Nhung tran hai chien noi tieng the gioi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:36' 20-08-2025
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:36' 20-08-2025
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chia sẻ ebook : Chiasemoi.com
LỜI NÓI ĐẦU
Biển đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của nhân
loại. Đối với các quốc gia ven biển, biển không chỉ là yếu tố quan trọng để
tồn tại và phát triển mà còn là điều kiện để xác lập vị thế của mình. Vị
thế đó thường được định đoạt bởi sức mạnh làm chủ trên biển thông qua
các lĩnh vực khoa học hàng hải, phát triển các ngành kinh tế biển, vận
tải, đóng tàu, thương mại, v.v… Tuy nhiên, kể từ khi xuất hiện các cuộc
tranh chấp quyền lợi trên biển, các hoạt động đó còn được đảm bảo bằng
nền tảng của sức mạnh hải quân và khả năng tác chiến trên biển.
Trong lịch sử nhân loại, các trận hải chiến đã nhiều lần từng làm thay
đổi cục diện chiến tranh, thậm chí làm xoay chuyển thế và lực của nhiều
quốc gia, dân tộc. Vào thời cổ đại, lực lượng thủy binh Hy Lạp đã từng
đánh bại cường quốc hải quân Ba Tư để rồi xác lập bá quyền ở Địa Trung
Hải; mở rộng con đường giao thương đến khắp châu Âu và trở thành một
cường quốc thịnh vượng. Đến thời trung đại, những chiến thuyền cùng lực
lượng thủy binh thiện chiến của Anh đã nhiều lần đánh bại hải quân Tây
Ban Nha để trở thành cường quốc, phát triển kinh tế, mở rộng thuộc địa
ra nhiều châu lục, v.v…
Trong lịch sử chiến tranh cận đại và hiện đại, một số quốc gia vốn
trước đây bị coi là yếu thế, nhưng với việc ưu tiên phát triển kinh tế biển
và lực lượng hải quân, họ đã lần lượt đánh bại các đối thủ để trở thành
các quốc gia hùng mạnh. Hải quân Anh đã từng đánh bại hải quân Pháp
trong trận Trafalga sau đó giành quyền thống trị Địa Trung Hải. Người
Nhật thắng người Nga trong trận Đối Mã và trở thành cường quốc trên
thế giới, độc chiếm Mãn Châu và Triều Tiên. Trong hai cuộc Chiến tranh
thế giới thứ nhất và thứ hai, việc phát xít Đức và quân phiệt Nhật Bản
bại trận cũng một phần do những thất bại nặng nề trong các trận hải
chiến trên biển Địa Trung Hải và Thái Bình Dương, v.v…
Ngoài việc làm thay đổi vị thế quốc gia, một số trận hải chiến còn tạo
nên những thay đổi lớn về tổ chức, vũ khí, trang bị và phương thức tác
chiến trên biển. Việc người Tây Ban Nha tổ chức Hạm đội Armada với
những chiến thuyền lớn nhằm chống lại quân Anh đã cho ra phương thức
tác chiến “pháo hạm”; kết thúc cách đánh áp mạn, chứng tỏ ưu thế vượt
trội của pháo tầm xa trong tác chiến hải quân. Tương tự như vậy, cách tổ
chức hạm đội hỗn hợp của người Nhật trong trận Đối Mã đã cho ra đời
phương thức tiến công trực diện kết hợp với chia cắt và bao vây trên biển,
v.v… Cách tổ chức hạm đội của người Tây Ban Nha, người Nhật cũng như
cách tiến hành các trận hải chiến của người Hà Lan, người Anh,… trong
lịch sử không chỉ tạo nên những phương thức tác chiến mới mà tạo tiền
đề cho sự ra đời các loại vũ khí mới.
Mặc dù quy mô và phương thức tác chiến của các trận hải chiến luôn
thay đổi cùng với sự thay đổi của vũ khí, công nghệ, nhưng những nét đặc
sắc trong các trận hải chiến nổi tiếng thế giới ở một chừng mực nhất định
vẫn còn nguyên giá trị.
Cho đến nay, đã có nhiều cuốn sách, bài báo và các công trình khoa
học ở Việt Nam và nước ngoài viết về các trận hải chiến. Tuy nhiên, do
mục đích của từng công trình, các tác giả chỉ mới đề cập đến từng trận
đánh cụ thể, mà chưa đề cập một cách tương đối toàn diện các trận hải
chiến nổi tiếng thế giới.
Việt Nam là một quốc gia ven biển và có đủ các yếu tố để trở thành
một quốc gia có thế mạnh về biển. Trong bối cảnh tình hình khu vực Biển
Đông đang diễn biến hết sức phức tạp như hiện nay, việc nghiên cứu các
trận hải chiến nổi tiếng thế giới là điều cần thiết. Qua đó, chúng ta có thể
lĩnh hội tri thức; tham khảo, tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử để vận
dụng vào sự nghiệp xây dựng lực lượng hải quân Việt Nam chính quy,
tinh nhuệ, tiến thắng lên hiện đại, đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo
thiêng liêng của Tổ quốc.
Với mục đích đó, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam triển khai nghiên cứu
đề tài “Những trận hải chiến nổi tiếng thế giới”. Đây là những trận
đánh để lại nhiều dấu ấn, nhiều bài học lịch sử quý báu trong tác chiến
trên biển. Thông qua việc trình bày bối cảnh, kế hoạch, lực lượng tham
chiến, diễn biến và kết quả 12 trận hải chiến nổi tiếng từ năm 480 Tr.CN
đến năm 1982, cuốn sách không chỉ dừng lại ở việc mô tả chi tiết từng
trận đánh, mà còn đi sâu phân tích ý nghĩa, bài học kinh nhiệm của từng
trận đánh để qua đó độc giả có thể hình dung một cách tương đối khái
quát tiến trình phát triển của lực lượng hải quân trên thế giới: từ tổ chức
lực lượng, phương thức tác chiến, nghệ thuật chỉ đạo và điều hành tác
chiến đến sự ra đời, phát triển của các loại vũ khí, trang bị mới, v.v…
Trong quá trình biên soạn, mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng,
nhưng do nguồn tư liệu hạn chế, khả năng có hạn, cuốn sách khó có thể
đáp ứng được tất cả các yêu cầu đã đặt ra và cũng khó tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để chúng tôi
sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh tốt hơn trong lần xuất bản sau.
Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và
các tác giả chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các cộng tác viên đã
tham gia cùng chúng tôi hoàn thành cuốn sách; cảm ơn Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân đã nhiệt tình cộng tác trong việc xuất bản cuốn sách.
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRẬN SALAMIS
(Năm 480 Tr.CN)
I. BỐI CẢNH
Salamis là hòn đảo, đồng thời cũng là tên gọi của eo biển hẹp
được tạo bởi đảo Salamis và thành phố Piraeus nằm ở phía Tây
Bắc Athena của Hy Lạp. Tại đây đã diễn ra trận hải chiến lớn lần
đầu tiên được sử sách chép lại[1]. Trận hải chiến Salamis nằm
trong cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư (500 - 449 Tr.CN).
Vào năm 522 Tr.CN, vua Darius I - “Vua của các vị vua” lên
ngôi, được thừa hưởng một đế quốc Ba Tư rộng lớn, trong đó có cả
phần lãnh thổ ở vùng Tiểu Á. Sau khi lên ngôi, Darius I tích cực
củng cố và xây dựng đất nước, tiến hành nhiều cải cách, đồng
thời tiếp tục công cuộc mở mang bờ cõi và gặt hái nhiều chiến
công, dẹp tan các cuộc nổi loạn ở xứ Media và Babylon. Năm 499
Tr.CN, người Ionian ở Hy Lạp phất cờ khởi nghĩa. Các xứ Eretria,
Athena đứng về phía họ để giải phóng người Hy Lạp khỏi ách nô
dịch của Ba Tư. Quân đội Ba Tư do Darius I phái đến đã dẹp tan
cuộc nổi dậy này. Với việc đánh bại quân nổi dậy Ionian, lần đầu
tiên vua Ba Tư Darius I chạm trán với người Hy Lạp. Đây cũng là
nguyên nhân để vua Darius I thực hiện giấc mộng chinh phục
bán đảo Hy Lạp.
Xứ Hy Lạp thời đó không phải là một quốc gia thống nhất[2] mà
là tập hợp từ các thành bang như Athena, Thebes, Gorith,
Sparta… từ lâu đã có sự phát triển trên các lĩnh vực, không chịu
ảnh hưởng của đế quốc Ba Tư. Những người đứng đầu các thành
bang luôn có tinh thần tự chủ, không chịu khuất phục các đế
quốc Babylon, Ai Cập và giờ đây họ không chịu ách đô hộ của đế
quốc Ba Tư.
Năm 492 Tr.CN, Quân đội Ba Tư chia thành hai cánh quân:
thủy binh và bộ binh tiến hành cuộc viễn chinh lần thứ nhất vào
Hy Lạp. Tuy nhiên, trên đường đi, lực lượng thủy binh của họ bị
một cơn bão mạnh nhấn chìm tại eo biển Hellespont, làm chết
hai vạn thủy thủ. Riêng lực lượng bộ binh thì bị nhân dân xứ
Thrace chống trả mãnh liệt, gây tổn thất nặng nề và phải rút
quân trở về. Sau thất bại này, Darius I một mặt tiếp tục chuẩn bị
chiến tranh, mặt khác thực hiện các đòn hù dọa nhằm khuất
phục người Hy Lạp. Darius I phái các sứ giả đến các thành bang
Hy Lạp yêu cầu cống nạp và gây áp lực buộc người Hy Lạp phải
đầu hàng Ba Tư. Các thành bang Athena và Sparta kiên quyết cự
tuyệt. Người Athens đã giết chết sứ giả Ba Tư quăng xuống hố
sâu, còn người Sparta thì vứt sứ giả Ba Tư xuống giếng và nói:
“Nhà ngươi hãy đi xuống đấy mà lấy đất và nước!”.
