HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

CÂU HỎI NGỘ NGHĨNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7250164962913_84f238d0b671fe0677f1e7e331749009.jpg Z7250164962913_84f238d0b671fe0677f1e7e331749009.jpg Z7250164962912_b084675f94d554092bff399f19858e56.jpg Z7250164962851_56cfc0ad9074fe25273a19fa1a7b9b87.jpg Z7262370610256_71f3b37620411591fe3cf0db1de3fc27.jpg Z7262369223724_07e440c8e343bd700bf465b982fdbee3.jpg Z7262367947044_16c4312a1094ffd209d985bd41dc1751.jpg Z7262367018664_33a063eafba6d06638aecda5587535e0.jpg Z7262366320001_1c7103c48e54d35a12af9ceb63515423.jpg Z7262371477959_2fea5d82fb7227245b1e3bef5d259726.jpg Z7262389774262_468c4635c10feed241027cabae384d6d.jpg Z7250166121904_18b3b6254414d393dea8cb944903b7f9.jpg Z7250166121905_6c6310f58cab6be0eb8e1a122f4eef46.jpg Z7250166121907_546f6eb4a84724a9bd5f5431f251d033.jpg Z7250166121910_77f6ed726b705f433129b34f5d239a8b.jpg Z7232209187831_4d70fa29eedd5bd6d32c912ae4525769.jpg Z7232209187831_4d70fa29eedd5bd6d32c912ae4525769.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg

    VIDEO THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

    💕💕Thư viện không chỉ là nơi cất giữ sách, mà là nơi đánh thức giấc mơ.💕Hãy đến thư viện – nơi bắt đầu của những thay đổi lớn lao bằng những trang sách nhỏ bé💕

    Sai Gon xua an tuong 300 nam Tiep can dong bang Song Cuu Long

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
    Ngày gửi: 17h:39' 20-08-2025
    Dung lượng: 2.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người


    GIỚI THIỆU SÀI GÒN XƯA, Sơn Nam
    - In lần thứ nhất, Tạp chí Văn, Sài Gòn, 1973.
    - In lần thứ hai, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1995.



    ẤN TƯỢNG 300 NĂM, Sơn Nam
    - In lần thứ nhất, Nhà xuất bản Trẻ, Tp. HCM, 1998.



    TIẾP CẬN VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG,
    Sơn Nam
    - In lần thứ nhất, Nhà xuất bản Trẻ, Tp. HCM, 2000.

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ GIỮ BẢN QUYỀN
    Copyright © 2003, 2009 Tre Publishing House Co.Ltd
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
    Sơn Nam, 1926-2008
    Sài Gòn xưa, Ấn tượng 300 năm và Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long
    : bút ký / Sơn Nam. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2008.
    364tr. ; 20cm.
    1. Văn học Việt Nam -- Thế kỷ 20. 2. Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam)
    -- Lịch sử. 3. Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) -- Đời sống xã hội và tập quán.
    I. Ts: Ấn tượng 300 năm. II. Ts: Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long.
    895.9223403 -- dc 22
    S698-N17

    HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
    161B LÝ CHÍNH THẮNG - QUẬN 3 - TP. HỒ CHÍ MINH
    ĐIỆN THOẠI: 9316211 - 9316289 - 8465595 - 8465596
    FAX: 84.8.8437450
    E-MAIL: NXBTRE@HCM.VNN.VN

    LỜI GIỚI THIỆU

    Từ những xóm làng heo hút giữa bạt ngàn rừng lau
    sậy hoang vu, đêm đêm bên cạnh tiếng côn trùng rả rích
    là tiếng voi gầm, vượn hú, cọp rống, sấu kêu đến những
    khu đô thị hiện đại khang trang, ấp làng trù phú, đồng
    ruộng thẳng cánh cò bay, Sài Gòn - Bến Nghé xưa nói
    riêng và Nam Bộ nói chung đã trải qua 310 năm hình
    thành và phát triển.
    Trong bề dày lịch sử hình thành và phát triển của
    mình, Sài Gòn và Nam Bộ đã bao phen dâu bể, bao lần
    đổi thay. Từ những lưu dân thời mở nước đến những
    công dân thời dựng nước hôm nay, người Sài Gòn và
    Nam Bộ đã hun đúc cho mình bao nhiêu hồn thiêng
    sông núi, để dù sống gởi thác về, họ vẫn đau đáu trong
    lòng nỗi hoài niệm về một vùng quê xứ, về nơi tổ tiên
    bao đời đã từ đó ra đi.

    7

    SƠNNAM
    ẤN TƯỢNG
    300 NĂM
    SĐI GÌN XƯA
    & ĐỒNG BẰNG
    SĨNG CỬU LONG

    Sống trên quê hương, sống giữa lòng thành phố,
    người Nam Bộ nói chung và công dân Thành phố Hồ
    Chí Minh nói riêng, từ em bé mới bắt đầu cắp sách đến
    trường đến người đã hoàn thành nghĩa vụ, đang an
    hưởng tuổi già thảy đều cần biết, cần nhớ, cần hiểu về
    nơi chốn mình đang dừng chân, định cư.
    Kỷ niệm 310 năm hình thành và phát triển (16982008) Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh và vùng đất
    Nam Bộ, Nhà xuất bản Trẻ trân trọng giới thiệu đến
    bạn đọc tập bút ký của nhà văn Sơn Nam bao gồm 3 tác
    phẩm đã xuất bản được tập hợp lại. Đó là Giới thiệu Sài
    Gòn xưa (NXB Kim Đồng, 1995), Ấn tượng 300 năm
    (NXB Trẻ, 1998) và Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu
    Long (NXB Trẻ, 2000).
    Tập sách được xuất bản nhân dịp nhà văn Sơn Nam
    qua đời được thất tuần như một nén hương nhỏ tưởng
    nhớ nhà văn lớn - người khởi đi từ vùng rừng U Minh,
    Rạch Giá đã dành hết cuộc đời mình cho sự nghiệp
    nghiên cứu và viết về đất và người Nam Bộ, người đã
    từ chang đước nhỏ trở thành cây đại thụ trong lòng
    bạn đọc gần xa.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    GIỚI THIỆU
    SÀI GÒN XƯA
    BÚT KÝ

