phía Chợ Lớn, ta gặp khu
vực khá trù phú. Bám vào mé rạch là những căn nhà sàn,
ghe thuyền tấp nập, trên bờ là đường mòn, sình lầy, vì
21
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
đất thấp. Dân ở đây lấy bờ rạch làm đường sá, đường
thủy thay cho đường bộ. Rải rác, vài con đường mòn ăn
từ mé rạch lên vùng đất cao (nay đường Nguyễn Trãi).
Mươi ngôi nhà lợp ngói hiện ra: khu vực người Hoa với
mái ngói của chùa miếu. Ghe thuyền từ Lục tỉnh, tức là
các tỉnh phía đồng bằng chở đến nào lúa gạo, cá khô,
dừa khô, cau khô, cất vào những nhà kho để tạm tồn trữ,
chờ phân phối cho các chợ ở miền Đông Nam Bộ, hoặc
đưa ra miền Trung. Đặc biệt về lúa gạo thì xuất khẩu
đến miền Nam Trung Hoa. Khu vực này được dân gian
gọi Chợ Lớn, theo nghĩa: chợ này lớn hơn những chợ
lân cận. Tên đất Chợ Lớn mãi bảo lưu đến ngày nay.
Chợ này thành hình vào năm 1780 trễ nải hơn chợ Cù
lao Phố ở Biên Hòa.
*
* *
Ngược dòng lịch sử, ta thấy lúc Sài Gòn còn là đồn
trại của binh sĩ thì phía sông Đồng Nai (mà đầu nguồn
nay là cơ ngơi của thủy điện Trị An) người Hoa từ
Quảng Đông không chịu hàng phục người Mãn Thanh
đã kéo xuống “hải ngoại” phía nam để ẩn lánh, chờ
dịp khôi phục nhà Minh đã bị Mãn Thanh đánh bại.
Họ đến với chiến thuyền và binh sĩ, ghé vào Huế, xin
tị nạn. Chúa Hiền Vương cho phép họ đến Biên Hòa
ngày nay để lập thương cảng. Họ thâu mua lâm sản quí
giá như ngà voi, hồ tiêu, gân nai (món ăn quí nhất), thịt
khô, lông chim công, chim trĩ... đưa về Quảng Đông.
Khi trở lại Biên Hòa, họ chở theo tô chén, lu hũ, thuốc
Đông y, thêm tượng đá (để trang trí đền chùa), lại còn
nến, nhang, cam quít. Bến cảng này mãi đến nay còn
gọi Cù lao Phố, một đảo nhỏ giữa sông Đồng Nai, đối
diện với thành phố Biên Hòa. Gọi Phố vì lần hồi khá
giả, họ xây nhà ngói, xẻ đường lộ, lát đá xanh, mở hiệu
ăn uống, huyên náo với những đội ca nhạc. Người Hoa
gọi chốn này là Đại Phố (Chợ Lớn). Năm 1777, quân
Tây Sơn kéo vào Nam để truy nã chúa Nguyễn, cuộc
chiến xảy ra tại đây, vì vậy chợ Cù lao Phố bị tàn phá.
Thương gia người Hoa kéo nhau xuống vị trí Chợ Lớn
ngày nay, gần kề Sài Gòn, tiếp tục tồn trữ hàng hóa
để bán trong nội địa và xuất khẩu. Chợ vẫn giữ tên cũ,
như hồi còn ở Biên Hòa. Thật ra, việc đổi vùng này
trùng hợp với tiềm năng kinh tế. Ngà voi, sừng tê (con
tê giác), gân nai, lông chim công (dùng trang trí nhà
cửa hoặc mão của vua quan...) là sản phẩm thiên nhiên,
lần hồi cạn kiệt. Sau khi chuyển về Chợ Lớn, gần Sài
Gòn, việc mua bán thêm tấp nập. Việc khẩn hoang ở
đồng bằng sông Cửu Long đã đem lại kết quả, với quá
nhiều lúa gạo.
Từ Chợ Lớn mới thành lập này, đường thủy về phía
đồng bằng sông Cửu Long lần hồi hoàn chỉnh, trước khi
người Pháp đến, vào thế kỷ thứ XVIII và XIX, ông cha
ta đã chú ý đến an ninh quốc phòng. Đã đào con kinh
Bảo Định nối sông Tiền qua sông Vàm Cỏ Tây, rồi đào
23
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
kinh Thủ Thừa nối Vàm Cỏ Tây qua Vàm Cỏ Đông,
vào rạch Bến Lức. Bến Lức là nơi hội tụ ghe thuyền
chuẩn bị vào Chợ Lớn, nơi có kho dự trữ lúa gạo chờ
đưa ra chợ Bến Thành (cảng Sài Gòn). Ghe tải từ phía
đồng bằng lên đây là tài sản lớn đối với từng người chủ
nhưng đến nơi đô hội thì trở thành quá bé nhỏ, lạc lõng.
Chủ phải tắm rửa sạch sẽ, mặc áo tươm tất để dọ dẫm
tìm hiểu tin tức về giá lúa gạo đang lên hay xuống, ăn
uống thỏa thuê, việc chèo chống càng phải cẩn thận vì
sông rạch như trở thành chật hẹp. Nhất là chuyến trở
về phía đồng bằng, cần tu bổ nào buồm, nào quai chèo,
cột chèo cho an toàn. Chợ Đệm (nay là nơi có nhà máy
xay xát lớn Satakê) được gọi như thế vì bán nhiều đệm;
bấy giờ vải quá đắt, dùng đệm chằm với lá buôn hoặc
với bàng, để làm buồm. Khốn thay! Bao giờ cũng như
bây giờ, nơi đông đảo tấp nập vẫn là đầy phức tạp. Nét
đặc trưng của sông rạch Nam Bộ là có bọn xấu chuyên
nghề trộm cắp giữa ban ngày, gọi là bối. Chúng tụ tập
ở Ba Cụm, gần chợ Đệm. Ba Cụm, hiểu theo người địa
phương là nơi có ba cội cây đa to, tàng lá xum xuê,
mọc kề bên nhau. Bọn ăn trộm trên sông hội tụ về đây,
ngang nhiên hành nghề.
Ngồi trên chiếc xuồng để tạm nghỉ, biết rằng bọn bối
“lấy của giữa ban ngày” đang rình rập, anh nọ luôn cảnh
giác. Cái thùng bằng cây đựng quần áo bao giờ cũng
đặt sát lưng để anh dựa vào. Rủi bị trộm, nhất định anh
sẽ mất thăng bằng, ngã ngửa ra phía sau. Ghe xuồng
qua lại khá đông, anh quan sát, vui mắt. Đột nhiên, phía
trước có người réo to:
- Cái chú kia thô tục quá! Hơn hai mươi tuổi mà còn
cởi quần ra, đứng phóng uế, không biết xấu hổ.
Người khác nói:
- Chắc là thằng điên, thằng khùng. Có vợ có con rồi
mà ở truồng giữa chợ như con nít.
Anh nọ vì tò mò nên nghiêng người về phía trước
để xem mặt mày kẻ vi phạm thuần phong mỹ tục. Vừa
lúc ấy, tên bối nhấc lên cái rương bằng cây sau lưng
anh. Chừng giựt mình, không thấy ai cởi truồng ở phía
trước, anh ngồi trở lại tư thế cũ, thấy hẫng hụt sau lưng,
bèn kêu lên:
- Thùng đựng quần áo của tôi đâu rồi?
Tên bối đã chuyền cái thùng ấy cho đồng bọn đem
đi nơi khác lại cười giòn:
- Thì bị... bối rồi. Nó ở trước mặt anh mà anh
không biết.
Một thí dụ khác: Ông lão nọ chở một thuyền đầy vịt
đem lên Chợ Lớn, mỗi cặp vịt được trói chân lại, chất
đống. Cô gái nọ bơi xuồng đến, ngỏ ý muốn mua. Ông
lão dừng lại. Cô ta trả giá, hai bên đồng ý, cô đem hai
cặp vịt qua xuồng mình, rồi dùng cây dầm mà bơi khá
nhanh. Ông lão gọi:
- Trả tiền cho tôi chớ!
- Sớm muộn gì tôi cũng trả tiền mà.