Hai năm sau (năm 490 Tr.CN), Darius I quyết định phát động
cuộc viễn chinh xâm lược Hy Lạp, tiếp tục thực hiện tham vọng
thống trị khu vực Địa Trung Hải. Đoàn quân viễn chinh Ba Tư
xuất phát từ đảo Samos, men theo bờ biển vùng Tiểu Á, lần lượt
đánh chiếm các đảo Naxos, Delos. Nhân dân các đảo quyết chiến
đấu chống quân Ba Tư, nhưng chỉ một tuần sau, quân Ba Tư đã
chiếm được các đảo. Hầu hết dân cư ở đây đều trở thành nô lệ và
vùng biển này trở thành căn cứ xuất phát của Hạm đội Ba Tư
sang phía Tây. Sau thắng lợi đó, quân Ba Tư tiếp tục tiến vào biển
Attica, đổ bộ lên bờ biển xứ Athena. Trên cánh đồng Marathon đã
diễn ra trận quyết chiến chiến lược và thắng lợi cuối cùng thuộc
về Hy Lạp. Cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư lần thứ nhất kết thúc.
Sau thất bại trong trận Marathon, Darius I bắt đầu kế hoạch
chuẩn bị cho cuộc chinh phục Hy Lạp lần thứ hai. Tuy nhiên, vào
năm 486 Tr.CN, người Ai Cập nổi loạn và Darius I buộc phải hoãn
cuộc chinh phạt. Cùng trong năm này, Darius I chết sau 36 năm
trị vì Ba Tư. Xerxes - con trai cả của Darius I lên ngôi đã nhanh
chóng tổ chức lực lượng, đập tan cuộc nổi dậy của người Ai Cập,
đồng thời khởi động lại việc chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Hy Lạp.
Mùa Xuân năm 480 Tr.CN, sau 10 năm chuẩn bị phục thù, vua Ba
Tư chỉ huy đại quân gồm cả thủy binh và bộ binh xuất phát từ
Abydos tiến vào châu Âu, rồi men theo bờ biển Thrace xâm nhập
vào vùng đất Hy Lạp cả trên biển lẫn trên bộ.
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Về phía Ba Tư
Ngay từ khi lên ngôi, vua Ba Tư, Xerxes đã chủ trương thúc đẩy
mạnh mẽ hơn nữa quá trình chuẩn bị tiến đánh Hy Lạp, trong đó
đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng thủy binh. Quan điểm của
Xerxes cho rằng, đây là cuộc viễn chinh quy mô lớn, đòi hỏi việc
lập kế hoạch phải dài hạn, phải chuẩn bị đầy đủ nhân lực, vật lực,
chắc thắng mới tiến đánh Hy Lạp. Với quan điểm đó, trong một
thời gian dài, Xerxes đã huy động được một đội quân đông tới
hàng vạn người cùng hàng nghìn chiến thuyền bao gồm chủ yếu
là người Ba Tư, Ảrập, Ai Cập; ngoài ra còn có người Hy Lạp ở các
thành bang, khu vực bị quân Ba Tư xâm lược… Theo sử sách ghi
lại, vào thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh với Hy Lạp, Ba Tư đã
xây dựng được một lực lượng đông tới 1.700.000 người, trên 1.200
chiến thuyền và 500 người phục vụ cho chiến đấu[3].
Về phía Hy Lạp
Để đối phó với các đạo quân Ba Tư, những người đứng đầu các
thành bang Hy Lạp, trong đó chủ yếu là vai trò của Themistocles Thủ lĩnh thành bang Athena chủ trương phải xây dựng một lực
lượng bộ binh và thủy binh hùng hậu, trong đó chú trọng tăng
cường thủy binh với việc tập trung phát triển các đoàn chiến
thuyền mạnh nhằm gây thanh thế và đối phó với ngoại bang.
Theo chủ trương trên, ngoài lực lượng quân bộ, Hy Lạp đã thành
lập được một lực lượng thủy binh lớn và đóng thêm được 200
chiến thuyền có ba bậc chèo, đồng thời tích cực rèn luyện quân sĩ
tác chiến trên biển, đủ sức đối phó với quân Ba Tư. Tuy nhiên,
vào thời điểm đó, ở Hy Lạp vẫn đang diễn ra một số cuộc chiến
tranh giữa thành bang nên Athena không có đủ nhân lực để chiến
đấu trên đất liền cũng như trên biển. Trước tình hình đó, đầu
năm 481 Tr.CN, dưới sự chủ trì của Themistocles, các thành bang
Hy Lạp đã tổ chức thành công Đại hội tại Corinth, đưa đến sự ra
đời của Liên minh các thành bang Hy Lạp.
Sau khi nhận được tin các đạo quân Ba Tư tiến theo cả hai
đường thủy - bộ tiến vào Hy Lạp, Themistocles cử vua Sparta là
Leonidas dẫn 300 chiến binh đến đóng giữ tại khu vực hẻm núi
Thermopylae với hy vọng chặn đứng bước tiến công trên bộ của
địch. Ông đã chỉ huy quân ra sức chiến đấu, nhưng vì một tên
phản quốc dẫn đường đánh lén nên hơn 300 quân của Leonidas
đã bị đánh tan tác; hầu hết tướng sĩ của Sparta đều hy sinh; vùng
Thermopylae hoàn toàn thất thủ. Sau khi đánh chiếm được
Thermopylae, lực lượng bộ binh Ba Tư đánh thẳng vào Attica,
chiếm đóng thành Athena. Lúc bấy giờ, lực lượng thủy binh Hy
Lạp với gần 400 chiến thuyền cùng hàng nghìn thủy thủ do
Thống soái Miltiades chỉ huy được lệnh rút vào vịnh Salamis. Về
mặt kế hoạch chiến lược, trong nội bộ những người đứng đầu
Liên minh các thành bang Hy Lạp bắt đầu có sự chia rẽ. Một bộ
phận tướng lĩnh chủ trương muốn đưa hạm đội bỏ vịnh Salamis,
nhưng Themistocles kiên quyết thực hiện trận quyết chiến, tiêu
diệt đại quân Ba Tư tại eo biển này.
Khi toàn bộ lực lượng thủy binh đã neo đậu an toàn trong vịnh,
Miltiades ra lệnh cho toàn bộ phụ nữ và trẻ em sơ tán đến thành
Troezen tại bán đảo Peloponesus, còn những trai tráng trưởng
thành thì được trưng tập vào quân ngũ chuẩn bị cho một trận
quyết chiến tại vịnh Salamis.
III. DIỄN BIẾN
Giữa tháng 4 năm 480 Tr.CN, lực lượng thủy binh Ba Tư vượt
qua eo biển Hellespont. Tại đây, Xerxes nói trước ba quân rằng:
“Ta ra lệnh cho các ngươi hãy tham gia cuộc chiến này với tất cả
sức mạnh của mình. Chúng ta đang hành quân chống lại quân
nổi dậy ở phía Tây. Nếu chúng ta đánh bại họ, quân đội chúng ta
sẽ là vô địch. Vì vậy, chúng ta hãy cầu nguyện trước các vị thần
của Ba Tư để họ phù hộ cho chúng ta chiến thắng”[4]. Trên 1.200
thuyền của Ba Tư với khoảng 517.000 thủy thủ, và một số lượng
lớn những người phục vụ, khí giới, lương thảo được lệnh nhổ neo
tiến đánh Hy Lạp.
Biết tin Ba Tư xuất quân, Themistocles - Tổng chỉ huy các đạo
quân Hy Lạp ra lệnh cho tất cả các thành phố vùng duyên hải
phải dựng các chướng ngại vật dọc theo bờ biển để ngăn quân đối
phương đổ bộ, đồng thời hạ lệnh cho quân sĩ thực hiện cuộc nghi
binh, rút chạy khỏi Athena để kéo Hạm đội Ba Tư vào eo biển
Salamis. Trên đường rút chạy và sơ tán dân, Themistocles đều
gửi lời nhắn lại cho các đội Ionia Hy Lạp trong Hạm đội Ba Tư,
yêu cầu họ hãy rời khỏi những “người man rợ”[5] để gia nhập đội
ngũ chiến binh Hy Lạp.
Cuộc đụng độ trên biển đầu tiên giữa các đạo quân Ba Tư và Hy
Lạp diễn ra vào sáng ngày 27 tháng 8 năm 480 Tr.CN khi Hạm đội
Ba Tư tiến vào phía eo biển Artemisium (bắc đảo Euboeaa), nơi có
những chiến thuyền tiên phong quân Hy Lạp đang trú ngụ, nhằm
mục tiêu đánh chiếm thành Athena. Lúc đó, vị trí đóng quân của
Hy Lạp tại eo biển Artemisium có khoảng 271 thuyền chiến. Nếu
Artemisium bị đánh chiếm, thủy quân Ba Tư có thể dễ dàng hội
quân với lực lượng bộ binh ở Thermopylae. Trước một lực lượng
Ba Tư áp đảo cả về số lượng, các thuyền chiến Hy Lạp đã thực
hiện đòn nghi binh, cho một số thuyền ra khiêu khích. Quân Ba
Tư bắt đầu tiến vào vịnh Pagasae với một số lượng thuyền lớn hơn
so với dự kiến. Vào cuối ngày hôm đó, phía Hy Lạp bắt giữ 15
thuyền đối phương khi các thuyền Ba Tư nhầm tưởng rằng đó là
nơi neo đậu của Hạm đội Ba Tư.
Theo sử gia Herodotus, người Ba Tư không tấn công vào ban
ngày vì họ lo ngại phải đối diện với sức mạnh của các thuyền
chiến và bộ binh Hy Lạp. Do vậy, Xerxes quyết định sẽ tiến công
quân Hy Lạp vào đêm tối để đảm bảo thắng lợi.
