HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

CÂU HỎI NGỘ NGHĨNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7250164962913_84f238d0b671fe0677f1e7e331749009.jpg Z7250164962913_84f238d0b671fe0677f1e7e331749009.jpg Z7250164962912_b084675f94d554092bff399f19858e56.jpg Z7250164962851_56cfc0ad9074fe25273a19fa1a7b9b87.jpg Z7262370610256_71f3b37620411591fe3cf0db1de3fc27.jpg Z7262369223724_07e440c8e343bd700bf465b982fdbee3.jpg Z7262367947044_16c4312a1094ffd209d985bd41dc1751.jpg Z7262367018664_33a063eafba6d06638aecda5587535e0.jpg Z7262366320001_1c7103c48e54d35a12af9ceb63515423.jpg Z7262371477959_2fea5d82fb7227245b1e3bef5d259726.jpg Z7262389774262_468c4635c10feed241027cabae384d6d.jpg Z7250166121904_18b3b6254414d393dea8cb944903b7f9.jpg Z7250166121905_6c6310f58cab6be0eb8e1a122f4eef46.jpg Z7250166121907_546f6eb4a84724a9bd5f5431f251d033.jpg Z7250166121910_77f6ed726b705f433129b34f5d239a8b.jpg Z7232209187831_4d70fa29eedd5bd6d32c912ae4525769.jpg Z7232209187831_4d70fa29eedd5bd6d32c912ae4525769.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg Z7232206493701_d9202de3c6b36fdbdcc81f31e29390cf.jpg

    VIDEO THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

    💕💕Thư viện không chỉ là nơi cất giữ sách, mà là nơi đánh thức giấc mơ.💕Hãy đến thư viện – nơi bắt đầu của những thay đổi lớn lao bằng những trang sách nhỏ bé💕

    Nhung tran hai chien noi tieng the gioi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
    Ngày gửi: 17h:36' 20-08-2025
    Dung lượng: 5.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Chia sẻ ebook : Chiasemoi.com

    LỜI NÓI ĐẦU
    Biển đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của nhân
    loại. Đối với các quốc gia ven biển, biển không chỉ là yếu tố quan trọng để
    tồn tại và phát triển mà còn là điều kiện để xác lập vị thế của mình. Vị
    thế đó thường được định đoạt bởi sức mạnh làm chủ trên biển thông qua
    các lĩnh vực khoa học hàng hải, phát triển các ngành kinh tế biển, vận
    tải, đóng tàu, thương mại, v.v… Tuy nhiên, kể từ khi xuất hiện các cuộc
    tranh chấp quyền lợi trên biển, các hoạt động đó còn được đảm bảo bằng
    nền tảng của sức mạnh hải quân và khả năng tác chiến trên biển.
    Trong lịch sử nhân loại, các trận hải chiến đã nhiều lần từng làm thay
    đổi cục diện chiến tranh, thậm chí làm xoay chuyển thế và lực của nhiều
    quốc gia, dân tộc. Vào thời cổ đại, lực lượng thủy binh Hy Lạp đã từng
    đánh bại cường quốc hải quân Ba Tư để rồi xác lập bá quyền ở Địa Trung
    Hải; mở rộng con đường giao thương đến khắp châu Âu và trở thành một
    cường quốc thịnh vượng. Đến thời trung đại, những chiến thuyền cùng lực
    lượng thủy binh thiện chiến của Anh đã nhiều lần đánh bại hải quân Tây
    Ban Nha để trở thành cường quốc, phát triển kinh tế, mở rộng thuộc địa
    ra nhiều châu lục, v.v…
    Trong lịch sử chiến tranh cận đại và hiện đại, một số quốc gia vốn
    trước đây bị coi là yếu thế, nhưng với việc ưu tiên phát triển kinh tế biển
    và lực lượng hải quân, họ đã lần lượt đánh bại các đối thủ để trở thành
    các quốc gia hùng mạnh. Hải quân Anh đã từng đánh bại hải quân Pháp
    trong trận Trafalga sau đó giành quyền thống trị Địa Trung Hải. Người
    Nhật thắng người Nga trong trận Đối Mã và trở thành cường quốc trên
    thế giới, độc chiếm Mãn Châu và Triều Tiên. Trong hai cuộc Chiến tranh
    thế giới thứ nhất và thứ hai, việc phát xít Đức và quân phiệt Nhật Bản
    bại trận cũng một phần do những thất bại nặng nề trong các trận hải
    chiến trên biển Địa Trung Hải và Thái Bình Dương, v.v…
    Ngoài việc làm thay đổi vị thế quốc gia, một số trận hải chiến còn tạo
    nên những thay đổi lớn về tổ chức, vũ khí, trang bị và phương thức tác