Xuồng của cô ta chen vào đám đông. Ông lão quát to:
25
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
- Cô làm nghề... bối hả?
Cô gái cho xuồng cặp vào bờ, chỉ vào ngực:
- Nghề... bối là nghề cha truyền con nối của tôi!
Nói xong, cô lên bờ, hai tay xách hai cặp vịt, bước
chậm rãi. Ông lão đứng dậy, kêu trời. Chẳng lẽ ông bỏ
xuồng mà rượt theo. Nãy giờ có năm ba tên bối rình rập,
thừa lúc ông nhìn theo cô gái, chúng lấy cắp vài chục
cặp vịt rồi lên bờ đối diện, mất dạng.
Những chuyện tương tự còn nhiều. Về sau, với thuyền
được cơ giới hóa, di chuyển nhanh hơn, nạn bối giảm
bớt. Lần hồi, dân cư ngày đông đúc, bờ rạch chợ Đệm
chẳng còn hoang vắng như trăm năm về trước.
Sông Cửu Long có thượng nguồn ở bên nước Cam
Bốt (nay là Campuchia - BTV), vùng Nam Bộ giáp ranh
nhau, không thác không gành nên từ xa xưa đã trao đổi
hàng hóa. Giới thương lái từ Cam Bốt đưa xuống Sài
Gòn - Chợ Lớn theo sông Cửu Long nào cá khô của Biển
Hồ, đậu xanh, đậu phộng (lạc), hồ tiêu, thêm những bè
cá tươi sống đặt hai bên ghe. Nam Bộ đã đưa lên nước
bạn nào dụng cụ nông nghiệp, trầu rang, cau khô, trái
cây. Bên Cam Bốt thời trước, tiêu thụ nhiều trầu cau.
Phía đồng bằng, nhiều xóm chuyên trồng trầu, để bảo
quản lâu dài, từng lá trầu được sấy khô, bán theo sức
nặng từng cân.
Người ở đồng bằng khi khá giả rủ nhau lên Sài Gòn
để mua sắm và giải trí, trở thành số khách vãng lai
thường trực đáng kể.
*
* *
Về tên đất Sài Gòn, nhiều giả thiết đặt ra, thiếu tính
thuyết phục. Hoặc là tiếng Khơme, tiếng Hoa, lần hồi
nói trại ra. Hoặc là rừng cây gòn. Vùng đất cao phía
Chợ Lớn ăn đến vùng Phú Lâm ngày nay, thời xa nhiều
cây gòn mọc như rừng nguyên sinh. Sài là củi, là cây.
Ông Trịnh Hoài Đức, từng làm tri huyện ở huyện Tân
Bình xưa, từ hơn 200 năm về trước đã giải thích như
thế. Huyện Tân Bình bấy giờ gồm quận 1, quận 3, Phú
Nhuận... Họ Trịnh là nhà trí thức khoa bảng, là sử gia
đáng tin cậy.
Sài Gòn xưa là tên của vùng Chợ Lớn, tức quận 5,
quận 6, quận 8 bây giờ.
Phía Sài Gòn ngày nay, xưa gọi Bến Nghé. Lại rắc
rối nếu ta muốn giải thích. Bến là bến sông, dễ hiểu, vì
đã có con sông khá rộng, đổ ra sông Đồng Nai ở Nhà
Bè. Nghé là con trâu con. Bến nước mà bầy trâu con
đến tắm, uống nước, với cậu bé dắt trâu. Nhưng gần mé
sông bấy giờ dường như chẳng ai làm ruộng (bến Bạch
Đằng, chỗ khách sạn Nổi ngày nay đất khá cao). Lắm
người cho rằng nghé là tiếng con cá sấu kêu rống. Lối
giải thích này dễ chấp nhận; thời xưa, bờ sông hoang
vắng, cá sấu từ biển Cần Giờ (vùng Cần Giờ nay hãy
còn cá sấu) tới lui phía mé sông, ban đêm kêu lên, tiếng
cá sấu kêu nghe giống như tiếng trâu con gọi mẹ. Lần
27
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
hồi, vì tàu thuyền tới lui, gây náo động, cá sấu rút lui
về phía rừng ngập mặn, gần biển.
Người Pháp đến, nhìn khu vực Bến Nghé (Sài Gòn
ngày nay) và Chợ Lớn (xưa gọi Sài Gòn) như là một
thực thể gắn liền. Vì chú trọng đến khu vực thương mại,
chúng gọi Bến Nghé xưa là Sài Gòn, bỏ tên truyền thống
Bến Nghé. Dưới mắt thực dân, khu vực này chỉ đáng
lưu ý tới những kho lúa gạo phía Chợ Lớn (xưa gọi Sài
Gòn). Về mặt hành chính, chúng áp đặt sự thay đổi ấy,
và sông Bến Nghé đổi tên là sông Sài Gòn, như nay ta
quen dùng trên bản đồ.
Khu vực Sài Gòn, từ khi Pháp đến, trở thành quan
trọng, gồm ba trung tâm nhập một, gần kề nhau:
- Hải cảng, với chợ Bến Thành xưa.
- Đầu não của cơ quan hành chính và quân sự với
thành Gia Định. Đầu não của vùng Bến Nghé xưa là
huyện Tân Bình, đóng ở ngang hông Bưu điện thành
phố ngày nay, đường Nguyễn Du, vị trí trường sư phạm.
(Nay là trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa - BTV)
- Khu vực bến bãi, trung chuyển hàng hóa và tiểu thủ
công nghệ ở Chợ Lớn, là giang cảng cho phía đồng bằng.
Về giao lưu với nước ngoài, Sài Gòn trở thành điểm
lý tưởng ở Đông Nam Á, chỉ kém Singapore, Hương
Cảng mà thôi. Nhìn trong phạm vi vùng, Sài Gòn dựa
vào sự phồn vinh vững chắc của đồng bằng sông Cửu
Long với lúa gạo sản xuất dư dã, thêm thủy hải sản dồi
dào, lại liên lạc dễ dàng với nước Cam Bốt. Thêm hậu
phương lớn là miền Đông Nam Bộ và sức mạnh tổng
hợp của cả nước, thời nhà Nguyễn, đầu thế kỷ thứ XIX.
*
* *
Có thể nói vùng đất cao của Sài Gòn khởi đầu từ
bên này cầu Nguyễn Tất Thành, đối diện nhà lưu niệm
Nhà Rồng. Sát mé sông, ngay chỗ cột cờ Thủ Ngữ,
xưa là nơi bắt đầu của một chợ nhỏ, gọi Chợ Sỏi, đất
cứng, với đá ong, là phù sa cổ lâu ngày biến chất. Khu
vực cao này chạy dài qua Bình Thạnh, Phú Nhuận, lên
Hóc Môn, Gò Vấp. Ta không lấy làm lạ khi thấy hồi
đầu thế kỷ XX này, phía ngã tư Phú Nhuận (đường
Nguyễn Kiệm) Pháp lập một vườn cao su nhằm kinh
doanh, dùng sức bò để cày xới, với nhân công sử dụng
cuốc, dao để làm cỏ. Giữa Phú Nhuận và Tân Bình,
xưa là khu Vườn Xoài, phong cảnh thanh lịch làm phần
mộ cho Bá Đa Lộc, nhà truyền giáo Pháp từng giúp
Nguyễn Ánh lên ngôi. Lại còn khu vực đất cao là sân
bay Tân Sơn Nhất (thành lập năm 1930 rồi phát triển
thêm). Gò Vấp, Hóc Môn có đất cao, dùng nước giếng,
mùa hạn, giếng sâu hơn 10 mét. Ông cha ta ngày xưa
thích ở nơi không úng lụt vào mùa mưa, để sản xuất
hoa màu như rau cải, bầu, mướp. Từ thời mở nước đến
giờ, tuy không nói ra, ông cha ta đã nghĩ đến vành đai
xanh. So với mé sông quận 1, ở đây độ cao khoảng
10 mét, như một vùng cao nguyên thấp. Trồng rau cải
29
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
và hoa. Ngày Tết, bán xuống Sài Gòn hoa mai vàng,
hoa cúc, ngày mồng một, ngày rằm bán hoa vạn thọ,
màu vàng hực để cúng ông bà, cúng thần Tài cho mọi
gia đình, đặc biệt là giới thiểu thương. Thêm thuốc lá,
nổi danh ở Gò Vấp, nay còn tên đất Xóm Thuốc. Hóc
Môn, về hướng bắc Sài Gòn, từ xưa gọi 18 thôn Vườn
Trầu. Trầu là dây leo cần được chăm sóc từng ngày về
tiêu tưới, tưới xong, gốc phải ráo, tránh úng. Trầu leo
cao, theo cây nọc, lý tưởng nhất là cây cau, vừa được
huê lợi trầu, vừa thu hoạch trái cau để ăn với trầu. Trên
diện tích nhỏ, mà đạt huê lợi cao, dây trầu có thể leo
lên những nọc kề bên nhau, cắm thẳng lên trời, vì vậy
không che khuất nắng những nọc bên cạnh. Vài lá trầu
tốt có thể so sánh với một tiền kẽm ngày xưa. “Miếng
trầu là đầu câu chuyện”, cũng như khắp nước ta, từ Bắc
chí Nam, thói quen ăn trầu phổ biến ngay trong giới
trai gái vừa lớn lên. Gặp nhau, chàng trai mời cô gái
ăn trầu, kiểu xã giao bắt buộc. Vùng Sài Gòn tiêu thụ
mỗi ngày một khối lượng trầu cau đáng kể. Trầu xanh
dành cho giới bình dân, trầu vàng dành cho người khá
giả. Đồng bào vùng 18 thôn Vườn Trầu, từ thế kỷ thứ
XVIII sống chuyên canh với trầu cau. Cái khó vẫn là
chuyên chở đến Sài Gòn, Chợ Lớn để tiêu thụ tại chỗ
và phân phối cho vùng lân cận, nơi chịu ảnh hưởng
nước mặn thêm đất phèn nên trồng trầu rất khó. Thay
vào đó, đồng bào nuôi vịt, làm ruộng, đào ao bắt cá,
đem bán lấy tiền, mua lại trầu cau vôi thuốc.