Xerxes cho dàn thuyền chiến thành ba hàng trong đêm tối và
khi bố trí xong thì vừa đến sáng. Nhưng ngay lúc đó, có một cơn
bão từ phía Đông Nam ập tới, mưa lớn, sấm sét phá tan đội ngũ
thuyền chiến Ba Tư, đánh dạt hàng trăm chiếc vào bờ và một số
chiếc bị chìm, xác chết nổi khắp mặt biển.
Khi tập hợp lại, Hạm đội Ba Tư chỉ còn khoảng 800 chiếc.
Xerxes cử Nữ hoàng xứ Halicarnassus đồng thời cũng là nữ tướng
Artemisia chỉ huy 5 chiến thuyền bất ngờ tiến công vào phía Hy
Lạp. Hạm đội Hy Lạp thua khi trời gần sáng. Artemisia bắt được
một viên chỉ huy của Hy Lạp, sai đem buộc vào mũi thuyền, cắt
cổ cho máu chảy xuống biển để tạ ơn thần biển. Tiếp đó, quân Ba
Tư thừa thắng xông lên, kéo đại quân xuống phía đông đảo
Euboeaa. Vượt qua Artemisium, quân Ba Tư nhanh chóng chiếm
cuối phía bắc đảo Euboeaa và hội quân với lực lượng đổ bộ tại
Thermopylae, thực hiện ý đồ đè bẹp quân Hy Lạp trên bộ và trên
biển.
Trong khi đó, quân Hy Lạp đang nung nấu ý chí phục thù,
nhân cơ hội này đã tổ chức phản công lại quân Ba Tư vào đêm tối
tại Artemisium. Sau thắng lợi trên, quân Ba Tư tỏ ra chủ quan,
khinh địch, không kịp trở tay trước đòn tiến công của quân Hy
Lạp. Khoảng 30 chiếc thuyền đã bị quân Hy Lạp đánh chìm. Số
còn lại phải tháo chạy ra biển, nhưng lại gặp giông bão nên tiếp
tục bị đánh đắm, làm hư hỏng nhiều chiếc thuyền khác. Sau ba
ngày trời yên, biển lặng, quân Ba Tư lại kéo quân trở lại mỏm
Euboeaa, tiếp tục nghênh chiến với quân Hy Lạp, nhưng bị thua
và phải rút lui về cảng Sepia. Trong khi đó, quân Hy Lạp nhận
được thêm viện binh và thực hành truy kích địch, dụ kéo quân Ba
Tư vào sâu eo biển Salamis.
Nhận được tin quân Hy Lạp rút chạy khỏi Athena, Xerxes đã ra
lệnh cho Hạm đội Ba Tư quay thuyền hướng về phía Salamis để
chặn quân Hy Lạp từ phía Nam. Khi hoàng hôn buông xuống,
Themistocles tiếp tục tung tin giả, thu hút đoàn thuyền chiến của
Ba Tư vào sâu hơn nữa eo biển Salamis. Đến đây, trời đã tối hẳn.
Cho rằng, quân Hy Lạp vì sợ hãi mà rút chạy, Xerxes ra lệnh hạ
trại và lập ngai vàng trên sườn núi Aigaleos (nhìn ra eo biển) với
mục đích chỉ huy quân Ba Tư và quan sát trận chiến đấu giữa các
chiến binh Hy Lạp và Ba Tư ở một vị trí thuận lợi nhất. Cuộc tiến
quân của Ba Tư tiếp tục hướng về phía Nam, qua Phocis - vùng
đất của người Phocis đã thực hiện kế sách “vườn không nhà
trống” trước khi người Ba Tư đến. Vì vậy, quân Ba Tư gần như
không gặp khó khăn nào khi tràn qua các thành phố phía Nam.
Lúc này, toàn bộ Hạm đội Hy Lạp đã được bày binh bố trận tại
Salamis. Sau khi được tiếp viện, quân Hy Lạp tại Salamis có
khoảng 380 tàu và 80.000 quân, bao gồm cả các tay chèo, binh sĩ
và đội phục vụ… Theo lệnh của Themistocles, những người dân ở
đây đã dựng lên các bức tường gỗ ngăn chặn quân Ba Tư đổ bộ
lên đất liền. Lực lượng bộ binh tại hòn đảo này có khoảng từ 5.000
đến 6.000 người với nhiều cung thủ xuất sắc, sẵn sàng chiến đấu
và phục vụ các thuyền chiến. Nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ bờ
biển, ngăn cản bất kỳ sự đổ bộ nào của quân Ba Tư, buộc đối
phương phải tiến thẳng vào eo biển, nơi lực lượng thủy binh đang
mật phục. Ngoài ra còn có hàng nghìn người dân là những nô lệ,
ngư dân… thực hiện nhiệm vụ trên đất liền như vận chuyển khí
giới, nấu ăn, đưa tin… Phần lớn phụ nữ, trẻ em, người già đã được
sơ tán trước đó. Đêm trước của trận hải chiến, quân Hy Lạp đã đổ
bộ một lực lượng lớn lên đảo Psyttaleia, nằm giữa Salamis và đất
liền, sử dụng một cánh quân tiến sang phía Tây để bao vây
Salamis. Các thuyền chiến đang đậu ở vị trí giữa Ceos và
Cynosoura cũng được lệnh tăng cường kiểm soát toàn bộ khu vực
này, nhằm ngăn chặn và dụ đoàn thuyền của Ba Tư vào sâu eo
Salamis. Sự có mặt của lực lượng thủy binh ở đây còn giúp đỡ các
cư dân còn lại trên đảo vào những nơi trú ẩn an toàn trước khi
trận chiến diễn ra. Họ chuẩn bị cho trận chiến hoàn toàn trong
im lặng, giữ bí mật tuyệt đốỉ, tránh sự phát hiện của đối phương.
Sau khi toàn bộ Hạm đội Ba Tư đã lọt vào eo biển Salamis,
quân Hy Lạp bắt đầu phản công. Theo sử gia Herodotus, trước khi
trận chiến diễn ra, Themistocles đã có lời kêu gọi đối với binh sĩ
trên các thuyền chiến, quyết tâm đánh thắng quân “man rợ” Ba
Tư. Chạm trán với quân Hy Lạp ở eo biển được chuẩn bị chu đáo
và có trật tự theo chiến thuật phalanx - một đội hình chiến thuật
bộ binh cơ bản trong thời kỳ cổ đại, thủy quân Ba Tư trở nên lộn
xộn, thiếu tổ chức và vùng eo biển hẹp càng trở nên chật chội
hơn. Tuy nhiên, liên quân Hy Lạp chưa tấn công ngay lập tức mà
tiếp tục cho một số thuyền ra khiêu khích để dụ đoàn thuyền
chiến của quân Ba Tư vào vị trí thuận lợi nhất cho đợt phản công.
Xerxes chia lực lượng thuyền chiến của Ba Tư thành ba cánh
quân: cánh quân thứ nhất ở phía Nam đảo Psyttaleia để chặn
quân Hy Lạp ở phía Đông và Tây eo biển. Cánh quân thứ hai bao
gồm các đội thuyền của Phoenicia và Ionia tiến hành bao vây
Salamis. Cánh quân thứ ba chủ yếu là Hạm đội Ai Cập được đánh
giá là thiện chiến nhất sẽ ở phía Nam eo biển hẹp giữa Salamis và
Megara với mục tiêu thu hút đối phương và giải quyết nhanh
chóng trận chiến bằng thế áp đảo của lực lượng thuyền chiến.
Cuộc chiến đấu thực sự bắt đầu vào lúc bình minh.
Theo Herodotus, khi cờ hiệu được phất lên, cuộc chiến tại
Salamis mới thực sự bắt đầu. Theo phương thức chiến tranh cổ
điển, trận chiến đấu diễn ra chủ yếu giữa các hoplites trên boong,
các cung thủ và người phóng lao… Cũng theo Herodotus, trận hải
chiến diễn ra hết sức khó khăn cho người Ba Tư bởi họ hoàn toàn
bị bất ngờ khi rơi vào bẫy của người Hy Lạp. Sự lộn xộn của các
thuyền chiến Ba Tư ngày càng trầm trọng trước các đội hình
phalanx kinh điển. Tính kỷ luật và trật tự của các chiến binh Hy
Lạp được phát huy tối đa trên biển. Quân Hy Lạp sử dụng các tàu
nhẹ, cơ động áp sát đánh vào mạn tàu, đồng thời dùng các tàu có
mũi nhọn đâm thẳng vào tàu đối phương. Cách đánh của hoplites
Hy Lạp đã làm cho các đội thuyền của Ba Tư ngày càng trở nên
hỗn loạn. Trên khắp chiến trường, hầu hết các cánh quân của Ba
Tư đều bị đẩy lùi. Cánh quân thứ hai do tướng Ariabigne (người
anh em của Xerxes) chỉ huy, nhanh chóng bị quân Hy Lạp giết
chết. Đội quân Phoenicia như rắn mất đầu, trở nên hỗn loạn, bị
đẩy lùi hoàn toàn, nhiều tàu bị mắc cạn. Ở vị trí trung tâm, cánh
quân thứ ba bị các tàu của Hy Lạp đánh chia cắt, không có khả
năng đối phó với quân Hy Lạp.
Bị tiến công bất ngờ và chưa được chuẩn bị với cách đánh áp
mạn, Hạm đội quân Ba Tư bị đánh thiệt hại nặng, buộc phải rút
khỏi Salamis. Quân Hy Lạp tổ chức truy kích, đánh bại Hạm đội
Ba Tư.