    chiến trên biển. Việc người Tây Ban Nha tổ chức Hạm đội Armada với
    những chiến thuyền lớn nhằm chống lại quân Anh đã cho ra phương thức
    tác chiến “pháo hạm”; kết thúc cách đánh áp mạn, chứng tỏ ưu thế vượt
    trội của pháo tầm xa trong tác chiến hải quân. Tương tự như vậy, cách tổ
    chức hạm đội hỗn hợp của người Nhật trong trận Đối Mã đã cho ra đời
    phương thức tiến công trực diện kết hợp với chia cắt và bao vây trên biển,
    v.v… Cách tổ chức hạm đội của người Tây Ban Nha, người Nhật cũng như
    cách tiến hành các trận hải chiến của người Hà Lan, người Anh,… trong
    lịch sử không chỉ tạo nên những phương thức tác chiến mới mà tạo tiền
    đề cho sự ra đời các loại vũ khí mới.
    Mặc dù quy mô và phương thức tác chiến của các trận hải chiến luôn
    thay đổi cùng với sự thay đổi của vũ khí, công nghệ, nhưng những nét đặc
    sắc trong các trận hải chiến nổi tiếng thế giới ở một chừng mực nhất định
    vẫn còn nguyên giá trị.
    Cho đến nay, đã có nhiều cuốn sách, bài báo và các công trình khoa
    học ở Việt Nam và nước ngoài viết về các trận hải chiến. Tuy nhiên, do
    mục đích của từng công trình, các tác giả chỉ mới đề cập đến từng trận
    đánh cụ thể, mà chưa đề cập một cách tương đối toàn diện các trận hải
    chiến nổi tiếng thế giới.
    Việt Nam là một quốc gia ven biển và có đủ các yếu tố để trở thành
    một quốc gia có thế mạnh về biển. Trong bối cảnh tình hình khu vực Biển
    Đông đang diễn biến hết sức phức tạp như hiện nay, việc nghiên cứu các
    trận hải chiến nổi tiếng thế giới là điều cần thiết. Qua đó, chúng ta có thể
    lĩnh hội tri thức; tham khảo, tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử để vận
    dụng vào sự nghiệp xây dựng lực lượng hải quân Việt Nam chính quy,
    tinh nhuệ, tiến thắng lên hiện đại, đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo
    thiêng liêng của Tổ quốc.
    Với mục đích đó, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam triển khai nghiên cứu
    đề tài “Những trận hải chiến nổi tiếng thế giới”. Đây là những trận
    đánh để lại nhiều dấu ấn, nhiều bài học lịch sử quý báu trong tác chiến
    trên biển. Thông qua việc trình bày bối cảnh, kế hoạch, lực lượng tham

    chiến, diễn biến và kết quả 12 trận hải chiến nổi tiếng từ năm 480 Tr.CN
    đến năm 1982, cuốn sách không chỉ dừng lại ở việc mô tả chi tiết từng
    trận đánh, mà còn đi sâu phân tích ý nghĩa, bài học kinh nhiệm của từng
    trận đánh để qua đó độc giả có thể hình dung một cách tương đối khái
    quát tiến trình phát triển của lực lượng hải quân trên thế giới: từ tổ chức
    lực lượng, phương thức tác chiến, nghệ thuật chỉ đạo và điều hành tác
    chiến đến sự ra đời, phát triển của các loại vũ khí, trang bị mới, v.v…
    Trong quá trình biên soạn, mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng,
    nhưng do nguồn tư liệu hạn chế, khả năng có hạn, cuốn sách khó có thể
    đáp ứng được tất cả các yêu cầu đã đặt ra và cũng khó tránh khỏi những
    thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để chúng tôi
    sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh tốt hơn trong lần xuất bản sau.
    Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và
    các tác giả chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các cộng tác viên đã
    tham gia cùng chúng tôi hoàn thành cuốn sách; cảm ơn Nhà xuất bản
    Quân đội nhân dân đã nhiệt tình cộng tác trong việc xuất bản cuốn sách.
    VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

    TRẬN SALAMIS
    (Năm 480 Tr.CN)