Hừng sáng, phụ nữ vùng Hóc Môn (18 thôn Vườn
Trầu) rủ nhau gồng gánh, theo đường bộ, hơn 15 ki-lômét, đi từng đội đoàn. Người đi đầu, người đi sau chót
và người đi giữa phải cầm đuốc, dầu là đêm có trăng.
Ngọn lửa của đuốc khiến thú dữ lánh xa. Thú dữ đây là
cọp, hai bên đường còn rậm rạp, bấy giờ có câu ví “Dữ
như cọp Vườn Trầu”. Cọp tới lui quanh quẩn gần xóm,
rình cơ hội để giết chó, heo hoặc con người mà ăn thịt.
Đã từng ăn thua với con người, cọp học được nhiều kinh
nghiệm. Dân gánh trầu vừa đi vừa nói chuyện ồn ào, để
áp đảo lũ cọp lắm khi vì đói nên hóa ra liều lĩnh. Gặp
những con cọp hung hăng, phụ nữ hè nhau dùng đòn
gánh mà đánh, như thứ vũ khí rất hữu hiệu. Đòn gánh
làm bằng tre già, vừa dẻo, vừa cứng. Đến những năm
sau 1890, khoảng trăm năm trước đây thôi, chính phủ
Pháp còn ra giải thưởng cho những ai săn được cọp đem
nộp cho nhà nước. Ta có tư liệu xác nhận.
- Vùng cầu An Hạ, trong 3 tháng, cọp giết 12 người.
- Vùng Hóc Môn, trong vài tuần lễ liên tục, cọp giết
4 người. Và ở Thủ Dầu Một, trong vài tháng, cọp còn
tới lui giết 8 người. Bấy giờ,...
GIỚI THIỆU SÀI GÒN XƯA, Sơn Nam
- In lần thứ nhất, Tạp chí Văn, Sài Gòn, 1973.
- In lần thứ hai, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1995.
ẤN TƯỢNG 300 NĂM, Sơn Nam
- In lần thứ nhất, Nhà xuất bản Trẻ, Tp. HCM, 1998.
TIẾP CẬN VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG,
Sơn Nam
- In lần thứ nhất, Nhà xuất bản Trẻ, Tp. HCM, 2000.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ GIỮ BẢN QUYỀN
Copyright © 2003, 2009 Tre Publishing House Co.Ltd
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Sơn Nam, 1926-2008
Sài Gòn xưa, Ấn tượng 300 năm và Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long
: bút ký / Sơn Nam. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2008.
364tr. ; 20cm.
1. Văn học Việt Nam -- Thế kỷ 20. 2. Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam)
-- Lịch sử. 3. Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) -- Đời sống xã hội và tập quán.
I. Ts: Ấn tượng 300 năm. II. Ts: Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long.
895.9223403 -- dc 22
S698-N17
HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161B LÝ CHÍNH THẮNG - QUẬN 3 - TP. HỒ CHÍ MINH
ĐIỆN THOẠI: 9316211 - 9316289 - 8465595 - 8465596
FAX: 84.8.8437450
E-MAIL: NXBTRE@HCM.VNN.VN
LỜI GIỚI THIỆU
Từ những xóm làng heo hút giữa bạt ngàn rừng lau
sậy hoang vu, đêm đêm bên cạnh tiếng côn trùng rả rích
là tiếng voi gầm, vượn hú, cọp rống, sấu kêu đến những
khu đô thị hiện đại khang trang, ấp làng trù phú, đồng
ruộng thẳng cánh cò bay, Sài Gòn - Bến Nghé xưa nói
riêng và Nam Bộ nói chung đã trải qua 310 năm hình
thành và phát triển.
Trong bề dày lịch sử hình thành và phát triển của
mình, Sài Gòn và Nam Bộ đã bao phen dâu bể, bao lần
đổi thay. Từ những lưu dân thời mở nước đến những
công dân thời dựng nước hôm nay, người Sài Gòn và
Nam Bộ đã hun đúc cho mình bao nhiêu hồn thiêng
sông núi, để dù sống gởi thác về, họ vẫn đau đáu trong
lòng nỗi hoài niệm về một vùng quê xứ, về nơi tổ tiên
bao đời đã từ đó ra đi.
7
SƠNNAM
ẤN TƯỢNG
300 NĂM
SĐI GÌN XƯA
& ĐỒNG BẰNG
SĨNG CỬU LONG
Sống trên quê hương, sống giữa lòng thành phố,
người Nam Bộ nói chung và công dân Thành phố Hồ
Chí Minh nói riêng, từ em bé mới bắt đầu cắp sách đến
trường đến người đã hoàn thành nghĩa vụ, đang an
hưởng tuổi già thảy đều cần biết, cần nhớ, cần hiểu về
nơi chốn mình đang dừng chân, định cư.
Kỷ niệm 310 năm hình thành và phát triển (16982008) Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh và vùng đất
Nam Bộ, Nhà xuất bản Trẻ trân trọng giới thiệu đến
bạn đọc tập bút ký của nhà văn Sơn Nam bao gồm 3 tác
phẩm đã xuất bản được tập hợp lại. Đó là Giới thiệu Sài
Gòn xưa (NXB Kim Đồng, 1995), Ấn tượng 300 năm
(NXB Trẻ, 1998) và Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu
Long (NXB Trẻ, 2000).
Tập sách được xuất bản nhân dịp nhà văn Sơn Nam
qua đời được thất tuần như một nén hương nhỏ tưởng
nhớ nhà văn lớn - người khởi đi từ vùng rừng U Minh,
Rạch Giá đã dành hết cuộc đời mình cho sự nghiệp
nghiên cứu và viết về đất và người Nam Bộ, người đã
từ chang đước nhỏ trở thành cây đại thụ trong lòng
bạn đọc gần xa.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
GIỚI THIỆU
SÀI GÒN XƯA
BÚT KÝ
9
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh, cái tên
nghe rất quen nhưng lắm khi là còn xa lạ đối với đồng
bào cả nước, ngay cả với người sinh sống ở Sài Gòn.
Thử dạo chơi Sài Gòn, qua lịch sử thành hình của nó,
ta sẽ hiểu thêm từng bước. Hiểu và thương người và đất
Sài Gòn, với tấm lòng rộng rãi, với sự gắn bó máu thịt
giữa đồng bào Việt, mặc dù ở Sài Gòn có nhiều người
lai Khơme, lai Trung Hoa, lai Pháp, lai Ấn Độ, hoặc có
người mới đến, xin hộ khẩu chưa xong.