Những chiến binh Ba Tư trên các thuyền chiến đầy thương
tích, hoặc bị cháy cố thoát khỏi thuyền bằng cách lao xuống biển,
nhưng hầu hết bị chết. Artemisia, nữ hoàng xứ Halicarnass chỉ
huy đoàn thuyền Caria bị đoàn thuyền của Pellene do Ameinias
chỉ huy đuổi theo. Để thoát khỏi sự bủa vây của thuyền chiến Hy
Lạp, thuyền của Artemisia tự đâm vào một tàu của Ba Tư và
thuyết phục Ameinias rằng, đây là đội thuyền của liên minh Hy
Lạp. Tin lời Artemisia, Ameinias bỏ cuộc săn đuổi. Đứng trên núi
quan sát, Xerxes nhầm tưởng rằng, Artemisia đã đâm được
thuyền của liên minh Hy Lạp và bày tỏ sự thất vọng đối với các
nam thuyền trưởng khác. Ông nhận xét rằng, “những người đàn
ông đã biến thành đàn bà và người đàn bà duy nhất trong hàng
ngũ tướng lĩnh đã trở thành đàn ông”.
Trước sự phản công mãnh liệt của quân Hy Lạp, các đội thuyền
chiến của Ba Tư buộc phải rút lui về phía Phalerum, nhưng đã rơi
vào ổ phục kích của quân Hy Lạp tại eo biển. Thuyền chiến của
Ba Tư bị đánh đắm gần hết, các binh sĩ trên thuyền hoặc bị chết
do cung, đao, hoặc bị chết đuối, số còn lại bị bắt làm tù binh.
Những chiếc thuyền còn lại mình đầy thương tích trở về cảng
Phalerum và nơi trú ẩn của quân Ba Tư. Xerxes ngồi trên núi
Aigaleos trong ngai vàng đã chứng kiến sự tàn sát giữa quân Hy
Lạp và Ba Tư, ra lệnh giết hết các chỉ huy và thủy thủ bỏ chạy. Vào
lúc hoàng hôn, Salamis không còn bóng dáng những chiếc
thuyền chiến của Ba Tư, quân Hy Lạp hoàn toàn kiểm soát eo
biển. Trận hải chiến kết thúc.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA
TỪ TRẬN ĐÁNH
Kết thúc trận Salamis, quân Ba Tư thiệt hại nặng. Phần lớn
quân sĩ bị tiêu diệt; một số bị bắt làm tù binh, nhưng sau đó cũng
bị quân Hy Lạp giết chết. Thuyền chiến của Ba Tư bị đánh đắm,
mất hơn 200 thuyền[6]. Tổn thất về người không được thống kê
một cách chính xác, nhưng theo Herodotus, người Ba Tư chịu
nhiều thương vong hơn người Hy Lạp bởi hầu hết binh sĩ Ba Tư
không biết bơi trong một cuộc hỗn chiến đẫm máu, thuyền đắm,
bốc cháy khắp eo biển.
Quân Hy Lạp giành thắng lợi hoàn toàn. Phía Hy Lạp tổn thất
khoảng hơn 40 thuyền. Phần lớn lực lượng (thuyền chiến, binh
sĩ…) được bảo toàn. Số tù binh Ba Tư bị bắt trong trận hải chiến bị
phía Hy Lạp giết hết.
Sau trận Salamis, cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư vẫn còn tiếp
diễn. Tuy nhiên, với thất bại của các đạo quân Ba Tư tại Salamis,
tương quan lực lượng giữa Hy Lạp và Ba Tư đã đảo ngược. Sau
trận đánh đó, liên minh Hy Lạp từng bước giành quyền chủ động
trên chiến trường, liên tiếp đánh bại quân Ba Tư tại Phataeu (479
Tr.CN) và đã truy kích chúng tới vùng phía Bắc Hy Lạp, giải
phóng toàn bộ đất đai Hy Lạp. Không những vậy, hải quân Hy Lạp
còn đánh bại Hạm đội Ba Tư ở ngoài biển Aegean, giải phóng
nhiều hòn đảo vốn đang nằm trong sự thống trị của người Ba Tư.
Cũng từ sau trận Salamis, tính chất của cuộc chiến tranh Hy Lạp
chống Ba Tư bắt đầu thay đổi. Đối với Athena, cuộc chiến từ chỗ
là chiến tranh tự vệ chuyển sang chiến tranh bành trướng ra
nước ngoài. Năm 478 Tr.CN, Athena tiến công eo biển Hắc Hải,
đánh chiếm Hellespont. Cũng trong năm đó, các thành bang Hy
Lạp trên các đảo, ngoài biển Aegean và vùng Tiểu Á vì cần thiết
phải đối phó với Ba Tư nên liên kết thành đồng minh do Athens
lãnh đạo. Sau khi thành lập đồng minh, Athens không chỉ làm
cho Ba Tư suy yếu, mà còn mở rộng đất đai và lãnh thổ sang cả
phía Đông và phía Tây; xác lập được quyền bá chủ của Hy Lạp ở
phía Đông Địa Trung Hải; mở rộng con đường giao thương đi đến
Hắc Hải. Đó chính là những điều kiện thuận lợi giúp Hy Lạp phát
triển kinh tế, xã hội, quân sự và văn hóa vào những năm cuối của
thế kỷ V Tr.CN.
Trận Salamis là trận hải chiến lớn lần đầu tiên trong lịch sử
chiến tranh thế giới được sử sách ghi chép lại. Qua cách mô tả
của Herodotus và các nhà sử học sau này cho thấy:
Thứ nhất, khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Hy Lạp,
người Ba Tư đã đưa quân viễn chinh đi rất xa các căn cứ của họ.
Trong điều kiện đường sá xa xôi lại bị ngăn chặn liên tục, công
việc tiếp tế của họ trở nên rất khó khăn. Quân đội Ba Tư là một
đạo quân ô hợp, bị trưng tập một cách cưỡng bức từ nhiều bộ lạc,
từ nhiều dân tộc, phải xa rời quê hương để bán mạng cho tầng lớp
thống trị Ba Tư nên sĩ khí của họ rất thấp, dù có số lượng đông
nhưng sức chiến đấu không mạnh.
Thứ hai, thắng lợi của thủy quân Hy Lạp trong trận Salamis
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản là
nhân dân Hy Lạp đã tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa
chống xâm lược. Họ chiến đấu vì không chịu số phận bị chinh
phục, nô dịch và bảo vệ nền độc lập của mình. Vì chiến đấu cho
chính nghĩa nên người dân Hy Lạp đã tích cực chuẩn bị cho cuộc
chiến trong một thời gian dài (10 năm, kể từ sau trận Marathon),
trong đó rất chú trọng xây dựng lực lượng thủy binh, bao gồm cả
việc đóng thuyền chiến, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật tác
chiến trên biển, khí giới, lương thực, thực phẩm, lực lượng phục
vụ… Trong chiến đấu, các tướng sĩ Hy Lạp không quản ngại khó
khăn, sẵn sàng xả thân vì quốc vương và dân tộc.
Thứ ba, trong trận Salamis nói riêng, chiến tranh Hy Lạp - Ba
Tư lần thứ hai nói chung, Hy Lạp đã quy tụ được đội ngũ tướng
lĩnh có tài thao lược, biết áp dụng những chiến lược và chiến
thuật phù hợp.
Thứ tư, về chiến thuật, các tướng lĩnh Hy Lạp đã vận dụng sáng
tạo đội hình phalanx trên biển, một đội hình chiến thuật bộ binh
cơ bản trong thời kỳ cổ đại, dùng thuyền nhẹ và cơ động thực
hiện có hiệu quả lối đánh áp mạn và đâm vào thuyền đối phương.
Cách bố trí theo đội hình phalanx với những chiếc thuyền nhẹ,
dàn mỏng đội hình là hết sức táo bạo đã tạo nên thế trận hiểm
hóc của người Hy Lạp trên biển. Từ việc bố trí đội hình như vậy
đã tạo nên lối đánh áp mạn và đâm thẳng vào đội hình thuyền
chiến Ba Tư, làm cho hầu hết đều bị đắm hoặc cháy.
Thứ năm, về chiến lược, ngay sau khi phát hiện Xerxes có ý đồ
sử dụng một lực lượng lớn thủy binh và bộ binh nhằm đè bẹp
quân Hy Lạp cả trên biển lẫn trên bộ, Themistocles đã khôn khéo
thực hiện các đòn nghi binh, tránh không đối đầu trên bộ và ở
vùng biển rộng, giả vờ thua để dụ địch vào eo biển hẹp, nơi có
phần lớn lực lượng thủy binh đang mật phục. Để thực hiện ý đồ
này, trước khi quân Ba Tư đến, Themistocles đã ra lệnh cho các
thành phố ven biển, đặc biệt là Athena sơ tán dân ra khỏi thành
phố và đắp những bức tường gỗ ngăn chặn quân Ba Tư đổ bộ. Tài
thao lược của Themistocles và các tướng lĩnh Hy Lạp còn được
thể hiện ở chỗ họ đã biết triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, biết
chọn đúng thời cơ giao chiến khi dụ được quân địch vào vùng
biển chật hẹp, hạn chế sức mạnh của quân Ba Tư, thực hiện đòn
phản đột kích, giành thắng lợi quyết định cho quân Hy Lạp.
Trận Salamis đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến
trên biển của người Hy Lạp, trong đó Themistocles là người có
những đóng góp lớn lao nhất. Với tài thao lược của mình, ông đã
được sử sách ghi vào hàng ngũ các danh tướng nổi tiếng thế giới
thời cổ đại.
Như thế, cùng với trận Marathon, thắng lợi của người Hy Lạp
trong trận hải chiến Salamis đã làm tan vỡ mộng tưởng của người
Ba Tư chinh phục châu Âu, góp phần quyết định kết thúc cuộc
chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư lần thứ hai. Đó cũng là chiến thắng
của nền văn minh Hy Lạp đối với văn minh Lưỡng Hà dưới triều
đại Ba Tư. Tr...