    9

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh, cái tên
    nghe rất quen nhưng lắm khi là còn xa lạ đối với đồng
    bào cả nước, ngay cả với người sinh sống ở Sài Gòn.
    Thử dạo chơi Sài Gòn, qua lịch sử thành hình của nó,
    ta sẽ hiểu thêm từng bước. Hiểu và thương người và đất
    Sài Gòn, với tấm lòng rộng rãi, với sự gắn bó máu thịt
    giữa đồng bào Việt, mặc dù ở Sài Gòn có nhiều người
    lai Khơme, lai Trung Hoa, lai Pháp, lai Ấn Độ, hoặc có
    người mới đến, xin hộ khẩu chưa xong.
    Thương và quí trọng người Sài Gòn, vì tình người:
    Có thể nói hầu hết những người can đảm đến Sài Gòn
    từ hồi 300 năm qua đều là kẻ cùng khổ, hoặc người khá
    giả tương đối nhưng không thấy tương lai ở quê xứ của
    mình. Họ ra đi, tìm chốn “đất lành chim đậu”, nhưng
    thời gian đã trả lời rằng nếu gặp đất lành mà không đủ
    kiên nhẫn, cần cù sáng tạo thì chim cũng sống lây lất.

    11

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    Vả lại, khí hậu của Sài Gòn thời xưa đâu như bây giờ.
    Bãi sông sình lầy, đất thì lắm ao vũng, một năm có đến
    sáu tháng nước mặn từ biển lấn vào.
    Sài Gòn vẫn lạ, lắm người vào Sài Gòn nhưng không
    hiểu tại sao chợ Bến Thành lại ở trong đất liền, không
    thành hình tại mé sông mé rạch? Đã gọi chợ Bà Chiểu
    nhưng cũng quen gọi là Gia Định? Lại còn Chợ Lớn
    cũ, Chợ Lớn mới. Thêm nhiều chùa mà giới bình dân
    quen gọi là chùa Chà Và, hoặc chùa Ông, chùa Bà, thêm
    những đình làng vẫn tồn tại và còn tấp nập ở nội thành?
    Dịp lễ Nô en của đạo Thiên Chúa, người theo đạo
    Phật, đạo Thờ cúng ông bà lại thức đêm, rong chơi, háo
    hức. Lại còn thói quen ăn uống bên lề đường, dưới bóng
    cây me cổ thụ, xem như là phong cách sang trọng. Báo
    hằng ngày, báo tuần, bán khá chạy, mỗi gia đình mua
    ba bốn tờ khác nhau. Hát cải lương được lắm người ưa
    thích, cũng như bóng đá, đua xe đạp. Gần như phường
    nào cũng có tỷ lệ khá cao Việt kiều trở về thăm nhà.
    Thích áo quần lạ, ham xa xỉ phẩm, không biết tiết kiệm
    tiền bạc. Hỏi vị trí những con đường như Hoàng Diệu,
    Chu Văn An hoặc Cầu Mật, cầu Chà Và, nhiều người
    tuy ở Sài Gòn lâu đời nhưng chẳng biết hướng nào mà
    chỉ dẫn cụ thể.
    Lạ hơn nữa, lắm người từ bé tới lớn chưa đặt chân
    vào chợ Bến Thành hoặc dạo chơi Thảo Cầm Viên, Nhà
    Bè. Sài Gòn quá rộng, khu nội thành dài lắm nơi hơn
    mười ki-lô-mét. Củ Chi, Cần Giờ vẫn còn là đất lạ đối

    với khá đông người; biết qua lượng thông tin nhưng
    chẳng bao giờ đi đến lần nào. Lại còn sắc mặt vui tươi
    khi xã giao, biểu lộ lòng hiếu khách. Và dịp Tết đến,
    ai cũng ước mơ được về quê ăn Tết. Trong khi ấy, có
    nhiều người sống gần như kiểu người Âu, suốt năm
    quanh quẩn đường Đồng Khởi, đường Nguyễn Huệ.
    Muôn người muôn vẻ, chẳng ai quan tâm đến kiểu ăn
    mặc của người đi bên cạnh, giàu hay nghèo thích đổ
    xô ra đường, lấy đường phố làm nhà. Tiền bạc ở ngoài
    đường chớ không phải ở trong nhà. Vì vậy, sắm xe để
    đi tới lui, với tốc độ nhanh. Với chiếc xe gắn máy, mỗi
    ngày ta gặp năm bảy người bạn ở xa cách nhau, trong
    khi đi xe đạp thì đi viếng đôi ba chỗ là nhiều. Đường
    phố đầy người và xe. Ngoài số người rong chơi, vung
    tiền ra cửa sổ, lắm người dầm mưa, dãi nắng để tìm dịch
    vụ hoặc giải quyết những dịch vụ, từ việc bán chiếc xe
    đạp đến việc mua ngôi nhà giùm cho người bạn, hoặc
    lo giấy tờ về nhà đất, thuế vụ, tiêu thụ mặt hàng ứ đọng,
    tìm thêm công việc đem lợi tức nhiều hơn.
    *
    * *

    Sài Gòn là đất mới
    Thủ đô nước ta dời từ động Hoa Lư chật hẹp đến đất
    Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay từ năm 1010 (đời
    nhà Lý), trong khi Sài Gòn trở thành lãnh thổ Việt Nam
    chánh thức trước năm 1700, sau Hà Nội đến 700 năm.