Thương và quí trọng người Sài Gòn, vì tình người:
Có thể nói hầu hết những người can đảm đến Sài Gòn
từ hồi 300 năm qua đều là kẻ cùng khổ, hoặc người khá
giả tương đối nhưng không thấy tương lai ở quê xứ của
mình. Họ ra đi, tìm chốn “đất lành chim đậu”, nhưng
thời gian đã trả lời rằng nếu gặp đất lành mà không đủ
kiên nhẫn, cần cù sáng tạo thì chim cũng sống lây lất.
11
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
Vả lại, khí hậu của Sài Gòn thời xưa đâu như bây giờ.
Bãi sông sình lầy, đất thì lắm ao vũng, một năm có đến
sáu tháng nước mặn từ biển lấn vào.
Sài Gòn vẫn lạ, lắm người vào Sài Gòn nhưng không
hiểu tại sao chợ Bến Thành lại ở trong đất liền, không
thành hình tại mé sông mé rạch? Đã gọi chợ Bà Chiểu
nhưng cũng quen gọi là Gia Định? Lại còn Chợ Lớn
cũ, Chợ Lớn mới. Thêm nhiều chùa mà giới bình dân
quen gọi là chùa Chà Và, hoặc chùa Ông, chùa Bà, thêm
những đình làng vẫn tồn tại và còn tấp nập ở nội thành?
Dịp lễ Nô en của đạo Thiên Chúa, người theo đạo
Phật, đạo Thờ cúng ông bà lại thức đêm, rong chơi, háo
hức. Lại còn thói quen ăn uống bên lề đường, dưới bóng
cây me cổ thụ, xem như là phong cách sang trọng. Báo
hằng ngày, báo tuần, bán khá chạy, mỗi gia đình mua
ba bốn tờ khác nhau. Hát cải lương được lắm người ưa
thích, cũng như bóng đá, đua xe đạp. Gần như phường
nào cũng có tỷ lệ khá cao Việt kiều trở về thăm nhà.
Thích áo quần lạ, ham xa xỉ phẩm, không biết tiết kiệm
tiền bạc. Hỏi vị trí những con đường như Hoàng Diệu,
Chu Văn An hoặc Cầu Mật, cầu Chà Và, nhiều người
tuy ở Sài Gòn lâu đời nhưng chẳng biết hướng nào mà
chỉ dẫn cụ thể.
Lạ hơn nữa, lắm người từ bé tới lớn chưa đặt chân
vào chợ Bến Thành hoặc dạo chơi Thảo Cầm Viên, Nhà
Bè. Sài Gòn quá rộng, khu nội thành dài lắm nơi hơn
mười ki-lô-mét. Củ Chi, Cần Giờ vẫn còn là đất lạ đối
với khá đông người; biết qua lượng thông tin nhưng
chẳng bao giờ đi đến lần nào. Lại còn sắc mặt vui tươi
khi xã giao, biểu lộ lòng hiếu khách. Và dịp Tết đến,
ai cũng ước mơ được về quê ăn Tết. Trong khi ấy, có
nhiều người sống gần như kiểu người Âu, suốt năm
quanh quẩn đường Đồng Khởi, đường Nguyễn Huệ.
Muôn người muôn vẻ, chẳng ai quan tâm đến kiểu ăn
mặc của người đi bên cạnh, giàu hay nghèo thích đổ
xô ra đường, lấy đường phố làm nhà. Tiền bạc ở ngoài
đường chớ không phải ở trong nhà. Vì vậy, sắm xe để
đi tới lui, với tốc độ nhanh. Với chiếc xe gắn máy, mỗi
ngày ta gặp năm bảy người bạn ở xa cách nhau, trong
khi đi xe đạp thì đi viếng đôi ba chỗ là nhiều. Đường
phố đầy người và xe. Ngoài số người rong chơi, vung
tiền ra cửa sổ, lắm người dầm mưa, dãi nắng để tìm dịch
vụ hoặc giải quyết những dịch vụ, từ việc bán chiếc xe
đạp đến việc mua ngôi nhà giùm cho người bạn, hoặc
lo giấy tờ về nhà đất, thuế vụ, tiêu thụ mặt hàng ứ đọng,
tìm thêm công việc đem lợi tức nhiều hơn.
*
* *
Sài Gòn là đất mới
Thủ đô nước ta dời từ động Hoa Lư chật hẹp đến đất
Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay từ năm 1010 (đời
nhà Lý), trong khi Sài Gòn trở thành lãnh thổ Việt Nam
chánh thức trước năm 1700, sau Hà Nội đến 700 năm.
13
Huế là Phủ Chúa đời nhà Nguyễn, khi đang mở nước,
trở thành kinh đô sau năm 1800.
Trong buổi đầu, Sài Gòn chỉ có dân ở chung quanh
Đồn Dinh (phỏng định nay ở góc đường Cách Mạng
Tháng Tám - Nguyễn Trãi), quân sĩ lo an ninh, dân ở
chung quanh làm ruộng, rẫy; hàng tiêu dùng phải đưa
từ miền Trung vào.
Ta nhớ khi Bá Đa Lộc qua Pháp cầu viện, thay mặt
Nguyễn Ánh, để đánh Tây Sơn, trong hiệp ước vua nước
Pháp chỉ đòi Đà Nẵng và Côn Đảo mà thôi. Sài Gòn
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
bấy giờ chưa đáng chú ý. Phải đợi đến năm 1830, cách
đây hơn 150 năm, dưới đời Minh Mạng, khi tả quân Lê
Văn Duyệt làm tổng trấn ở xứ Gia Định (gồm toàn Nam
Bộ), cảng Sài Gòn mới tấp nập, xứng đáng là hải cảng,
tàu thuyền liên lạc ra Huế, Hà Nội, Trung Hoa, Phi Luật
Tân. Bài phú Cổ Gia Định mô tả chợ Bến Thành với tàu
từ Tây phương, với thủy thủ người Ma Ni (Philíppin),
lại còn tàu của người Anh ghé bến.
Bấy giờ, chợ Bến Thành ở trước mặt thành Phiên
An, trung tâm của thành này phỏng định vị trí nền nhà
thờ Đức Bà. Bến cảng ở bờ sông Sài Gòn trước mặt
thành, khoảng tượng Trần Hưng Đạo ngày nay chạy
dài đến cầu Nguyễn Tất Thành. Nhưng tiếc thay, với
chánh sách “đóng cửa rút cầu” của Minh Mạng, sau khi
Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng trù dập tay chân của
họ Lê, vì vậy xảy ra cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi
(1833). Sinh hoạt của Bến Thành không còn vì quân sĩ
triều đình Huế kéo vào, đàn áp.
Suốt non ba năm ròng rã, ngay trung tâm Sài Gòn có
hàng vạn binh sĩ bao vây, ngày như đêm, hò hét dưới
hầm hố. Bên trong, vài ngàn quân sĩ của Lê Văn Khôi
đã chống cự, rồi chịu thất thủ. Cả nội thành là chiến
trường, quân sĩ đôi bên đông đúc hơn dân số tại Sài
Gòn, lúc bây giờ. Sau đó, thành này bị san bằng, Minh
Mạng cho xây thành khác, nhỏ hơn, chính thực dân Pháp
đã đánh thành này, gọi thành Gia Định, vào năm 1859.
Bấy giờ, thực dân Pháp muốn tìm điểm tựa cho tàu
dừng lại để tiểu tu, đồng thời lập kho dự trữ hàng hóa ở
Đà Nẵng, gần Huế, trên đường mà thực dân Tây phương
từ châu Âu qua mua bán với Trung Hoa và Nhật Bản.
Hai nước sau này rất đông dân, lại có thổ sản như tơ lụa.