LỜI NÓI ĐẦU
Biển đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của nhân
loại. Đối với các quốc gia ven biển, biển không chỉ là yếu tố quan trọng để
tồn tại và phát triển mà còn là điều kiện để xác lập vị thế của mình. Vị
thế đó thường được định đoạt bởi sức mạnh làm chủ trên biển thông qua
các lĩnh vực khoa học hàng hải, phát triển các ngành kinh tế biển, vận
tải, đóng tàu, thương mại, v.v… Tuy nhiên, kể từ khi xuất hiện các cuộc
tranh chấp quyền lợi trên biển, các hoạt động đó còn được đảm bảo bằng
nền tảng của sức mạnh hải quân và khả năng tác chiến trên biển.
Trong lịch sử nhân loại, các trận hải chiến đã nhiều lần từng làm thay
đổi cục diện chiến tranh, thậm chí làm xoay chuyển thế và lực của nhiều
quốc gia, dân tộc. Vào thời cổ đại, lực lượng thủy binh Hy Lạp đã từng
đánh bại cường quốc hải quân Ba Tư để rồi xác lập bá quyền ở Địa Trung
Hải; mở rộng con đường giao thương đến khắp châu Âu và trở thành một
cường quốc thịnh vượng. Đến thời trung đại, những chiến thuyền cùng lực
lượng thủy binh thiện chiến của Anh đã nhiều lần đánh bại hải quân Tây
Ban Nha để trở thành cường quốc, phát triển kinh tế, mở rộng thuộc địa
ra nhiều châu lục, v.v…
Trong lịch sử chiến tranh cận đại và hiện đại, một số quốc gia vốn
trước đây bị coi là yếu thế, nhưng với việc ưu tiên phát triển kinh tế biển
và lực lượng hải quân, họ đã lần lượt đánh bại các đối thủ để trở thành
các quốc gia hùng mạnh. Hải quân Anh đã từng đánh bại hải quân Pháp
trong trận Trafalga sau đó giành quyền thống trị Địa Trung Hải. Người
Nhật thắng người Nga trong trận Đối Mã và trở thành cường quốc trên
thế giới, độc chiếm Mãn Châu và Triều Tiên. Trong hai cuộc Chiến tranh
thế giới thứ nhất và thứ hai, việc phát xít Đức và quân phiệt Nhật Bản
bại trận cũng một phần do những thất bại nặng nề trong các trận hải
chiến trên biển Địa Trung Hải và Thái Bình Dương, v.v…
Ngoài việc làm thay đổi vị thế quốc gia, một số trận hải chiến còn tạo
nên những thay đổi lớn về tổ chức, vũ khí, trang bị và phương thức tác
chiến trên biển. Việc người Tây Ban Nha tổ chức Hạm đội Armada với
những chiến thuyền lớn nhằm chống lại quân Anh đã cho ra phương thức
tác chiến “pháo hạm”; kết thúc cách đánh áp mạn, chứng tỏ ưu thế vượt
trội của pháo tầm xa trong tác chiến hải quân. Tương tự như vậy, cách tổ
chức hạm đội hỗn hợp của người Nhật trong trận Đối Mã đã cho ra đời
phương thức tiến công trực diện kết hợp với chia cắt và bao vây trên biển,
v.v… Cách tổ chức hạm đội của người Tây Ban Nha, người Nhật cũng như
cách tiến hành các trận hải chiến của người Hà Lan, người Anh,… trong
lịch sử không chỉ tạo nên những phương thức tác chiến mới mà tạo tiền
đề cho sự ra đời các loại vũ khí mới.
Mặc dù quy mô và phương thức tác chiến của các trận hải chiến luôn
thay đổi cùng với sự thay đổi của vũ khí, công nghệ, nhưng những nét đặc
sắc trong các trận hải chiến nổi tiếng thế giới ở một chừng mực nhất định
vẫn còn nguyên giá trị.
Cho đến nay, đã có nhiều cuốn sách, bài báo và các công trình khoa
học ở Việt Nam và nước ngoài viết về các trận hải chiến. Tuy nhiên, do
mục đích của từng công trình, các tác giả chỉ mới đề cập đến từng trận
đánh cụ thể, mà chưa đề cập một cách tương đối toàn diện các trận hải
chiến nổi tiếng thế giới.
Việt Nam là một quốc gia ven biển và có đủ các yếu tố để trở thành
một quốc gia có thế mạnh về biển. Trong bối cảnh tình hình khu vực Biển
Đông đang diễn biến hết sức phức tạp như hiện nay, việc nghiên cứu các
trận hải chiến nổi tiếng thế giới là điều cần thiết. Qua đó, chúng ta có thể
lĩnh hội tri thức; tham khảo, tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử để vận
dụng vào sự nghiệp xây dựng lực lượng hải quân Việt Nam chính quy,
tinh nhuệ, tiến thắng lên hiện đại, đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo
thiêng liêng của Tổ quốc.
Với mục đích đó, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam triển khai nghiên cứu
đề tài “Những trận hải chiến nổi tiếng thế giới”. Đây là những trận
đánh để lại nhiều dấu ấn, nhiều bài học lịch sử quý báu trong tác chiến
trên biển. Thông qua việc trình bày bối cảnh, kế hoạch, lực lượng tham
chiến, diễn biến và kết quả 12 trận hải chiến nổi tiếng từ năm 480 Tr.CN
đến năm 1982, cuốn sách không chỉ dừng lại ở việc mô tả chi tiết từng
trận đánh, mà còn đi sâu phân tích ý nghĩa, bài học kinh nhiệm của từng
trận đánh để qua đó độc giả có thể hình dung một cách tương đối khái
quát tiến trình phát triển của lực lượng hải quân trên thế giới: từ tổ chức
lực lượng, phương thức tác chiến, nghệ thuật chỉ đạo và điều hành tác
chiến đến sự ra đời, phát triển của các loại vũ khí, trang bị mới, v.v…
Trong quá trình biên soạn, mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng,
nhưng do nguồn tư liệu hạn chế, khả năng có hạn, cuốn sách khó có thể
đáp ứng được tất cả các yêu cầu đã đặt ra và cũng khó tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để chúng tôi
sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh tốt hơn trong lần xuất bản sau.
Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và
các tác giả chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các cộng tác viên đã
tham gia cùng chúng tôi hoàn thành cuốn sách; cảm ơn Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân đã nhiệt tình cộng tác trong việc xuất bản cuốn sách.
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRẬN SALAMIS
(Năm 480 Tr.CN)
I. BỐI CẢNH
Salamis là hòn đảo, đồng thời cũng là tên gọi của eo biển hẹp
được tạo bởi đảo Salamis và thành phố Piraeus nằm ở phía Tây
Bắc Athena của Hy Lạp. Tại đây đã diễn ra trận hải chiến lớn lần
đầu tiên được sử sách chép lại[1]. Trận hải chiến Salamis nằm
trong cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư (500 - 449 Tr.CN).
Vào năm 522 Tr.CN, vua Darius I - “Vua của các vị vua” lên
ngôi, được thừa hưởng một đế quốc Ba Tư rộng lớn, trong đó có cả
phần lãnh thổ ở vùng Tiểu Á. Sau khi lên ngôi, Darius I tích cực
củng cố và xây dựng đất nước, tiến hành nhiều cải cách, đồng
thời tiếp tục công cuộc mở mang bờ cõi và gặt hái nhiều chiến
công, dẹp tan các cuộc nổi loạn ở xứ Media và Babylon. Năm 499
Tr.CN, người Ionian ở Hy Lạp phất cờ khởi nghĩa. Các xứ Eretria,
Athena đứng về phía họ để giải phóng người Hy Lạp khỏi ách nô
dịch của Ba Tư. Quân đội Ba Tư do Darius I phái đến đã dẹp tan
cuộc nổi dậy này. Với việc đánh bại quân nổi dậy Ionian, lần đầu
tiên vua Ba Tư Darius I chạm trán với người Hy Lạp. Đây cũng là
nguyên nhân để vua Darius I thực hiện giấc mộng chinh phục
bán đảo Hy Lạp.
Xứ Hy Lạp thời đó không phải là một quốc gia thống nhất[2] mà
là tập hợp từ các thành bang như Athena, Thebes, Gorith,
Sparta… từ lâu đã có sự phát triển trên các lĩnh vực, không chịu
ảnh hưởng của đế quốc Ba Tư. Những người đứng đầu các thành
bang luôn có tinh thần tự chủ, không chịu khuất phục các đế
quốc Babylon, Ai Cập và giờ đây họ không chịu ách đô hộ của đế
quốc Ba Tư.
Năm 492 Tr.CN, Quân đội Ba Tư chia thành hai cánh quân:
thủy binh và bộ binh tiến hành cuộc viễn chinh lần thứ nhất vào
Hy Lạp. Tuy nhiên, trên đường đi, lực lượng thủy binh của họ bị
một cơn bão mạnh nhấn chìm tại eo biển Hellespont, làm chết
hai vạn thủy thủ. Riêng lực lượng bộ binh thì bị nhân dân xứ
Thrace chống trả mãnh liệt, gây tổn thất nặng nề và phải rút
quân trở về. Sau thất bại này, Darius I một mặt tiếp tục chuẩn bị
chiến tranh, mặt khác thực hiện các đòn hù dọa nhằm khuất
phục người Hy Lạp. Darius I phái các sứ giả đến các thành bang
Hy Lạp yêu cầu cống nạp và gây áp lực buộc người Hy Lạp phải
đầu hàng Ba Tư. Các thành bang Athena và Sparta kiên quyết cự
tuyệt. Người Athens đã giết chết sứ giả Ba Tư quăng xuống hố
sâu, còn người Sparta thì vứt sứ giả Ba Tư xuống giếng và nói:
“Nhà ngươi hãy đi xuống đấy mà lấy đất và nước!”.