    13

    Huế là Phủ Chúa đời nhà Nguyễn, khi đang mở nước,
    trở thành kinh đô sau năm 1800.
    Trong buổi đầu, Sài Gòn chỉ có dân ở chung quanh
    Đồn Dinh (phỏng định nay ở góc đường Cách Mạng
    Tháng Tám - Nguyễn Trãi), quân sĩ lo an ninh, dân ở
    chung quanh làm ruộng, rẫy; hàng tiêu dùng phải đưa
    từ miền Trung vào.
    Ta nhớ khi Bá Đa Lộc qua Pháp cầu viện, thay mặt
    Nguyễn Ánh, để đánh Tây Sơn, trong hiệp ước vua nước
    Pháp chỉ đòi Đà Nẵng và Côn Đảo mà thôi. Sài Gòn
    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    bấy giờ chưa đáng chú ý. Phải đợi đến năm 1830, cách
    đây hơn 150 năm, dưới đời Minh Mạng, khi tả quân Lê
    Văn Duyệt làm tổng trấn ở xứ Gia Định (gồm toàn Nam
    Bộ), cảng Sài Gòn mới tấp nập, xứng đáng là hải cảng,
    tàu thuyền liên lạc ra Huế, Hà Nội, Trung Hoa, Phi Luật
    Tân. Bài phú Cổ Gia Định mô tả chợ Bến Thành với tàu
    từ Tây phương, với thủy thủ người Ma Ni (Philíppin),
    lại còn tàu của người Anh ghé bến.
    Bấy giờ, chợ Bến Thành ở trước mặt thành Phiên
    An, trung tâm của thành này phỏng định vị trí nền nhà
    thờ Đức Bà. Bến cảng ở bờ sông Sài Gòn trước mặt
    thành, khoảng tượng Trần Hưng Đạo ngày nay chạy
    dài đến cầu Nguyễn Tất Thành. Nhưng tiếc thay, với
    chánh sách “đóng cửa rút cầu” của Minh Mạng, sau khi
    Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng trù dập tay chân của
    họ Lê, vì vậy xảy ra cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi

    (1833). Sinh hoạt của Bến Thành không còn vì quân sĩ
    triều đình Huế kéo vào, đàn áp.
    Suốt non ba năm ròng rã, ngay trung tâm Sài Gòn có
    hàng vạn binh sĩ bao vây, ngày như đêm, hò hét dưới
    hầm hố. Bên trong, vài ngàn quân sĩ của Lê Văn Khôi
    đã chống cự, rồi chịu thất thủ. Cả nội thành là chiến
    trường, quân sĩ đôi bên đông đúc hơn dân số tại Sài
    Gòn, lúc bây giờ. Sau đó, thành này bị san bằng, Minh
    Mạng cho xây thành khác, nhỏ hơn, chính thực dân Pháp
    đã đánh thành này, gọi thành Gia Định, vào năm 1859.
    Bấy giờ, thực dân Pháp muốn tìm điểm tựa cho tàu
    dừng lại để tiểu tu, đồng thời lập kho dự trữ hàng hóa ở
    Đà Nẵng, gần Huế, trên đường mà thực dân Tây phương
    từ châu Âu qua mua bán với Trung Hoa và Nhật Bản.
    Hai nước sau này rất đông dân, lại có thổ sản như tơ lụa.
    Đánh Đà Nẵng thì dễ, nhưng quân sĩ Pháp lưu trú
    tại đó gặp nhiều khó khăn về tiếp tế. Thực dân đã nghĩ
    đến chuyện đánh chiếm kinh đô Huế, nhưng quân sĩ
    Pháp đi bộ, vượt đèo Hải Vân là chuyện quá gian nan,
    nguy hiểm. Nhìn trên bản đồ, chúng nghĩ đến việc tạm
    rút lui về phía Nam, chờ cơ hội đánh ra Huế rồi ra
    Bắc Bộ. Sài Gòn lúc ấy chưa nhiều lúa gạo, lại bị ảnh
    hưởng ba năm giết chóc qua vụ Lê Văn Khôi, thương
    gia trong nước và nước ngoài không đến làm ăn nên
    trở thành tiêu điều, nhà cửa hư nát trong khi quan lại
    lo vơ vét, triều đình Huế không chi viện món gì cả.

    15

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    Năm 1859 người Pháp mô tả Sài Gòn như một vùng
    quê, với vài mươi căn nhà ngói. Pháp chiếm Sài Gòn
    nhằm tạo chỗ dừng chân, đánh khá dễ vì chiến thuyền
    từ Vũng Tàu vào Sài Gòn không khó như trường hợp
    vượt đèo vượt núi. Chiến thuyền Pháp cặp bến Sài
    Gòn pháo kích ngay để gây hoang mang. Chúng đổ bộ
    ngay đầu đường Tôn Đức Thắng ở mé sông, kéo lên
    đụng đường Nguyễn Du bây giờ là giao chiến trước
    cửa thành Gia Định (thành mới xây, sau vụ Lê Văn
    Khôi). Chiếm xong, chúng san bằng, đề phòng quân
    ta tái chiếm.
    Sau đó, khi ổn định, chúng lần hồi nhận ra Sài Gòn là
    điểm quan trọng có thể là một hải cảng, giao lưu thuận
    lợi với các nước Đông Nam châu Á và châu Âu.
    Lần hồi, chúng phát triển ngành hàng hải, tàu buôn
    trang bị máy chạy với sức hơi nước sôi, thêm vài cánh
    buồm to tiếp sức gió.
    *
    * *

    Sông trước mặt chợ Sài Gòn tên thật là rạch Bến
    Nghé. Gọi rạch vì đường thủy này là chi nhánh của sông
    Đồng Nai, tiếp giáp ở điểm gọi Nhà Bè với sự tích nửa
    hư nửa thực đáng nhắc lại cho vui.
    Hồi xưa lúc mới khẩn hoang, người từ miền Trung
    vào, nhanh chóng, không qua đèo qua núi, vì họ đã có
    truyền thống đi biển. Vào Vũng Tàu, gọi như thế vì đây là