Đánh Đà Nẵng thì dễ, nhưng quân sĩ Pháp lưu trú
tại đó gặp nhiều khó khăn về tiếp tế. Thực dân đã nghĩ
đến chuyện đánh chiếm kinh đô Huế, nhưng quân sĩ
Pháp đi bộ, vượt đèo Hải Vân là chuyện quá gian nan,
nguy hiểm. Nhìn trên bản đồ, chúng nghĩ đến việc tạm
rút lui về phía Nam, chờ cơ hội đánh ra Huế rồi ra
Bắc Bộ. Sài Gòn lúc ấy chưa nhiều lúa gạo, lại bị ảnh
hưởng ba năm giết chóc qua vụ Lê Văn Khôi, thương
gia trong nước và nước ngoài không đến làm ăn nên
trở thành tiêu điều, nhà cửa hư nát trong khi quan lại
lo vơ vét, triều đình Huế không chi viện món gì cả.
15
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
Năm 1859 người Pháp mô tả Sài Gòn như một vùng
quê, với vài mươi căn nhà ngói. Pháp chiếm Sài Gòn
nhằm tạo chỗ dừng chân, đánh khá dễ vì chiến thuyền
từ Vũng Tàu vào Sài Gòn không khó như trường hợp
vượt đèo vượt núi. Chiến thuyền Pháp cặp bến Sài
Gòn pháo kích ngay để gây hoang mang. Chúng đổ bộ
ngay đầu đường Tôn Đức Thắng ở mé sông, kéo lên
đụng đường Nguyễn Du bây giờ là giao chiến trước
cửa thành Gia Định (thành mới xây, sau vụ Lê Văn
Khôi). Chiếm xong, chúng san bằng, đề phòng quân
ta tái chiếm.
Sau đó, khi ổn định, chúng lần hồi nhận ra Sài Gòn là
điểm quan trọng có thể là một hải cảng, giao lưu thuận
lợi với các nước Đông Nam châu Á và châu Âu.
Lần hồi, chúng phát triển ngành hàng hải, tàu buôn
trang bị máy chạy với sức hơi nước sôi, thêm vài cánh
buồm to tiếp sức gió.
*
* *
Sông trước mặt chợ Sài Gòn tên thật là rạch Bến
Nghé. Gọi rạch vì đường thủy này là chi nhánh của sông
Đồng Nai, tiếp giáp ở điểm gọi Nhà Bè với sự tích nửa
hư nửa thực đáng nhắc lại cho vui.
Hồi xưa lúc mới khẩn hoang, người từ miền Trung
vào, nhanh chóng, không qua đèo qua núi, vì họ đã có
truyền thống đi biển. Vào Vũng Tàu, gọi như thế vì đây là
cái vịnh nhỏ, làm nơi trú ẩn cho tàu (hiểu là ghe thuyền)
khi giông tố, lại dễ tìm nước ngọt, tìm củi nấu cơm.
Vào sông Đồng Nai, đi ngược dòng, đến ngã ba Nhà
Bè, ai muốn đi lên phía Biên Hòa để làm vườn, hoặc
làm chút ít ruộng thì đi thẳng; còn ai muốn đi Gia Định
(hiểu là Sài Gòn và phía đồng bằng sông Cửu Long) thì
quẹo vào sông Sài Gòn.
Có câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về
Gia Định, Đồng Nai thì về”. Chỗ ngã ba gần biển này,
hơn sáu tháng chịu ảnh hưởng nước mặn, hai bên bờ
chưa nhà cửa, toàn là dừa nước, bần, cây mắm, cây vẹt
của rừng nước mặn. Sông Đồng Nai khá to ở điểm này,
vì là ngã ba khá rộng nên có sóng gió triền miên. Ông
Võ Hữu Hoằng là nhà phú hộ, dạo trước giữ một thủ
(tức là đồn trạm kiểm soát), dĩ nhiên thời phong kiến
sinh lắm điều tiêu cực, nhờ tham nhũng công khai, nên
trở thành khá giả. Tương truyền về già, ông lo ngại cho
kiếp sau của mình, bèn mướn pháp sư làm phép cho
ông được “đi thiếp”, mê man hồn lìa khỏi xác. Đến âm
phủ là bọn quỉ sứ đầu trâu mặt ngựa đưa ông vào xem
địa ngục, chợt thấy một cái gông thật to, đề sẵn tên Võ
Hữu Hoằng! Ông hoảng sợ, quỉ sứ bảo rằng sau khi
chết, cái gông này dành để tra vào cổ ông. Ông khóc
lóc, vị quan nọ bảo muốn được nhẹ tội thì khi trở về
dương gian phải làm việc phước thiện. Khi tỉnh dậy,
ông mua tre rừng khá nhiều, kết lại chiếc bè to, nổi
trên mặt nước. Bè này có mái lợp che nắng che mưa,
17
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
lại bố trí từng phòng cho khách vãng lai. Chiếc bè ấy
đậu tại vị trí ngã ba sông ngày nay. Vốn hào hiệp, ông
dự trữ gạo, nước ngọt, cá mắm, phân phát cho những
ai túng thiếu, không lấy tiền. Ghe thuyền qua lại tạm
ghé vào, lần hồi nhiều người mua bán gom lại kề bên,
lượng người từ miền Trung vào Nam lập nghiệp khá
đông. Khu vực ngã ba trở thành kiểu chợ nổi trên sông,
gọi chợ Nhà Bè (nay ta cũng lấy tên truyền thống ấy
đặt tên huyện). Nhà cửa đông đúc, lần hồi chợ dời lên
trên bờ. Chuyện được thêu dệt về sau, nhưng ta khẳng
định một điều: Bấy giờ, đường thủy khó khăn, người
đến Gia Định - Đồng Nai còn nghèo, lòng từ thiện của
ông Võ Hữu Hoằng thật đáng biểu dương. Vì kính nể,
chẳng ai dám vô phép gọi đúng tên, Hoằng nói trại ra
Huồng. Về già, ông lập ngôi chùa, thờ Phật, nay ở thành
phố Biên Hòa hãy còn chùa Thủ Huồng.
*
* *
Về cấu tạo đất đai, Sài Gòn rất đa dạng. Phía bến
Bạch Đằng ngày nay, sát mé sông, ăn lên một đỗi đến
Thị Nghè rồi lên phía Biên Hòa, phía bắc, là đất phù
sa cổ, đất sét và đất cát quyện nhau, khá cứng rắn, như
đất rừng miền Đông. Ta gặp môi trường thích hợp cho
cây cỏ vùng cao, nào cây dầu, cây sao, đã thử trồng cây
cao su, lẻ tẻ làm cây cảnh. Vùng này, đào giếng gặp
mạch nước tốt.
Nhưng đi về phía tây, là vùng Chợ Lớn, sát mé rạch
vàm Bến Nghé (tên con rạch nhỏ đổ ra sông Sài Gòn),
đất ẩm thấp, sình lầy chịu ảnh hưởng nước lớn nước
ròng, ngập bờ, quả là đất phù sa mới, chịu ảnh hưởng
nước mặn, giống như phù sa của mũi Cà Mau. Bãi bùn
đầy những loại thảo mộc gần như vô dụng, như ô rô, cóc
kèn. Cá đối, cua biển nay đã vắng bóng vì dòng nước bị
ô nhiễm với rác rến, hóa chất phế thải. Rạch vàm Bến
Nghé (còn được gọi rạch Cầu Ông Lãnh, vì có chợ Cầu
Ông Lãnh) ăn vào phía Chợ Lớn, đổi tên là kinh Tàu
Hủ (xưa là rạch, được nạo vét lại).