Hai năm sau (năm 490 Tr.CN), Darius I quyết định phát động
cuộc viễn chinh xâm lược Hy Lạp, tiếp tục thực hiện tham vọng
thống trị khu vực Địa Trung Hải. Đoàn quân viễn chinh Ba Tư
xuất phát từ đảo Samos, men theo bờ biển vùng Tiểu Á, lần lượt
đánh chiếm các đảo Naxos, Delos. Nhân dân các đảo quyết chiến
đấu chống quân Ba Tư, nhưng chỉ một tuần sau, quân Ba Tư đã
chiếm được các đảo. Hầu hết dân cư ở đây đều trở thành nô lệ và
vùng biển này trở thành căn cứ xuất phát của Hạm đội Ba Tư
sang phía Tây. Sau thắng lợi đó, quân Ba Tư tiếp tục tiến vào biển
Attica, đổ bộ lên bờ biển xứ Athena. Trên cánh đồng Marathon đã
diễn ra trận quyết chiến chiến lược và thắng lợi cuối cùng thuộc
về Hy Lạp. Cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư lần thứ nhất kết thúc.
Sau thất bại trong trận Marathon, Darius I bắt đầu kế hoạch
chuẩn bị cho cuộc chinh phục Hy Lạp lần thứ hai. Tuy nhiên, vào
năm 486 Tr.CN, người Ai Cập nổi loạn và Darius I buộc phải hoãn
cuộc chinh phạt. Cùng trong năm này, Darius I chết sau 36 năm
trị vì Ba Tư. Xerxes - con trai cả của Darius I lên ngôi đã nhanh
chóng tổ chức lực lượng, đập tan cuộc nổi dậy của người Ai Cập,
đồng thời khởi động lại việc chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Hy Lạp.
Mùa Xuân năm 480 Tr.CN, sau 10 năm chuẩn bị phục thù, vua Ba
Tư chỉ huy đại quân gồm cả thủy binh và bộ binh xuất phát từ
Abydos tiến vào châu Âu, rồi men theo bờ biển Thrace xâm nhập
vào vùng đất Hy Lạp cả trên biển lẫn trên bộ.
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Về phía Ba Tư
Ngay từ khi lên ngôi, vua Ba Tư, Xerxes đã chủ trương thúc đẩy
mạnh mẽ hơn nữa quá trình chuẩn bị tiến đánh Hy Lạp, trong đó
đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng thủy binh. Quan điểm của
Xerxes cho rằng, đây là cuộc viễn chinh quy mô lớn, đòi hỏi việc
lập kế hoạch phải dài hạn, phải chuẩn bị đầy đủ nhân lực, vật lực,
chắc thắng mới tiến đánh Hy Lạp. Với quan điểm đó, trong một
thời gian dài, Xerxes đã huy động được một đội quân đông tới
hàng vạn người cùng hàng nghìn chiến thuyền bao gồm chủ yếu
là người Ba Tư, Ảrập, Ai Cập; ngoài ra còn có người Hy Lạp ở các
thành bang, khu vực bị quân Ba Tư xâm lược… Theo sử sách ghi
lại, vào thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh với Hy Lạp, Ba Tư đã
xây dựng được một lực lượng đông tới 1.700.000 người, trên 1.200
chiến thuyền và 500 người phục vụ cho chiến đấu[3].
Về phía Hy Lạp
Để đối phó với các đạo quân Ba Tư, những người đứng đầu các
thành bang Hy Lạp, trong đó chủ yếu là vai trò của Themistocles Thủ lĩnh thành bang Athena chủ trương phải xây dựng một lực
lượng bộ binh và thủy binh hùng hậu, trong đó chú trọng tăng
cường thủy binh với việc tập trung phát triển các đoàn chiến
thuyền mạnh nhằm gây thanh thế và đối phó với ngoại bang.
Theo chủ trương trên, ngoài lực lượng quân bộ, Hy Lạp đã thành
lập được một lực lượng thủy binh lớn và đóng thêm được 200
chiến thuyền có ba bậc chèo, đồng thời tích cực rèn luyện quân sĩ
tác chiến trên biển, đủ sức đối phó với quân Ba Tư. Tuy nhiên,
vào thời điểm đó, ở Hy Lạp vẫn đang diễn ra một số cuộc chiến
tranh giữa thành bang nên Athena không có đủ nhân lực để chiến
đấu trên đất liền cũng như trên biển. Trước tình hình đó, đầu
năm 481 Tr.CN, dưới sự chủ trì của Themistocles, các thành bang
Hy Lạp đã tổ chức thành công Đại hội tại Corinth, đưa đến sự ra
đời của Liên minh các thành bang Hy Lạp.
Sau khi nhận được tin các đạo quân Ba Tư tiến theo cả hai
đường thủy - bộ tiến vào Hy Lạp, Themistocles cử vua Sparta là
Leonidas dẫn 300 chiến binh đến đóng giữ tại khu vực hẻm núi
Thermopylae với hy vọng chặn đứng bước tiến công trên bộ của
địch. Ông đã chỉ huy quân ra sức chiến đấu, nhưng vì một tên
phản quốc dẫn đường đánh lén nên hơn 300 quân của Leonidas
đã bị đánh tan tác; hầu hết tướng sĩ của Sparta đều hy sinh; vùng
Thermopylae hoàn toàn thất thủ. Sau khi đánh chiếm được
Thermopylae, lực lượng bộ binh Ba Tư đánh thẳng vào Attica,
chiếm đóng thành Athena. Lúc bấy giờ, lực lượng thủy binh Hy
Lạp với gần 400 chiến thuyền cùng hàng nghìn thủy thủ do
Thống soái Miltiades chỉ huy được lệnh rút vào vịnh Salamis. Về
mặt kế hoạch chiến lược, trong nội bộ những người đứng đầu
Liên minh các thành bang Hy Lạp bắt đầu có sự chia rẽ. Một bộ
phận tướng lĩnh chủ trương muốn đưa hạm đội bỏ vịnh Salamis,
nhưng Themistocles kiên quyết thực hiện trận quyết chiến, tiêu
diệt đại quân Ba Tư tại eo biển này.
Khi toàn bộ lực lượng thủy binh đã neo đậu an toàn trong vịnh,
Miltiades ra lệnh cho toàn bộ phụ nữ và trẻ em sơ tán đến thành
Troezen tại bán đảo Peloponesus, còn những trai tráng trưởng
thành thì được trưng tập vào quân ngũ chuẩn bị cho một trận
quyết chiến tại vịnh Salamis.
III. DIỄN BIẾN
Giữa tháng 4 năm 480 Tr.CN, lực lượng thủy binh Ba Tư vượt
qua eo biển Hellespont. Tại đây, Xerxes nói trước ba quân rằng:
“Ta ra lệnh cho các ngươi hãy tham gia cuộc chiến này với tất cả
sức mạnh của mình. Chúng ta đang hành quân chống lại quân
nổi dậy ở phía Tây. Nếu chúng ta đánh bại họ, quân đội chúng ta
sẽ là vô địch. Vì vậy, chúng ta hãy cầu nguyện trước các vị thần
của Ba Tư để họ phù hộ cho chúng ta chiến thắng”[4]. Trên 1.200
thuyền của Ba Tư với khoảng 517.000 thủy thủ, và một số lượng
lớn những người phục vụ, khí giới, lương thảo được lệnh nhổ neo
tiến đánh Hy Lạp.
Biết tin Ba Tư xuất quân, Themistocles - Tổng chỉ huy các đạo
quân Hy Lạp ra lệnh cho tất cả các thành phố vùng duyên hải
phải dựng các chướng ngại vật dọc theo bờ biển để ngăn quân đối
phương đổ bộ, đồng thời hạ lệnh cho quân sĩ thực hiện cuộc nghi
binh, rút chạy khỏi Athena để kéo Hạm đội Ba Tư vào eo biển
Salamis. Trên đường rút chạy và sơ tán dân, Themistocles đều
gửi lời nhắn lại cho các đội Ionia Hy Lạp trong Hạm đội Ba Tư,
yêu cầu họ hãy rời khỏi những “người man rợ”[5] để gia nhập đội
ngũ chiến binh Hy Lạp.
Cuộc đụng độ trên biển đầu tiên giữa các đạo quân Ba Tư và Hy
Lạp diễn ra vào sáng ngày 27 tháng 8 năm 480 Tr.CN khi Hạm đội
Ba Tư tiến vào phía eo biển Artemisium (bắc đảo Euboeaa), nơi có
những chiến thuyền tiên phong quân Hy Lạp đang trú ngụ, nhằm
mục tiêu đánh chiếm thành Athena. Lúc đó, vị trí đóng quân của
Hy Lạp tại eo biển Artemisium có khoảng 271 thuyền chiến. Nếu
Artemisium bị đánh chiếm, thủy quân Ba Tư có thể dễ dàng hội
quân với lực lượng bộ binh ở Thermopylae. Trước một lực lượng
Ba Tư áp đảo cả về số lượng, các thuyền chiến Hy Lạp đã thực
hiện đòn nghi binh, cho một số thuyền ra khiêu khích. Quân Ba
Tư bắt đầu tiến vào vịnh Pagasae với một số lượng thuyền lớn hơn
so với dự kiến. Vào cuối ngày hôm đó, phía Hy Lạp bắt giữ 15
thuyền đối phương khi các thuyền Ba Tư nhầm tưởng rằng đó là
nơi neo đậu của Hạm đội Ba Tư.
Theo sử gia Herodotus, người Ba Tư không tấn công vào ban
ngày vì họ lo ngại phải đối diện với sức mạnh của các thuyền
chiến và bộ binh Hy Lạp. Do vậy, Xerxes quyết định sẽ tiến công
quân Hy Lạp vào đêm tối để đảm bảo thắng lợi.