    cái vịnh nhỏ, làm nơi trú ẩn cho tàu (hiểu là ghe thuyền)
    khi giông tố, lại dễ tìm nước ngọt, tìm củi nấu cơm.
    Vào sông Đồng Nai, đi ngược dòng, đến ngã ba Nhà
    Bè, ai muốn đi lên phía Biên Hòa để làm vườn, hoặc
    làm chút ít ruộng thì đi thẳng; còn ai muốn đi Gia Định
    (hiểu là Sài Gòn và phía đồng bằng sông Cửu Long) thì
    quẹo vào sông Sài Gòn.
    Có câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về
    Gia Định, Đồng Nai thì về”. Chỗ ngã ba gần biển này,
    hơn sáu tháng chịu ảnh hưởng nước mặn, hai bên bờ
    chưa nhà cửa, toàn là dừa nước, bần, cây mắm, cây vẹt
    của rừng nước mặn. Sông Đồng Nai khá to ở điểm này,
    vì là ngã ba khá rộng nên có sóng gió triền miên. Ông
    Võ Hữu Hoằng là nhà phú hộ, dạo trước giữ một thủ
    (tức là đồn trạm kiểm soát), dĩ nhiên thời phong kiến
    sinh lắm điều tiêu cực, nhờ tham nhũng công khai, nên
    trở thành khá giả. Tương truyền về già, ông lo ngại cho
    kiếp sau của mình, bèn mướn pháp sư làm phép cho
    ông được “đi thiếp”, mê man hồn lìa khỏi xác. Đến âm
    phủ là bọn quỉ sứ đầu trâu mặt ngựa đưa ông vào xem
    địa ngục, chợt thấy một cái gông thật to, đề sẵn tên Võ
    Hữu Hoằng! Ông hoảng sợ, quỉ sứ bảo rằng sau khi
    chết, cái gông này dành để tra vào cổ ông. Ông khóc
    lóc, vị quan nọ bảo muốn được nhẹ tội thì khi trở về
    dương gian phải làm việc phước thiện. Khi tỉnh dậy,
    ông mua tre rừng khá nhiều, kết lại chiếc bè to, nổi
    trên mặt nước. Bè này có mái lợp che nắng che mưa,

    17

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    lại bố trí từng phòng cho khách vãng lai. Chiếc bè ấy
    đậu tại vị trí ngã ba sông ngày nay. Vốn hào hiệp, ông
    dự trữ gạo, nước ngọt, cá mắm, phân phát cho những
    ai túng thiếu, không lấy tiền. Ghe thuyền qua lại tạm
    ghé vào, lần hồi nhiều người mua bán gom lại kề bên,
    lượng người từ miền Trung vào Nam lập nghiệp khá
    đông. Khu vực ngã ba trở thành kiểu chợ nổi trên sông,
    gọi chợ Nhà Bè (nay ta cũng lấy tên truyền thống ấy
    đặt tên huyện). Nhà cửa đông đúc, lần hồi chợ dời lên
    trên bờ. Chuyện được thêu dệt về sau, nhưng ta khẳng
    định một điều: Bấy giờ, đường thủy khó khăn, người
    đến Gia Định - Đồng Nai còn nghèo, lòng từ thiện của
    ông Võ Hữu Hoằng thật đáng biểu dương. Vì kính nể,
    chẳng ai dám vô phép gọi đúng tên, Hoằng nói trại ra
    Huồng. Về già, ông lập ngôi chùa, thờ Phật, nay ở thành
    phố Biên Hòa hãy còn chùa Thủ Huồng.
    *
    * *

    Về cấu tạo đất đai, Sài Gòn rất đa dạng. Phía bến
    Bạch Đằng ngày nay, sát mé sông, ăn lên một đỗi đến
    Thị Nghè rồi lên phía Biên Hòa, phía bắc, là đất phù
    sa cổ, đất sét và đất cát quyện nhau, khá cứng rắn, như
    đất rừng miền Đông. Ta gặp môi trường thích hợp cho
    cây cỏ vùng cao, nào cây dầu, cây sao, đã thử trồng cây
    cao su, lẻ tẻ làm cây cảnh. Vùng này, đào giếng gặp
    mạch nước tốt.

    Nhưng đi về phía tây, là vùng Chợ Lớn, sát mé rạch
    vàm Bến Nghé (tên con rạch nhỏ đổ ra sông Sài Gòn),
    đất ẩm thấp, sình lầy chịu ảnh hưởng nước lớn nước
    ròng, ngập bờ, quả là đất phù sa mới, chịu ảnh hưởng
    nước mặn, giống như phù sa của mũi Cà Mau. Bãi bùn
    đầy những loại thảo mộc gần như vô dụng, như ô rô, cóc
    kèn. Cá đối, cua biển nay đã vắng bóng vì dòng nước bị
    ô nhiễm với rác rến, hóa chất phế thải. Rạch vàm Bến
    Nghé (còn được gọi rạch Cầu Ông Lãnh, vì có chợ Cầu
    Ông Lãnh) ăn vào phía Chợ Lớn, đổi tên là kinh Tàu
    Hủ (xưa là rạch, được nạo vét lại).
    Có thể nói: Biển ở gần kề Sài Gòn, ngăn cách bởi
    vùng đất sình lầy, chưa định hình. Ngày trước, huê lợi
    lớn nơi đây là cây cói (lát) để dệt chiếu. Bằng cớ: chợ
    Xóm Chiếu đã thành hình, trước đời Tự Đức nay còn
    tên đất. Vì là rừng sác (rừng hoang với các giống cây
    nước mặn ven biển) nên ở làng Tân Kiểng (nay quận 5,
    sát đường Trần Hưng Đạo), cách đây hơn 200 năm, năm
    1771, vào dịp Tết, dân làng đang vui chơi lúc rảnh rang
    lại xảy ra chuyện cọp vào chợ. Từ phía rừng sác cọp
    xuất hiện thình lình. Xưa nay, cọp sợ đám đông, nhưng
    đây là con cọp quá hung hăng; ai nấy hoảng chạy, cấp
    báo với quân sĩ. Suốt ba ngày, cọp vẫn còn tới lui, bấy
    giờ vùng Tân Kiểng gồm đa số dân sống với ruộng rẫy,
    nhà cửa thưa thớt, gọi là chợ, nhưng kiểu chợ làng, với
    đường mòn và những bờ tre gai. Bấy giờ, có nhà sư,
    không rõ pháp danh, sử ghi là ông tăng Ân, (ông tăng