Có thể nói: Biển ở gần kề Sài Gòn, ngăn cách bởi
vùng đất sình lầy, chưa định hình. Ngày trước, huê lợi
lớn nơi đây là cây cói (lát) để dệt chiếu. Bằng cớ: chợ
Xóm Chiếu đã thành hình, trước đời Tự Đức nay còn
tên đất. Vì là rừng sác (rừng hoang với các giống cây
nước mặn ven biển) nên ở làng Tân Kiểng (nay quận 5,
sát đường Trần Hưng Đạo), cách đây hơn 200 năm, năm
1771, vào dịp Tết, dân làng đang vui chơi lúc rảnh rang
lại xảy ra chuyện cọp vào chợ. Từ phía rừng sác cọp
xuất hiện thình lình. Xưa nay, cọp sợ đám đông, nhưng
đây là con cọp quá hung hăng; ai nấy hoảng chạy, cấp
báo với quân sĩ. Suốt ba ngày, cọp vẫn còn tới lui, bấy
giờ vùng Tân Kiểng gồm đa số dân sống với ruộng rẫy,
nhà cửa thưa thớt, gọi là chợ, nhưng kiểu chợ làng, với
đường mòn và những bờ tre gai. Bấy giờ, có nhà sư,
không rõ pháp danh, sử ghi là ông tăng Ân, (ông tăng
19
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
tên Ân) cùng đi với đồ đệ là Trí Năng đến nơi xin đánh
cọp. Ông tăng Ân dùng roi (gọi là côn) tiến vào bờ tre
mà khiêu khích. Cọp nhảy ra, sau một hiệp giao chiến,
cọp lui vào bụi tre, thủ thế. Ông tăng Ân xốc tới, cọp trở
ra cùng thi đấu, nhưng bất ngờ, khi lui bước, ông tăng
Ân té xuống mương cạn. Cọp nhảy tới, quơ nanh vuốt,
ông ngã xuống, máu me linh láng. Đồ đệ là Trí Năng
nhảy tới đánh trúng đầu cọp. Cọp chết tại chỗ, nhưng
ông tăng Ân vì bị thương nặng, sau đó cũng mất. Người
địa phương thương tiếc, đem chôn cất ông tại chỗ, xây
tháp lưu niệm. Rất tiếc, nay tháp ấy không còn. Cũng
vào buổi mở nước, ở khu vực xa hơn, cũng thuộc về
đất Gia Định, hãy còn chuyện ông tăng Ngộ. Thuở bé
ông sùng đạo Phật, lấy lý tưởng từ bi bác ái làm phương
châm để giúp người đi khai phá vùng đất mới. Hồi còn
bé, ông tăng Ngộ đòi đi tu, cha không cho.
Cha bảo:
- Tu hành là cực khổ, sẵn sàng đối phó với mọi khó
khăn, của cải không còn ý nghĩa. Muốn chứng tỏ đức
tánh ấy, con phải cầm cục lửa than cháy đỏ này trong
tay cho cha xem thử.
Bấy giờ người cha đang hút thuốc, bên cạnh là bếp
lửa. Lập tức, ông tăng Ngộ cầm cục than đỏ rực trong
lòng bàn tay mà sắc mặt không thay đổi, cầm khá lâu.
Người cha đành cho con đi tu. Gặp vị chân tu ở chùa
Vinh Quang, ông tăng Ngộ giữ gìn kỷ luật, mỗi ngày
siêng làm việc, chỉ ăn một bữa cơm trưa mà thôi. Nhiều
năm sau, ông nổi danh về đạo đức, người trong vùng ai
cũng mến phục. Rừng rậm còn nhiều, cọp cứ lai vãng,
ít ai dám đến làng mà khai khẩn ruộng đất. Ông nghĩ ra
chuyện đắp con đường từ đông sang tây, vượt qua vùng
sình lầy, rậm rạp. Tự tay ông làm việc, dân làng khâm
phục nhưng chẳng ai dám noi gương vì con cọp dữ mãi
tới lui. Nhiều người mua bán tập họp qua lại, cọp vẫn
xuất hiện. Hôm ấy, lúc ông đang đắp con lộ, cọp xuất
hiện. Ông ung dung làm việc, cọp đến gần, đứng nhìn
ông rồi cọp cúi đầu, đi mất dạng, mặc dầu trong tay ông
không có ngọn roi để tự vệ, chỉ là cây cuốc bình thường.
Dân làng mừng rỡ, tiếp sức với ông, nhờ vậy ruộng rẫy
hai bên đường càng thâu hoạch bông trái.
Con rạch vàm Bến Nghé ăn từ sông Sài Gòn chảy
về phía đồng bằng nối liền đến rạch Bến Lức. Đời Gia
Long, cách đây non hai trăm năm, đã bố trí một nhà
kho lớn, ở nơi gọi Cầu Kho, nay hãy còn tên đất với
khu chợ ở quận Nhất. Kho là kho lúa thóc, do nông dân
vùng đồng bằng gom về gần Sài Gòn, chờ đưa ra kinh
đô Huế để nộp thuế bằng sản vật. Xa một đỗi, ta đến
Chợ Quán, nơi tập trung năm ba quán nhỏ, ghe thuyền
qua lại nghỉ ngơi, khách uống trà Huế, loại trà tươi, lá
vò nát, nấu trong cái nồi to. Uống bát trà nóng, ăn cái
bánh có thể tạm dằn cơn đói.
Rời Chợ Quán một đỗi, về phía Chợ Lớn, ta gặp khu
vực khá trù phú. Bám vào mé rạch là những căn nhà sàn,
ghe thuyền tấp nập, trên bờ là đường mòn, sình lầy, vì
21
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
đất thấp. Dân ở đây lấy bờ rạch làm đường sá, đường
thủy thay cho đường bộ. Rải rác, vài con đường mòn ăn
từ mé rạch lên vùng đất cao (nay đường Nguyễn Trãi).
Mươi ngôi nhà lợp ngói hiện ra: khu vực người Hoa với
mái ngói của chùa miếu. Ghe thuyền từ Lục tỉnh, tức là
các tỉnh phía đồng bằng chở đến nào lúa gạo, cá khô,
dừa khô, cau khô, cất vào những nhà kho để tạm tồn trữ,
chờ phân phối cho các chợ ở miền Đông Nam Bộ, hoặc
đưa ra miền Trung. Đặc biệt về lúa gạo thì xuất khẩu
đến miền Nam Trung Hoa. Khu vực này được dân gian
gọi Chợ Lớn, theo nghĩa: chợ này lớn hơn những chợ
lân cận. Tên đất Chợ Lớn mãi bảo lưu đến ngày nay.
Chợ này thành hình vào năm 1780 trễ nải hơn chợ Cù
lao Phố ở Biên Hòa.
*
* *
Ngược dòng lịch sử, ta thấy lúc Sài Gòn còn là đồn
trại của binh sĩ thì phía sông Đồng Nai (mà đầu nguồn
nay là cơ ngơi của thủy điện Trị An) người Hoa từ
Quảng Đông không chịu hàng phục người Mãn Thanh
đã kéo xuống “hải ngoại” phía nam để ẩn lánh, chờ
dịp khôi phục nhà Minh đã bị Mãn Thanh đánh bại.
Họ đến với chiến thuyền và binh sĩ, ghé vào Huế, xin
tị nạn. Chúa Hiền Vương cho phép họ đến Biên Hòa
ngày nay để lập thương cảng. Họ thâu mua lâm sản quí
giá như ngà voi, hồ tiêu, gân nai (món ăn quí nhất), thịt
khô, lông chim công, chim trĩ... đưa về Quảng Đông.
Khi trở lại Biên Hòa, họ chở theo tô chén, lu hũ, thuốc
Đông y, thêm tượng đá (để trang trí đền chùa), lại còn
nến, nhang, cam quít. Bến cảng này mãi đến nay còn
gọi Cù lao Phố, một đảo nhỏ giữa sông Đồng Nai, đối
diện với thành phố Biên Hòa. Gọi Phố vì lần hồi khá
giả, họ xây nhà ngói, xẻ đường lộ, lát đá xanh, mở hiệu
ăn uống, huyên náo với những đội ca nhạc. Người Hoa
gọi chốn này là Đại Phố (Chợ Lớn). Năm 1777, quân
Tây Sơn kéo vào Nam để truy nã chúa Nguyễn, cuộc
chiến xảy ra tại đây, vì vậy chợ Cù lao Phố bị tàn phá.
Thương gia người Hoa kéo nhau xuống vị trí Chợ Lớn
ngày nay, gần kề Sài Gòn, tiếp tục tồn trữ hàng hóa
để bán trong nội địa và xuất khẩu. Chợ vẫn giữ tên cũ,
như hồi còn ở Biên Hòa. Thật ra, việc đổi vùng này
trùng hợp với tiềm năng kinh tế. Ngà voi, sừng tê (con
tê giác), gân nai, lông chim công (dùng trang trí nhà
cửa hoặc mão của vua quan...) là sản phẩm thiên nhiên,
lần hồi cạn kiệt. Sau khi chuyển về Chợ Lớn, gần Sài
Gòn, việc mua bán thêm tấp nập. Việc khẩn hoang ở
đồng bằng sông Cửu Long đã đem lại kết quả, với quá
nhiều lúa gạo.