Xerxes cho dàn thuyền chiến thành ba hàng trong đêm tối và
khi bố trí xong thì vừa đến sáng. Nhưng ngay lúc đó, có một cơn
bão từ phía Đông Nam ập tới, mưa lớn, sấm sét phá tan đội ngũ
thuyền chiến Ba Tư, đánh dạt hàng trăm chiếc vào bờ và một số
chiếc bị chìm, xác chết nổi khắp mặt biển.
Khi tập hợp lại, Hạm đội Ba Tư chỉ còn khoảng 800 chiếc.
Xerxes cử Nữ hoàng xứ Halicarnassus đồng thời cũng là nữ tướng
Artemisia chỉ huy 5 chiến thuyền bất ngờ tiến công vào phía Hy
Lạp. Hạm đội Hy Lạp thua khi trời gần sáng. Artemisia bắt được
một viên chỉ huy của Hy Lạp, sai đem buộc vào mũi thuyền, cắt
cổ cho máu chảy xuống biển để tạ ơn thần biển. Tiếp đó, quân Ba
Tư thừa thắng xông lên, kéo đại quân xuống phía đông đảo
Euboeaa. Vượt qua Artemisium, quân Ba Tư nhanh chóng chiếm
cuối phía bắc đảo Euboeaa và hội quân với lực lượng đổ bộ tại
Thermopylae, thực hiện ý đồ đè bẹp quân Hy Lạp trên bộ và trên
biển.
Trong khi đó, quân Hy Lạp đang nung nấu ý chí phục thù,
nhân cơ hội này đã tổ chức phản công lại quân Ba Tư vào đêm tối
tại Artemisium. Sau thắng lợi trên, quân Ba Tư tỏ ra chủ quan,
khinh địch, không kịp trở tay trước đòn tiến công của quân Hy
Lạp. Khoảng 30 chiếc thuyền đã bị quân Hy Lạp đánh chìm. Số
còn lại phải tháo chạy ra biển, nhưng lại gặp giông bão nên tiếp
tục bị đánh đắm, làm hư hỏng nhiều chiếc thuyền khác. Sau ba
ngày trời yên, biển lặng, quân Ba Tư lại kéo quân trở lại mỏm
Euboeaa, tiếp tục nghênh chiến với quân Hy Lạp, nhưng bị thua
và phải rút lui về cảng Sepia. Trong khi đó, quân Hy Lạp nhận
được thêm viện binh và thực hành truy kích địch, dụ kéo quân Ba
Tư vào sâu eo biển Salamis.
Nhận được tin quân Hy Lạp rút chạy khỏi Athena, Xerxes đã ra
lệnh cho Hạm đội Ba Tư quay thuyền hướng về phía Salamis để
chặn quân Hy Lạp từ phía Nam. Khi hoàng hôn buông xuống,
Themistocles tiếp tục tung tin giả, thu hút đoàn thuyền chiến của
Ba Tư vào sâu hơn nữa eo biển Salamis. Đến đây, trời đã tối hẳn.
Cho rằng, quân Hy Lạp vì sợ hãi mà rút chạy, Xerxes ra lệnh hạ
trại và lập ngai vàng trên sườn núi Aigaleos (nhìn ra eo biển) với
mục đích chỉ huy quân Ba Tư và quan sát trận chiến đấu giữa các
chiến binh Hy Lạp và Ba Tư ở một vị trí thuận lợi nhất. Cuộc tiến
quân của Ba Tư tiếp tục hướng về phía Nam, qua Phocis - vùng
đất của người Phocis đã thực hiện kế sách “vườn không nhà
trống” trước khi người Ba Tư đến. Vì vậy, quân Ba Tư gần như
không gặp khó khăn nào khi tràn qua các thành phố phía Nam.
Lúc này, toàn bộ Hạm đội Hy Lạp đã được bày binh bố trận tại
Salamis. Sau khi được tiếp viện, quân Hy Lạp tại Salamis có
khoảng 380 tàu và 80.000 quân, bao gồm cả các tay chèo, binh sĩ
và đội phục vụ… Theo lệnh của Themistocles, những người dân ở
đây đã dựng lên các bức tường gỗ ngăn chặn quân Ba Tư đổ bộ
lên đất liền. Lực lượng bộ binh tại hòn đảo này có khoảng từ 5.000
đến 6.000 người với nhiều cung thủ xuất sắc, sẵn sàng chiến đấu
và phục vụ các thuyền chiến. Nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ bờ
biển, ngăn cản bất kỳ sự đổ bộ nào của quân Ba Tư, buộc đối
phương phải tiến thẳng vào eo biển, nơi lực lượng thủy binh đang
mật phục. Ngoài ra còn có hàng nghìn người dân là những nô lệ,
ngư dân… thực hiện nhiệm vụ trên đất liền như vận chuyển khí
giới, nấu ăn, đưa tin… Phần lớn phụ nữ, trẻ em, người già đã được
sơ tán trước đó. Đêm trước của trận hải chiến, quân Hy Lạp đã đổ
bộ một lực lượng lớn lên đảo Psyttaleia, nằm giữa Salamis và đất
liền, sử dụng một cánh quân tiến sang phía Tây để bao vây
Salamis. Các thuyền chiến đang đậu ở vị trí giữa Ceos và
Cynosoura cũng được lệnh tăng cường kiểm soát toàn bộ khu vực
này, nhằm ngăn chặn và dụ đoàn thuyền của Ba Tư vào sâu eo
Salamis. Sự có mặt của lực lượng thủy binh ở đây còn giúp đỡ các
cư dân còn lại trên đảo vào những nơi trú ẩn an toàn trước khi
trận chiến diễn ra. Họ chuẩn bị cho trận chiến hoàn toàn trong
im lặng, giữ bí mật tuyệt đốỉ, tránh sự phát hiện của đối phương.
Sau khi toàn bộ Hạm đội Ba Tư đã lọt vào eo biển Salamis,
quân Hy Lạp bắt đầu phản công. Theo sử gia Herodotus, trước khi
trận chiến diễn ra, Themistocles đã có lời kêu gọi đối với binh sĩ
trên các thuyền chiến, quyết tâm đánh thắng quân “man rợ” Ba
Tư. Chạm trán với quân Hy Lạp ở eo biển được chuẩn bị chu đáo
và có trật tự theo chiến thuật phalanx - một đội hình chiến thuật
bộ binh cơ bản trong thời kỳ cổ đại, thủy quân Ba Tư trở nên lộn
xộn, thiếu tổ chức và vùng eo biển hẹp càng trở nên chật chội
hơn. Tuy nhiên, liên quân Hy Lạp chưa tấn công ngay lập tức mà
tiếp tục cho một số thuyền ra khiêu khích để dụ đoàn thuyền
chiến của quân Ba Tư vào vị trí thuận lợi nhất cho đợt phản công.
Xerxes chia lực lượng thuyền chiến của Ba Tư thành ba cánh
quân: cánh quân thứ nhất ở phía Nam đảo Psyttaleia để chặn
quân Hy Lạp ở phía Đông và Tây eo biển. Cánh quân thứ hai bao
gồm các đội thuyền của Phoenicia và Ionia tiến hành bao vây
Salamis. Cánh quân thứ ba chủ yếu là Hạm đội Ai Cập được đánh
giá là thiện chiến nhất sẽ ở phía Nam eo biển hẹp giữa Salamis và
Megara với mục tiêu thu hút đối phương và giải quyết nhanh
chóng trận chiến bằng thế áp đảo của lực lượng thuyền chiến.
Cuộc chiến đấu thực sự bắt đầu vào lúc bình minh.
Theo Herodotus, khi cờ hiệu được phất lên, cuộc chiến tại
Salamis mới thực sự bắt đầu. Theo phương thức chiến tranh cổ
điển, trận chiến đấu diễn ra chủ yếu giữa các hoplites trên boong,
các cung thủ và người phóng lao… Cũng theo Herodotus, trận hải
chiến diễn ra hết sức khó khăn cho người Ba Tư bởi họ hoàn toàn
bị bất ngờ khi rơi vào bẫy của người Hy Lạp. Sự lộn xộn của các
thuyền chiến Ba Tư ngày càng trầm trọng trước các đội hình
phalanx kinh điển. Tính kỷ luật và trật tự của các chiến binh Hy
Lạp được phát huy tối đa trên biển. Quân Hy Lạp sử dụng các tàu
nhẹ, cơ động áp sát đánh vào mạn tàu, đồng thời dùng các tàu có
mũi nhọn đâm thẳng vào tàu đối phương. Cách đánh của hoplites
Hy Lạp đã làm cho các đội thuyền của Ba Tư ngày càng trở nên
hỗn loạn. Trên khắp chiến trường, hầu hết các cánh quân của Ba
Tư đều bị đẩy lùi. Cánh quân thứ hai do tướng Ariabigne (người
anh em của Xerxes) chỉ huy, nhanh chóng bị quân Hy Lạp giết
chết. Đội quân Phoenicia như rắn mất đầu, trở nên hỗn loạn, bị
đẩy lùi hoàn toàn, nhiều tàu bị mắc cạn. Ở vị trí trung tâm, cánh
quân thứ ba bị các tàu của Hy Lạp đánh chia cắt, không có khả
năng đối phó với quân Hy Lạp.
Bị tiến công bất ngờ và chưa được chuẩn bị với cách đánh áp
mạn, Hạm đội quân Ba Tư bị đánh thiệt hại nặng, buộc phải rút
khỏi Salamis. Quân Hy Lạp tổ chức truy kích, đánh bại Hạm đội
Ba Tư.