    19

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    tên Ân) cùng đi với đồ đệ là Trí Năng đến nơi xin đánh
    cọp. Ông tăng Ân dùng roi (gọi là côn) tiến vào bờ tre
    mà khiêu khích. Cọp nhảy ra, sau một hiệp giao chiến,
    cọp lui vào bụi tre, thủ thế. Ông tăng Ân xốc tới, cọp trở
    ra cùng thi đấu, nhưng bất ngờ, khi lui bước, ông tăng
    Ân té xuống mương cạn. Cọp nhảy tới, quơ nanh vuốt,
    ông ngã xuống, máu me linh láng. Đồ đệ là Trí Năng
    nhảy tới đánh trúng đầu cọp. Cọp chết tại chỗ, nhưng
    ông tăng Ân vì bị thương nặng, sau đó cũng mất. Người
    địa phương thương tiếc, đem chôn cất ông tại chỗ, xây
    tháp lưu niệm. Rất tiếc, nay tháp ấy không còn. Cũng
    vào buổi mở nước, ở khu vực xa hơn, cũng thuộc về
    đất Gia Định, hãy còn chuyện ông tăng Ngộ. Thuở bé
    ông sùng đạo Phật, lấy lý tưởng từ bi bác ái làm phương
    châm để giúp người đi khai phá vùng đất mới. Hồi còn
    bé, ông tăng Ngộ đòi đi tu, cha không cho.
    Cha bảo:
    - Tu hành là cực khổ, sẵn sàng đối phó với mọi khó
    khăn, của cải không còn ý nghĩa. Muốn chứng tỏ đức
    tánh ấy, con phải cầm cục lửa than cháy đỏ này trong
    tay cho cha xem thử.
    Bấy giờ người cha đang hút thuốc, bên cạnh là bếp
    lửa. Lập tức, ông tăng Ngộ cầm cục than đỏ rực trong
    lòng bàn tay mà sắc mặt không thay đổi, cầm khá lâu.
    Người cha đành cho con đi tu. Gặp vị chân tu ở chùa
    Vinh Quang, ông tăng Ngộ giữ gìn kỷ luật, mỗi ngày
    siêng làm việc, chỉ ăn một bữa cơm trưa mà thôi. Nhiều

    năm sau, ông nổi danh về đạo đức, người trong vùng ai
    cũng mến phục. Rừng rậm còn nhiều, cọp cứ lai vãng,
    ít ai dám đến làng mà khai khẩn ruộng đất. Ông nghĩ ra
    chuyện đắp con đường từ đông sang tây, vượt qua vùng
    sình lầy, rậm rạp. Tự tay ông làm việc, dân làng khâm
    phục nhưng chẳng ai dám noi gương vì con cọp dữ mãi
    tới lui. Nhiều người mua bán tập họp qua lại, cọp vẫn
    xuất hiện. Hôm ấy, lúc ông đang đắp con lộ, cọp xuất
    hiện. Ông ung dung làm việc, cọp đến gần, đứng nhìn
    ông rồi cọp cúi đầu, đi mất dạng, mặc dầu trong tay ông
    không có ngọn roi để tự vệ, chỉ là cây cuốc bình thường.
    Dân làng mừng rỡ, tiếp sức với ông, nhờ vậy ruộng rẫy
    hai bên đường càng thâu hoạch bông trái.
    Con rạch vàm Bến Nghé ăn từ sông Sài Gòn chảy
    về phía đồng bằng nối liền đến rạch Bến Lức. Đời Gia
    Long, cách đây non hai trăm năm, đã bố trí một nhà
    kho lớn, ở nơi gọi Cầu Kho, nay hãy còn tên đất với
    khu chợ ở quận Nhất. Kho là kho lúa thóc, do nông dân
    vùng đồng bằng gom về gần Sài Gòn, chờ đưa ra kinh
    đô Huế để nộp thuế bằng sản vật. Xa một đỗi, ta đến
    Chợ Quán, nơi tập trung năm ba quán nhỏ, ghe thuyền
    qua lại nghỉ ngơi, khách uống trà Huế, loại trà tươi, lá
    vò nát, nấu trong cái nồi to. Uống bát trà nóng, ăn cái
    bánh có thể tạm dằn cơn đói.
    Rời Chợ Quán một đỗi, về phía Chợ Lớn, ta gặp khu
    vực khá trù phú. Bám vào mé rạch là những căn nhà sàn,
    ghe thuyền tấp nập, trên bờ là đường mòn, sình lầy, vì

    21

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    đất thấp. Dân ở đây lấy bờ rạch làm đường sá, đường
    thủy thay cho đường bộ. Rải rác, vài con đường mòn ăn
    từ mé rạch lên vùng đất cao (nay đường Nguyễn Trãi).
    Mươi ngôi nhà lợp ngói hiện ra: khu vực người Hoa với
    mái ngói của chùa miếu. Ghe thuyền từ Lục tỉnh, tức là
    các tỉnh phía đồng bằng chở đến nào lúa gạo, cá khô,
    dừa khô, cau khô, cất vào những nhà kho để tạm tồn trữ,
    chờ phân phối cho các chợ ở miền Đông Nam Bộ, hoặc
    đưa ra miền Trung. Đặc biệt về lúa gạo thì xuất khẩu
    đến miền Nam Trung Hoa. Khu vực này được dân gian
    gọi Chợ Lớn, theo nghĩa: chợ này lớn hơn những chợ
    lân cận. Tên đất Chợ Lớn mãi bảo lưu đến ngày nay.
    Chợ này thành hình vào năm 1780 trễ nải hơn chợ Cù
    lao Phố ở Biên Hòa.
    *
    * *

    Ngược dòng lịch sử, ta thấy lúc Sài Gòn còn là đồn
    trại của binh sĩ thì phía sông Đồng Nai (mà đầu nguồn
    nay là cơ ngơi của thủy điện Trị An) người Hoa từ
    Quảng Đông không chịu hàng phục người Mãn Thanh
    đã kéo xuống “hải ngoại” phía nam để ẩn lánh, chờ
    dịp khôi phục nhà Minh đã bị Mãn Thanh đánh bại.
    Họ đến với chiến thuyền và binh sĩ, ghé vào Huế, xin
    tị nạn. Chúa Hiền Vương cho phép họ đến Biên Hòa
    ngày nay để lập thương cảng. Họ thâu mua lâm sản quí
    giá như ngà voi, hồ tiêu, gân nai (món ăn quí nhất), thịt