Từ Chợ Lớn mới thành lập này, đường thủy về phía
đồng bằng sông Cửu Long lần hồi hoàn chỉnh, trước khi
người Pháp đến, vào thế kỷ thứ XVIII và XIX, ông cha
ta đã chú ý đến an ninh quốc phòng. Đã đào con kinh
Bảo Định nối sông Tiền qua sông Vàm Cỏ Tây, rồi đào
23
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
kinh Thủ Thừa nối Vàm Cỏ Tây qua Vàm Cỏ Đông,
vào rạch Bến Lức. Bến Lức là nơi hội tụ ghe thuyền
chuẩn bị vào Chợ Lớn, nơi có kho dự trữ lúa gạo chờ
đưa ra chợ Bến Thành (cảng Sài Gòn). Ghe tải từ phía
đồng bằng lên đây là tài sản lớn đối với từng người chủ
nhưng đến nơi đô hội thì trở thành quá bé nhỏ, lạc lõng.
Chủ phải tắm rửa sạch sẽ, mặc áo tươm tất để dọ dẫm
tìm hiểu tin tức về giá lúa gạo đang lên hay xuống, ăn
uống thỏa thuê, việc chèo chống càng phải cẩn thận vì
sông rạch như trở thành chật hẹp. Nhất là chuyến trở
về phía đồng bằng, cần tu bổ nào buồm, nào quai chèo,
cột chèo cho an toàn. Chợ Đệm (nay là nơi có nhà máy
xay xát lớn Satakê) được gọi như thế vì bán nhiều đệm;
bấy giờ vải quá đắt, dùng đệm chằm với lá buôn hoặc
với bàng, để làm buồm. Khốn thay! Bao giờ cũng như
bây giờ, nơi đông đảo tấp nập vẫn là đầy phức tạp. Nét
đặc trưng của sông rạch Nam Bộ là có bọn xấu chuyên
nghề trộm cắp giữa ban ngày, gọi là bối. Chúng tụ tập
ở Ba Cụm, gần chợ Đệm. Ba Cụm, hiểu theo người địa
phương là nơi có ba cội cây đa to, tàng lá xum xuê,
mọc kề bên nhau. Bọn ăn trộm trên sông hội tụ về đây,
ngang nhiên hành nghề.
Ngồi trên chiếc xuồng để tạm nghỉ, biết rằng bọn bối
“lấy của giữa ban ngày” đang rình rập, anh nọ luôn cảnh
giác. Cái thùng bằng cây đựng quần áo bao giờ cũng
đặt sát lưng để anh dựa vào. Rủi bị trộm, nhất định anh
sẽ mất thăng bằng, ngã ngửa ra phía sau. Ghe xuồng
qua lại khá đông, anh quan sát, vui mắt. Đột nhiên, phía
trước có người réo to:
- Cái chú kia thô tục quá! Hơn hai mươi tuổi mà còn
cởi quần ra, đứng phóng uế, không biết xấu hổ.
Người khác nói:
- Chắc là thằng điên, thằng khùng. Có vợ có con rồi
mà ở truồng giữa chợ như con nít.
Anh nọ vì tò mò nên nghiêng người về phía trước
để xem mặt mày kẻ vi phạm thuần phong mỹ tục. Vừa
lúc ấy, tên bối nhấc lên cái rương bằng cây sau lưng
anh. Chừng giựt mình, không thấy ai cởi truồng ở phía
trước, anh ngồi trở lại tư thế cũ, thấy hẫng hụt sau lưng,
bèn kêu lên:
- Thùng đựng quần áo của tôi đâu rồi?
Tên bối đã chuyền cái thùng ấy cho đồng bọn đem
đi nơi khác lại cười giòn:
- Thì bị... bối rồi. Nó ở trước mặt anh mà anh
không biết.
Một thí dụ khác: Ông lão nọ chở một thuyền đầy vịt
đem lên Chợ Lớn, mỗi cặp vịt được trói chân lại, chất
đống. Cô gái nọ bơi xuồng đến, ngỏ ý muốn mua. Ông
lão dừng lại. Cô ta trả giá, hai bên đồng ý, cô đem hai
cặp vịt qua xuồng mình, rồi dùng cây dầm mà bơi khá
nhanh. Ông lão gọi:
- Trả tiền cho tôi chớ!
- Sớm muộn gì tôi cũng trả tiền mà.
Xuồng của cô ta chen vào đám đông. Ông lão quát to:
25
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
- Cô làm nghề... bối hả?
Cô gái cho xuồng cặp vào bờ, chỉ vào ngực:
- Nghề... bối là nghề cha truyền con nối của tôi!
Nói xong, cô lên bờ, hai tay xách hai cặp vịt, bước
chậm rãi. Ông lão đứng dậy, kêu trời. Chẳng lẽ ông bỏ
xuồng mà rượt theo. Nãy giờ có năm ba tên bối rình rập,
thừa lúc ông nhìn theo cô gái, chúng lấy cắp vài chục
cặp vịt rồi lên bờ đối diện, mất dạng.
Những chuyện tương tự còn nhiều. Về sau, với thuyền
được cơ giới hóa, di chuyển nhanh hơn, nạn bối giảm
bớt. Lần hồi, dân cư ngày đông đúc, bờ rạch chợ Đệm
chẳng còn hoang vắng như trăm năm về trước.
Sông Cửu Long có thượng nguồn ở bên nước Cam
Bốt (nay là Campuchia - BTV), vùng Nam Bộ giáp ranh
nhau, không thác không gành nên từ xa xưa đã trao đổi
hàng hóa. Giới thương lái từ Cam Bốt đưa xuống Sài
Gòn - Chợ Lớn theo sông Cửu Long nào cá khô của Biển
Hồ, đậu xanh, đậu phộng (lạc), hồ tiêu, thêm những bè
cá tươi sống đặt hai bên ghe. Nam Bộ đã đưa lên nước
bạn nào dụng cụ nông nghiệp, trầu rang, cau khô, trái
cây. Bên Cam Bốt thời trước, tiêu thụ nhiều trầu cau.
Phía đồng bằng, nhiều xóm chuyên trồng trầu, để bảo
quản lâu dài, từng lá trầu được sấy khô, bán theo sức
nặng từng cân.
Người ở đồng bằng khi khá giả rủ nhau lên Sài Gòn
để mua sắm và giải trí, trở thành số khách vãng lai
thường trực đáng kể.
*
* *
Về tên đất Sài Gòn, nhiều giả thiết đặt ra, thiếu tính
thuyết phục. Hoặc là tiếng Khơme, tiếng Hoa, lần hồi
nói trại ra. Hoặc là rừng cây gòn. Vùng đất cao phía
Chợ Lớn ăn đến vùng Phú Lâm ngày nay, thời xa nhiều
cây gòn mọc như rừng nguyên sinh. Sài là củi, là cây.
Ông Trịnh Hoài Đức, từng làm tri huyện ở huyện Tân
Bình xưa, từ hơn 200 năm về trước đã giải thích như
thế. Huyện Tân Bình bấy giờ gồm quận 1, quận 3, Phú
Nhuận... Họ Trịnh là nhà trí thức khoa bảng, là sử gia
đáng tin cậy.
Sài Gòn xưa là tên của vùng Chợ Lớn, tức quận 5,
quận 6, quận 8 bây giờ.
Phía Sài Gòn ngày nay, xưa gọi Bến Nghé. Lại rắc
rối nếu ta muốn giải thích. Bến là bến sông, dễ hiểu, vì
đã có con sông khá rộng, đổ ra sông Đồng Nai ở Nhà
Bè. Nghé là con trâu con. Bến nước mà bầy trâu con
đến tắm, uống nước, với cậu bé dắt trâu. Nhưng gần mé
sông bấy giờ dường như chẳng ai làm ruộng (bến Bạch
Đằng, chỗ khách sạn Nổi ngày nay đất khá cao). Lắm
người cho rằng nghé là tiếng con cá sấu kêu rống. Lối
giải thích này dễ chấp nhận; thời xưa, bờ sông hoang
vắng, cá sấu từ biển Cần Giờ (vùng Cần Giờ nay hãy
còn cá sấu) tới lui phía mé sông, ban đêm kêu lên, tiếng
cá sấu kêu nghe giống như tiếng trâu con gọi mẹ. Lần
27
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
hồi, vì tàu thuyền tới lui, gây náo động, cá sấu rút lui
về phía rừng ngập mặn, gần biển.