Những chiến binh Ba Tư trên các thuyền chiến đầy thương
tích, hoặc bị cháy cố thoát khỏi thuyền bằng cách lao xuống biển,
nhưng hầu hết bị chết. Artemisia, nữ hoàng xứ Halicarnass chỉ
huy đoàn thuyền Caria bị đoàn thuyền của Pellene do Ameinias
chỉ huy đuổi theo. Để thoát khỏi sự bủa vây của thuyền chiến Hy
Lạp, thuyền của Artemisia tự đâm vào một tàu của Ba Tư và
thuyết phục Ameinias rằng, đây là đội thuyền của liên minh Hy
Lạp. Tin lời Artemisia, Ameinias bỏ cuộc săn đuổi. Đứng trên núi
quan sát, Xerxes nhầm tưởng rằng, Artemisia đã đâm được
thuyền của liên minh Hy Lạp và bày tỏ sự thất vọng đối với các
nam thuyền trưởng khác. Ông nhận xét rằng, “những người đàn
ông đã biến thành đàn bà và người đàn bà duy nhất trong hàng
ngũ tướng lĩnh đã trở thành đàn ông”.
Trước sự phản công mãnh liệt của quân Hy Lạp, các đội thuyền
chiến của Ba Tư buộc phải rút lui về phía Phalerum, nhưng đã rơi
vào ổ phục kích của quân Hy Lạp tại eo biển. Thuyền chiến của
Ba Tư bị đánh đắm gần hết, các binh sĩ trên thuyền hoặc bị chết
do cung, đao, hoặc bị chết đuối, số còn lại bị bắt làm tù binh.
Những chiếc thuyền còn lại mình đầy thương tích trở về cảng
Phalerum và nơi trú ẩn của quân Ba Tư. Xerxes ngồi trên núi
Aigaleos trong ngai vàng đã chứng kiến sự tàn sát giữa quân Hy
Lạp và Ba Tư, ra lệnh giết hết các chỉ huy và thủy thủ bỏ chạy. Vào
lúc hoàng hôn, Salamis không còn bóng dáng những chiếc
thuyền chiến của Ba Tư, quân Hy Lạp hoàn toàn kiểm soát eo
biển. Trận hải chiến kết thúc.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA
TỪ TRẬN ĐÁNH
Kết thúc trận Salamis, quân Ba Tư thiệt hại nặng. Phần lớn
quân sĩ bị tiêu diệt; một số bị bắt làm tù binh, nhưng sau đó cũng
bị quân Hy Lạp giết chết. Thuyền chiến của Ba Tư bị đánh đắm,
mất hơn 200 thuyền[6]. Tổn thất về người không được thống kê
một cách chính xác, nhưng theo Herodotus, người Ba Tư chịu
nhiều thương vong hơn người Hy Lạp bởi hầu hết binh sĩ Ba Tư
không biết bơi trong một cuộc hỗn chiến đẫm máu, thuyền đắm,
bốc cháy khắp eo biển.
Quân Hy Lạp giành thắng lợi hoàn toàn. Phía Hy Lạp tổn thất
khoảng hơn 40 thuyền. Phần lớn lực lượng (thuyền chiến, binh
sĩ…) được bảo toàn. Số tù binh Ba Tư bị bắt trong trận hải chiến bị
phía Hy Lạp giết hết.
Sau trận Salamis, cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư vẫn còn tiếp
diễn. Tuy nhiên, với thất bại của các đạo quân Ba Tư tại Salamis,
tương quan lực lượng giữa Hy Lạp và Ba Tư đã đảo ngược. Sau
trận đánh đó, liên minh Hy Lạp từng bước giành quyền chủ động
trên chiến trường, liên tiếp đánh bại quân Ba Tư tại Phataeu (479
Tr.CN) và đã truy kích chúng tới vùng phía Bắc Hy Lạp, giải
phóng toàn bộ đất đai Hy Lạp. Không những vậy, hải quân Hy Lạp
còn đánh bại Hạm đội Ba Tư ở ngoài biển Aegean, giải phóng
nhiều hòn đảo vốn đang nằm trong sự thống trị của người Ba Tư.
Cũng từ sau trận Salamis, tính chất của cuộc chiến tranh Hy Lạp
chống Ba Tư bắt đầu thay đổi. Đối với Athena, cuộc chiến từ chỗ
là chiến tranh tự vệ chuyển sang chiến tranh bành trướng ra
nước ngoài. Năm 478 Tr.CN, Athena tiến công eo biển Hắc Hải,
đánh chiếm Hellespont. Cũng trong năm đó, các thành bang Hy
Lạp trên các đảo, ngoài biển Aegean và vùng Tiểu Á vì cần thiết
phải đối phó với Ba Tư nên liên kết thành đồng minh do Athens
lãnh đạo. Sau khi thành lập đồng minh, Athens không chỉ làm
cho Ba Tư suy yếu, mà còn mở rộng đất đai và lãnh thổ sang cả
phía Đông và phía Tây; xác lập được quyền bá chủ của Hy Lạp ở
phía Đông Địa Trung Hải; mở rộng con đường giao thương đi đến
Hắc Hải. Đó chính là những điều kiện thuận lợi giúp Hy Lạp phát
triển kinh tế, xã hội, quân sự và văn hóa vào những năm cuối của
thế kỷ V Tr.CN.
Trận Salamis là trận hải chiến lớn lần đầu tiên trong lịch sử
chiến tranh thế giới được sử sách ghi chép lại. Qua cách mô tả
của Herodotus và các nhà sử học sau này cho thấy:
Thứ nhất, khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Hy Lạp,
người Ba Tư đã đưa quân viễn chinh đi rất xa các căn cứ của họ.
Trong điều kiện đường sá xa xôi lại bị ngăn chặn liên tục, công
việc tiếp tế của họ trở nên rất khó khăn. Quân đội Ba Tư là một
đạo quân ô hợp, bị trưng tập một cách cưỡng bức từ nhiều bộ lạc,
từ nhiều dân tộc, phải xa rời quê hương để bán mạng cho tầng lớp
thống trị Ba Tư nên sĩ khí của họ rất thấp, dù có số lượng đông
nhưng sức chiến đấu không mạnh.
Thứ hai, thắng lợi của thủy quân Hy Lạp trong trận Salamis
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản là
nhân dân Hy Lạp đã tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa
chống xâm lược. Họ chiến đấu vì không chịu số phận bị chinh
phục, nô dịch và bảo vệ nền độc lập của mình. Vì chiến đấu cho
chính nghĩa nên người dân Hy Lạp đã tích cực chuẩn bị cho cuộc
chiến trong một thời gian dài (10 năm, kể từ sau trận Marathon),
trong đó rất chú trọng xây dựng lực lượng thủy binh, bao gồm cả
việc đóng thuyền chiến, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật tác
chiến trên biển, khí giới, lương thực, thực phẩm, lực lượng phục
vụ… Trong chiến đấu, các tướng sĩ Hy Lạp không quản ngại khó
khăn, sẵn sàng xả thân vì quốc vương và dân tộc.
Thứ ba, trong trận Salamis nói riêng, chiến tranh Hy Lạp - Ba
Tư lần thứ hai nói chung, Hy Lạp đã quy tụ được đội ngũ tướng
lĩnh có tài thao lược, biết áp dụng những chiến lược và chiến
thuật phù hợp.
Thứ tư, về chiến thuật, các tướng lĩnh Hy Lạp đã vận dụng sáng
tạo đội hình phalanx trên biển, một đội hình chiến thuật bộ binh
cơ bản trong thời kỳ cổ đại, dùng thuyền nhẹ và cơ động thực
hiện có hiệu quả lối đánh áp mạn và đâm vào thuyền đối phương.
Cách bố trí theo đội hình phalanx với những chiếc thuyền nhẹ,
dàn mỏng đội hình là hết sức táo bạo đã tạo nên thế trận hiểm
hóc của người Hy Lạp trên biển. Từ việc bố trí đội hình như vậy
đã tạo nên lối đánh áp mạn và đâm thẳng vào đội hình thuyền
chiến Ba Tư, làm cho hầu hết đều bị đắm hoặc cháy.
Thứ năm, về chiến lược, ngay sau khi phát hiện Xerxes có ý đồ
sử dụng một lực lượng lớn thủy binh và bộ binh nhằm đè bẹp
quân Hy Lạp cả trên biển lẫn trên bộ, Themistocles đã khôn khéo
thực hiện các đòn nghi binh, tránh không đối đầu trên bộ và ở
vùng biển rộng, giả vờ thua để dụ địch vào eo biển hẹp, nơi có
phần lớn lực lượng thủy binh đang mật phục. Để thực hiện ý đồ
này, trước khi quân Ba Tư đến, Themistocles đã ra lệnh cho các
thành phố ven biển, đặc biệt là Athena sơ tán dân ra khỏi thành
phố và đắp những bức tường gỗ ngăn chặn quân Ba Tư đổ bộ. Tài
thao lược của Themistocles và các tướng lĩnh Hy Lạp còn được
thể hiện ở chỗ họ đã biết triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, biết
chọn đúng thời cơ giao chiến khi dụ được quân địch vào vùng
biển chật hẹp, hạn chế sức mạnh của quân Ba Tư, thực hiện đòn
phản đột kích, giành thắng lợi quyết định cho quân Hy Lạp.
Trận Salamis đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến
trên biển của người Hy Lạp, trong đó Themistocles là người có
những đóng góp lớn lao nhất. Với tài thao lược của mình, ông đã
được sử sách ghi vào hàng ngũ các danh tướng nổi tiếng thế giới
thời cổ đại.
Như thế, cùng với trận Marathon, thắng lợi của người Hy Lạp
trong trận hải chiến Salamis đã làm tan vỡ mộng tưởng của người
Ba Tư chinh phục châu Âu, góp phần quyết định kết thúc cuộc
chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư lần thứ hai. Đó cũng là chiến thắng
của nền văn minh Hy Lạp đối với văn minh Lưỡng Hà dưới triều
đại Ba Tư. Tr...
 