    khô, lông chim công, chim trĩ... đưa về Quảng Đông.
    Khi trở lại Biên Hòa, họ chở theo tô chén, lu hũ, thuốc
    Đông y, thêm tượng đá (để trang trí đền chùa), lại còn
    nến, nhang, cam quít. Bến cảng này mãi đến nay còn
    gọi Cù lao Phố, một đảo nhỏ giữa sông Đồng Nai, đối
    diện với thành phố Biên Hòa. Gọi Phố vì lần hồi khá
    giả, họ xây nhà ngói, xẻ đường lộ, lát đá xanh, mở hiệu
    ăn uống, huyên náo với những đội ca nhạc. Người Hoa
    gọi chốn này là Đại Phố (Chợ Lớn). Năm 1777, quân
    Tây Sơn kéo vào Nam để truy nã chúa Nguyễn, cuộc
    chiến xảy ra tại đây, vì vậy chợ Cù lao Phố bị tàn phá.
    Thương gia người Hoa kéo nhau xuống vị trí Chợ Lớn
    ngày nay, gần kề Sài Gòn, tiếp tục tồn trữ hàng hóa
    để bán trong nội địa và xuất khẩu. Chợ vẫn giữ tên cũ,
    như hồi còn ở Biên Hòa. Thật ra, việc đổi vùng này
    trùng hợp với tiềm năng kinh tế. Ngà voi, sừng tê (con
    tê giác), gân nai, lông chim công (dùng trang trí nhà
    cửa hoặc mão của vua quan...) là sản phẩm thiên nhiên,
    lần hồi cạn kiệt. Sau khi chuyển về Chợ Lớn, gần Sài
    Gòn, việc mua bán thêm tấp nập. Việc khẩn hoang ở
    đồng bằng sông Cửu Long đã đem lại kết quả, với quá
    nhiều lúa gạo.
    Từ Chợ Lớn mới thành lập này, đường thủy về phía
    đồng bằng sông Cửu Long lần hồi hoàn chỉnh, trước khi
    người Pháp đến, vào thế kỷ thứ XVIII và XIX, ông cha
    ta đã chú ý đến an ninh quốc phòng. Đã đào con kinh
    Bảo Định nối sông Tiền qua sông Vàm Cỏ Tây, rồi đào

    23

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    kinh Thủ Thừa nối Vàm Cỏ Tây qua Vàm Cỏ Đông,
    vào rạch Bến Lức. Bến Lức là nơi hội tụ ghe thuyền
    chuẩn bị vào Chợ Lớn, nơi có kho dự trữ lúa gạo chờ
    đưa ra chợ Bến Thành (cảng Sài Gòn). Ghe tải từ phía
    đồng bằng lên đây là tài sản lớn đối với từng người chủ
    nhưng đến nơi đô hội thì trở thành quá bé nhỏ, lạc lõng.
    Chủ phải tắm rửa sạch sẽ, mặc áo tươm tất để dọ dẫm
    tìm hiểu tin tức về giá lúa gạo đang lên hay xuống, ăn
    uống thỏa thuê, việc chèo chống càng phải cẩn thận vì
    sông rạch như trở thành chật hẹp. Nhất là chuyến trở
    về phía đồng bằng, cần tu bổ nào buồm, nào quai chèo,
    cột chèo cho an toàn. Chợ Đệm (nay là nơi có nhà máy
    xay xát lớn Satakê) được gọi như thế vì bán nhiều đệm;
    bấy giờ vải quá đắt, dùng đệm chằm với lá buôn hoặc
    với bàng, để làm buồm. Khốn thay! Bao giờ cũng như
    bây giờ, nơi đông đảo tấp nập vẫn là đầy phức tạp. Nét
    đặc trưng của sông rạch Nam Bộ là có bọn xấu chuyên
    nghề trộm cắp giữa ban ngày, gọi là bối. Chúng tụ tập
    ở Ba Cụm, gần chợ Đệm. Ba Cụm, hiểu theo người địa
    phương là nơi có ba cội cây đa to, tàng lá xum xuê,
    mọc kề bên nhau. Bọn ăn trộm trên sông hội tụ về đây,
    ngang nhiên hành nghề.
    Ngồi trên chiếc xuồng để tạm nghỉ, biết rằng bọn bối
    “lấy của giữa ban ngày” đang rình rập, anh nọ luôn cảnh
    giác. Cái thùng bằng cây đựng quần áo bao giờ cũng
    đặt sát lưng để anh dựa vào. Rủi bị trộm, nhất định anh
    sẽ mất thăng bằng, ngã ngửa ra phía sau. Ghe xuồng

    qua lại khá đông, anh quan sát, vui mắt. Đột nhiên, phía
    trước có người réo to:
    - Cái chú kia thô tục quá! Hơn hai mươi tuổi mà còn
    cởi quần ra, đứng phóng uế, không biết xấu hổ.
    Người khác nói:
    - Chắc là thằng điên, thằng khùng. Có vợ có con rồi
    mà ở truồng giữa chợ như con nít.
    Anh nọ vì tò mò nên nghiêng người về phía trước
    để xem mặt mày kẻ vi phạm thuần phong mỹ tục. Vừa
    lúc ấy, tên bối nhấc lên cái rương bằng cây sau lưng
    anh. Chừng giựt mình, không thấy ai cởi truồng ở phía
    trước, anh ngồi trở lại tư thế cũ, thấy hẫng hụt sau lưng,
    bèn kêu lên:
    - Thùng đựng quần áo của tôi đâu rồi?
    Tên bối đã chuyền cái thùng ấy cho đồng bọn đem
    đi nơi khác lại cười giòn:
    - Thì bị... bối rồi. Nó ở trước mặt anh mà anh
    không biết.
    Một thí dụ khác: Ông lão nọ chở một thuyền đầy vịt
    đem lên Chợ Lớn, mỗi cặp vịt được trói chân lại, chất
    đống. Cô gái nọ bơi xuồng đến, ngỏ ý muốn mua. Ông
    lão dừng lại. Cô ta trả giá, hai bên đồng ý, cô đem hai
    cặp vịt qua xuồng mình, rồi dùng cây dầm mà bơi khá
    nhanh. Ông lão gọi:
    - Trả tiền cho tôi chớ!
    - Sớm muộn gì tôi cũng trả tiền mà.
    Xuồng của cô ta chen vào đám đông. Ông lão quát to:

    25

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    - Cô làm nghề... bối hả?
    Cô gái cho xuồng cặp vào bờ, chỉ vào ngực:
    - Nghề... bối là nghề cha truyền con nối của tôi!
    Nói xong, cô lên bờ, hai tay xách hai cặp vịt, bước
    chậm rãi. Ông lão đứng dậy, kêu trời. Chẳng lẽ ông bỏ
    xuồng mà rượt theo. Nãy giờ có năm ba tên bối rình rập,
    thừa lúc ông nhìn theo cô gái, chúng lấy cắp vài chục
    cặp vịt rồi lên bờ đối diện, mất dạng.
    Những chuyện tương tự còn nhiều. Về sau, với thuyền
    được cơ giới hóa, di chuyển nhanh hơn, nạn bối giảm
    bớt. Lần hồi, dân cư ngày đông đúc, bờ rạch chợ Đệm
    chẳng còn hoang vắng như trăm năm về trước.
    Sông Cửu Long có thượng nguồn ở bên nước Cam
    Bốt (nay là Campuchia - BTV), vùng Nam Bộ giáp ranh
    nhau, không thác không gành nên từ xa xưa đã trao đổi
    hàng hóa. Giới thương lái từ Cam Bốt đưa xuống Sài
    Gòn - Chợ Lớn theo sông Cửu Long nào cá khô của Biển
    Hồ, đậu xanh, đậu phộng (lạc), hồ tiêu, thêm những bè
    cá tươi sống đặt hai bên ghe. Nam Bộ đã đưa lên nước
    bạn nào dụng cụ nông nghiệp, trầu rang, cau khô, trái
    cây. Bên Cam Bốt thời trước, tiêu thụ nhiều trầu cau.
    Phía đồng bằng, nhiều xóm chuyên trồng trầu, để bảo
    quản lâu dài, từng lá trầu được sấy khô, bán theo sức
    nặng từng cân.
    Người ở đồng bằng khi khá giả rủ nhau lên Sài Gòn
    để mua sắm và giải trí, trở thành số khách vãng lai
    thường trực đáng kể.

    *
    * *

    Về tên đất Sài Gòn, nhiều giả thiết đặt ra, thiếu tính
    thuyết phục. Hoặc là tiếng Khơme, tiếng Hoa, lần hồi
    nói trại ra. Hoặc là rừng cây gòn. Vùng đất cao phía
    Chợ Lớn ăn đến vùng Phú Lâm ngày nay, thời xa nhiều
    cây gòn mọc như rừng nguyên sinh. Sài là củi, là cây.
    Ông Trịnh Hoài Đức, từng làm tri huyện ở huyện Tân
    Bình xưa, từ hơn 200 năm về trước đã giải thích như
    thế. Huyện Tân Bình bấy giờ gồm quận 1, quận 3, Phú
    Nhuận... Họ Trịnh là nhà trí thức khoa bảng, là sử gia
    đáng tin cậy.
    Sài Gòn xưa là tên của vùng Chợ Lớn, tức quận 5,
    quận 6, quận 8 bây giờ.
    Phía Sài Gòn ngày nay, xưa gọi Bến Nghé. Lại rắc
    rối nếu ta muốn giải thích. Bến là bến sông, dễ hiểu, vì
    đã có con sông khá rộng, đổ ra sông Đồng Nai ở Nhà
    Bè. Nghé là con trâu con. Bến nước mà bầy trâu con
    đến tắm, uống nước, với cậu bé dắt trâu. Nhưng gần mé
    sông bấy giờ dường như chẳng ai làm ruộng (bến Bạch
    Đằng, chỗ khách sạn Nổi ngày nay đất khá cao). Lắm
    người cho rằng nghé là tiếng con cá sấu kêu rống. Lối
    giải thích này dễ chấp nhận; thời xưa, bờ sông hoang
    vắng, cá sấu từ biển Cần Giờ (vùng Cần Giờ nay hãy
    còn cá sấu) tới lui phía mé sông, ban đêm kêu lên, tiếng
    cá sấu kêu nghe giống như tiếng trâu con gọi mẹ. Lần

    27

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    hồi, vì tàu thuyền tới lui, gây náo động, cá sấu rút lui
    về phía rừng ngập mặn, gần biển.
    Người Pháp đến, nhìn khu vực Bến Nghé (Sài Gòn
    ngày nay) và Chợ Lớn (xưa gọi Sài Gòn) như là một
    thực thể gắn liền. Vì chú trọng đến khu vực thương mại,
    chúng gọi Bến Nghé xưa là Sài Gòn, bỏ tên truyền thống
    Bến Nghé. Dưới mắt thực dân, khu vực này chỉ đáng
    lưu ý tới những kho lúa gạo phía Chợ Lớn (xưa gọi Sài
    Gòn). Về mặt hành chính, chúng áp đặt sự thay đổi ấy,
    và sông Bến Nghé đổi tên là sông Sài Gòn, như nay ta
    quen dùng trên bản đồ.
    Khu vực Sài Gòn, từ khi Pháp đến, trở thành quan
    trọng, gồm ba trung tâm nhập một, gần kề nhau:
    - Hải cảng, với chợ Bến Thành xưa.
    - Đầu não của cơ quan hành chính và quân sự với
    thành Gia Định. Đầu não của vùng Bến Nghé xưa là
    huyện Tân Bình, đóng ở ngang hông Bưu điện thành
    phố ngày nay, đường Nguyễn Du, vị trí trường sư phạm.
    (Nay là trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa - BTV)
    - Khu vực bến bãi, trung chuyển hàng hóa và tiểu thủ
    công nghệ ở Chợ Lớn, là giang cảng cho phía đồng bằng.
    Về giao lưu với nước ngoài, Sài Gòn trở thành điểm
    lý tưởng ở Đông Nam Á, chỉ kém Singapore, Hương
    Cảng mà thôi. Nhìn trong phạm vi vùng, Sài Gòn dựa
    vào sự phồn vinh vững chắc của đồng bằng sông Cửu
    Long với lúa gạo sản xuất dư dã, thêm thủy hải sản dồi
    dào, lại liên lạc dễ dàng với nước Cam Bốt. Thêm hậu

    phương lớn là miền Đông Nam Bộ và sức mạnh tổng
    hợp của cả nước, thời nhà Nguyễn, đầu thế kỷ thứ XIX.
    *
    * *