Người Pháp đến, nhìn khu vực Bến Nghé (Sài Gòn
ngày nay) và Chợ Lớn (xưa gọi Sài Gòn) như là một
thực thể gắn liền. Vì chú trọng đến khu vực thương mại,
chúng gọi Bến Nghé xưa là Sài Gòn, bỏ tên truyền thống
Bến Nghé. Dưới mắt thực dân, khu vực này chỉ đáng
lưu ý tới những kho lúa gạo phía Chợ Lớn (xưa gọi Sài
Gòn). Về mặt hành chính, chúng áp đặt sự thay đổi ấy,
và sông Bến Nghé đổi tên là sông Sài Gòn, như nay ta
quen dùng trên bản đồ.
Khu vực Sài Gòn, từ khi Pháp đến, trở thành quan
trọng, gồm ba trung tâm nhập một, gần kề nhau:
- Hải cảng, với chợ Bến Thành xưa.
- Đầu não của cơ quan hành chính và quân sự với
thành Gia Định. Đầu não của vùng Bến Nghé xưa là
huyện Tân Bình, đóng ở ngang hông Bưu điện thành
phố ngày nay, đường Nguyễn Du, vị trí trường sư phạm.
(Nay là trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa - BTV)
- Khu vực bến bãi, trung chuyển hàng hóa và tiểu thủ
công nghệ ở Chợ Lớn, là giang cảng cho phía đồng bằng.
Về giao lưu với nước ngoài, Sài Gòn trở thành điểm
lý tưởng ở Đông Nam Á, chỉ kém Singapore, Hương
Cảng mà thôi. Nhìn trong phạm vi vùng, Sài Gòn dựa
vào sự phồn vinh vững chắc của đồng bằng sông Cửu
Long với lúa gạo sản xuất dư dã, thêm thủy hải sản dồi
dào, lại liên lạc dễ dàng với nước Cam Bốt. Thêm hậu
phương lớn là miền Đông Nam Bộ và sức mạnh tổng
hợp của cả nước, thời nhà Nguyễn, đầu thế kỷ thứ XIX.
*
* *
Có thể nói vùng đất cao của Sài Gòn khởi đầu từ
bên này cầu Nguyễn Tất Thành, đối diện nhà lưu niệm
Nhà Rồng. Sát mé sông, ngay chỗ cột cờ Thủ Ngữ,
xưa là nơi bắt đầu của một chợ nhỏ, gọi Chợ Sỏi, đất
cứng, với đá ong, là phù sa cổ lâu ngày biến chất. Khu
vực cao này chạy dài qua Bình Thạnh, Phú Nhuận, lên
Hóc Môn, Gò Vấp. Ta không lấy làm lạ khi thấy hồi
đầu thế kỷ XX này, phía ngã tư Phú Nhuận (đường
Nguyễn Kiệm) Pháp lập một vườn cao su nhằm kinh
doanh, dùng sức bò để cày xới, với nhân công sử dụng
cuốc, dao để làm cỏ. Giữa Phú Nhuận và Tân Bình,
xưa là khu Vườn Xoài, phong cảnh thanh lịch làm phần
mộ cho Bá Đa Lộc, nhà truyền giáo Pháp từng giúp
Nguyễn Ánh lên ngôi. Lại còn khu vực đất cao là sân
bay Tân Sơn Nhất (thành lập năm 1930 rồi phát triển
thêm). Gò Vấp, Hóc Môn có đất cao, dùng nước giếng,
mùa hạn, giếng sâu hơn 10 mét. Ông cha ta ngày xưa
thích ở nơi không úng lụt vào mùa mưa, để sản xuất
hoa màu như rau cải, bầu, mướp. Từ thời mở nước đến
giờ, tuy không nói ra, ông cha ta đã nghĩ đến vành đai
xanh. So với mé sông quận 1, ở đây độ cao khoảng
10 mét, như một vùng cao nguyên thấp. Trồng rau cải
29
SƠNNAM
GIỚI THIỆU
SĐI GÌN XƯA
và hoa. Ngày Tết, bán xuống Sài Gòn hoa mai vàng,
hoa cúc, ngày mồng một, ngày rằm bán hoa vạn thọ,
màu vàng hực để cúng ông bà, cúng thần Tài cho mọi
gia đình, đặc biệt là giới thiểu thương. Thêm thuốc lá,
nổi danh ở Gò Vấp, nay còn tên đất Xóm Thuốc. Hóc
Môn, về hướng bắc Sài Gòn, từ xưa gọi 18 thôn Vườn
Trầu. Trầu là dây leo cần được chăm sóc từng ngày về
tiêu tưới, tưới xong, gốc phải ráo, tránh úng. Trầu leo
cao, theo cây nọc, lý tưởng nhất là cây cau, vừa được
huê lợi trầu, vừa thu hoạch trái cau để ăn với trầu. Trên
diện tích nhỏ, mà đạt huê lợi cao, dây trầu có thể leo
lên những nọc kề bên nhau, cắm thẳng lên trời, vì vậy
không che khuất nắng những nọc bên cạnh. Vài lá trầu
tốt có thể so sánh với một tiền kẽm ngày xưa. “Miếng
trầu là đầu câu chuyện”, cũng như khắp nước ta, từ Bắc
chí Nam, thói quen ăn trầu phổ biến ngay trong giới
trai gái vừa lớn lên. Gặp nhau, chàng trai mời cô gái
ăn trầu, kiểu xã giao bắt buộc. Vùng Sài Gòn tiêu thụ
mỗi ngày một khối lượng trầu cau đáng kể. Trầu xanh
dành cho giới bình dân, trầu vàng dành cho người khá
giả. Đồng bào vùng 18 thôn Vườn Trầu, từ thế kỷ thứ
XVIII sống chuyên canh với trầu cau. Cái khó vẫn là
chuyên chở đến Sài Gòn, Chợ Lớn để tiêu thụ tại chỗ
và phân phối cho vùng lân cận, nơi chịu ảnh hưởng
nước mặn thêm đất phèn nên trồng trầu rất khó. Thay
vào đó, đồng bào nuôi vịt, làm ruộng, đào ao bắt cá,
đem bán lấy tiền, mua lại trầu cau vôi thuốc.
Hừng sáng, phụ nữ vùng Hóc Môn (18 thôn Vườn
Trầu) rủ nhau gồng gánh, theo đường bộ, hơn 15 ki-lômét, đi từng đội đoàn. Người đi đầu, người đi sau chót
và người đi giữa phải cầm đuốc, dầu là đêm có trăng.
Ngọn lửa của đuốc khiến thú dữ lánh xa. Thú dữ đây là
cọp, hai bên đường còn rậm rạp, bấy giờ có câu ví “Dữ
như cọp Vườn Trầu”. Cọp tới lui quanh quẩn gần xóm,
rình cơ hội để giết chó, heo hoặc con người mà ăn thịt.
Đã từng ăn thua với con người, cọp học được nhiều kinh
nghiệm. Dân gánh trầu vừa đi vừa nói chuyện ồn ào, để
áp đảo lũ cọp lắm khi vì đói nên hóa ra liều lĩnh. Gặp
những con cọp hung hăng, phụ nữ hè nhau dùng đòn
gánh mà đánh, như thứ vũ khí rất hữu hiệu. Đòn gánh
làm bằng tre già, vừa dẻo, vừa cứng. Đến những năm
sau 1890, khoảng trăm năm trước đây thôi, chính phủ
Pháp còn ra giải thưởng cho những ai săn được cọp đem
nộp cho nhà nước. Ta có tư liệu xác nhận.
- Vùng cầu An Hạ, trong 3 tháng, cọp giết 12 người.
- Vùng Hóc Môn, trong vài tuần lễ liên tục, cọp giết
4 người. Và ở Thủ Dầu Một, trong vài tháng, cọp còn
tới lui giết 8 người. Bấy giờ,...
 