    Có thể nói vùng đất cao của Sài Gòn khởi đầu từ
    bên này cầu Nguyễn Tất Thành, đối diện nhà lưu niệm
    Nhà Rồng. Sát mé sông, ngay chỗ cột cờ Thủ Ngữ,
    xưa là nơi bắt đầu của một chợ nhỏ, gọi Chợ Sỏi, đất
    cứng, với đá ong, là phù sa cổ lâu ngày biến chất. Khu
    vực cao này chạy dài qua Bình Thạnh, Phú Nhuận, lên
    Hóc Môn, Gò Vấp. Ta không lấy làm lạ khi thấy hồi
    đầu thế kỷ XX này, phía ngã tư Phú Nhuận (đường
    Nguyễn Kiệm) Pháp lập một vườn cao su nhằm kinh
    doanh, dùng sức bò để cày xới, với nhân công sử dụng
    cuốc, dao để làm cỏ. Giữa Phú Nhuận và Tân Bình,
    xưa là khu Vườn Xoài, phong cảnh thanh lịch làm phần
    mộ cho Bá Đa Lộc, nhà truyền giáo Pháp từng giúp
    Nguyễn Ánh lên ngôi. Lại còn khu vực đất cao là sân
    bay Tân Sơn Nhất (thành lập năm 1930 rồi phát triển
    thêm). Gò Vấp, Hóc Môn có đất cao, dùng nước giếng,
    mùa hạn, giếng sâu hơn 10 mét. Ông cha ta ngày xưa
    thích ở nơi không úng lụt vào mùa mưa, để sản xuất
    hoa màu như rau cải, bầu, mướp. Từ thời mở nước đến
    giờ, tuy không nói ra, ông cha ta đã nghĩ đến vành đai
    xanh. So với mé sông quận 1, ở đây độ cao khoảng
    10 mét, như một vùng cao nguyên thấp. Trồng rau cải

    29

    SƠNNAM
    GIỚI THIỆU
    SĐI GÌN XƯA

    và hoa. Ngày Tết, bán xuống Sài Gòn hoa mai vàng,
    hoa cúc, ngày mồng một, ngày rằm bán hoa vạn thọ,
    màu vàng hực để cúng ông bà, cúng thần Tài cho mọi
    gia đình, đặc biệt là giới thiểu thương. Thêm thuốc lá,
    nổi danh ở Gò Vấp, nay còn tên đất Xóm Thuốc. Hóc
    Môn, về hướng bắc Sài Gòn, từ xưa gọi 18 thôn Vườn
    Trầu. Trầu là dây leo cần được chăm sóc từng ngày về
    tiêu tưới, tưới xong, gốc phải ráo, tránh úng. Trầu leo
    cao, theo cây nọc, lý tưởng nhất là cây cau, vừa được
    huê lợi trầu, vừa thu hoạch trái cau để ăn với trầu. Trên
    diện tích nhỏ, mà đạt huê lợi cao, dây trầu có thể leo
    lên những nọc kề bên nhau, cắm thẳng lên trời, vì vậy
    không che khuất nắng những nọc bên cạnh. Vài lá trầu
    tốt có thể so sánh với một tiền kẽm ngày xưa. “Miếng
    trầu là đầu câu chuyện”, cũng như khắp nước ta, từ Bắc
    chí Nam, thói quen ăn trầu phổ biến ngay trong giới
    trai gái vừa lớn lên. Gặp nhau, chàng trai mời cô gái
    ăn trầu, kiểu xã giao bắt buộc. Vùng Sài Gòn tiêu thụ
    mỗi ngày một khối lượng trầu cau đáng kể. Trầu xanh
    dành cho giới bình dân, trầu vàng dành cho người khá
    giả. Đồng bào vùng 18 thôn Vườn Trầu, từ thế kỷ thứ
    XVIII sống chuyên canh với trầu cau. Cái khó vẫn là
    chuyên chở đến Sài Gòn, Chợ Lớn để tiêu thụ tại chỗ
    và phân phối cho vùng lân cận, nơi chịu ảnh hưởng
    nước mặn thêm đất phèn nên trồng trầu rất khó. Thay
    vào đó, đồng bào nuôi vịt, làm ruộng, đào ao bắt cá,
    đem bán lấy tiền, mua lại trầu cau vôi thuốc.

    Hừng sáng, phụ nữ vùng Hóc Môn (18 thôn Vườn
    Trầu) rủ nhau gồng gánh, theo đường bộ, hơn 15 ki-lômét, đi từng đội đoàn. Người đi đầu, người đi sau chót
    và người đi giữa phải cầm đuốc, dầu là đêm có trăng.
    Ngọn lửa của đuốc khiến thú dữ lánh xa. Thú dữ đây là
    cọp, hai bên đường còn rậm rạp, bấy giờ có câu ví “Dữ
    như cọp Vườn Trầu”. Cọp tới lui quanh quẩn gần xóm,
    rình cơ hội để giết chó, heo hoặc con người mà ăn thịt.
    Đã từng ăn thua với con người, cọp học được nhiều kinh
    nghiệm. Dân gánh trầu vừa đi vừa nói chuyện ồn ào, để
    áp đảo lũ cọp lắm khi vì đói nên hóa ra liều lĩnh. Gặp
    những con cọp hung hăng, phụ nữ hè nhau dùng đòn
    gánh mà đánh, như thứ vũ khí rất hữu hiệu. Đòn gánh
    làm bằng tre già, vừa dẻo, vừa cứng. Đến những năm
    sau 1890, khoảng trăm năm trước đây thôi, chính phủ
    Pháp còn ra giải thưởng cho những ai săn được cọp đem
    nộp cho nhà nước. Ta có tư liệu xác nhận.
    - Vùng cầu An Hạ, trong 3 tháng, cọp giết 12 người.
    - Vùng Hóc Môn, trong vài tuần lễ liên tục, cọp giết
    4 người. Và ở Thủ Dầu Một, trong vài tháng, cọp còn
    tới lui giết 8 người. Bấy giờ,...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHÚ NAM AN - HÀ NỘI !