    I. BỐI CẢNH
    Salamis là hòn đảo, đồng thời cũng là tên gọi của eo biển hẹp
    được tạo bởi đảo Salamis và thành phố Piraeus nằm ở phía Tây
    Bắc Athena của Hy Lạp. Tại đây đã diễn ra trận hải chiến lớn lần
    đầu tiên được sử sách chép lại[1]. Trận hải chiến Salamis nằm
    trong cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư (500 - 449 Tr.CN).
    Vào năm 522 Tr.CN, vua Darius I - “Vua của các vị vua” lên
    ngôi, được thừa hưởng một đế quốc Ba Tư rộng lớn, trong đó có cả
    phần lãnh thổ ở vùng Tiểu Á. Sau khi lên ngôi, Darius I tích cực
    củng cố và xây dựng đất nước, tiến hành nhiều cải cách, đồng
    thời tiếp tục công cuộc mở mang bờ cõi và gặt hái nhiều chiến
    công, dẹp tan các cuộc nổi loạn ở xứ Media và Babylon. Năm 499
    Tr.CN, người Ionian ở Hy Lạp phất cờ khởi nghĩa. Các xứ Eretria,
    Athena đứng về phía họ để giải phóng người Hy Lạp khỏi ách nô
    dịch của Ba Tư. Quân đội Ba Tư do Darius I phái đến đã dẹp tan
    cuộc nổi dậy này. Với việc đánh bại quân nổi dậy Ionian, lần đầu
    tiên vua Ba Tư Darius I chạm trán với người Hy Lạp. Đây cũng là
    nguyên nhân để vua Darius I thực hiện giấc mộng chinh phục
    bán đảo Hy Lạp.
    Xứ Hy Lạp thời đó không phải là một quốc gia thống nhất[2] mà
    là tập hợp từ các thành bang như Athena, Thebes, Gorith,
    Sparta… từ lâu đã có sự phát triển trên các lĩnh vực, không chịu
    ảnh hưởng của đế quốc Ba Tư. Những người đứng đầu các thành
    bang luôn có tinh thần tự chủ, không chịu khuất phục các đế
    quốc Babylon, Ai Cập và giờ đây họ không chịu ách đô hộ của đế
    quốc Ba Tư.

    Năm 492 Tr.CN, Quân đội Ba Tư chia thành hai cánh quân:
    thủy binh và bộ binh tiến hành cuộc viễn chinh lần thứ nhất vào
    Hy Lạp. Tuy nhiên, trên đường đi, lực lượng thủy binh của họ bị
    một cơn bão mạnh nhấn chìm tại eo biển Hellespont, làm chết
    hai vạn thủy thủ. Riêng lực lượng bộ binh thì bị nhân dân xứ
    Thrace chống trả mãnh liệt, gây tổn thất nặng nề và phải rút
    quân trở về. Sau thất bại này, Darius I một mặt tiếp tục chuẩn bị
    chiến tranh, mặt khác thực hiện các đòn hù dọa nhằm khuất
    phục người Hy Lạp. Darius I phái các sứ giả đến các thành bang
    Hy Lạp yêu cầu cống nạp và gây áp lực buộc người Hy Lạp phải
    đầu hàng Ba Tư. Các thành bang Athena và Sparta kiên quyết cự
    tuyệt. Người Athens đã giết chết sứ giả Ba Tư quăng xuống hố
    sâu, còn người Sparta thì vứt sứ giả Ba Tư xuống giếng và nói:
    “Nhà ngươi hãy đi xuống đấy mà lấy đất và nước!”.
    Hai năm sau (năm 490 Tr.CN), Darius I quyết định phát động
    cuộc viễn chinh xâm lược Hy Lạp, tiếp tục thực hiện tham vọng
    thống trị khu vực Địa Trung Hải. Đoàn quân viễn chinh Ba Tư
    xuất phát từ đảo Samos, men theo bờ biển vùng Tiểu Á, lần lượt
    đánh chiếm các đảo Naxos, Delos. Nhân dân các đảo quyết chiến
    đấu chống quân Ba Tư, nhưng chỉ một tuần sau, quân Ba Tư đã
    chiếm được các đảo. Hầu hết dân cư ở đây đều trở thành nô lệ và
    vùng biển này trở thành căn cứ xuất phát của Hạm đội Ba Tư
    sang phía Tây. Sau thắng lợi đó, quân Ba Tư tiếp tục tiến vào biển
    Attica, đổ bộ lên bờ biển xứ Athena. Trên cánh đồng Marathon đã
    diễn ra trận quyết chiến chiến lược và thắng lợi cuối cùng thuộc
    về Hy Lạp. Cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư lần thứ nhất kết thúc.
    Sau thất bại trong trận Marathon, Darius I bắt đầu kế hoạch
    chuẩn bị cho cuộc chinh phục Hy Lạp lần thứ hai. Tuy nhiên, vào
    năm 486 Tr.CN, người Ai Cập nổi loạn và Darius I buộc phải hoãn
    cuộc chinh phạt. Cùng trong năm này, Darius I chết sau 36 năm
    trị vì Ba Tư. Xerxes - con trai cả của Darius I lên ngôi đã nhanh

    chóng tổ chức lực lượng, đập tan cuộc nổi dậy của người Ai Cập,
    đồng thời khởi động lại việc chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Hy Lạp.
    Mùa Xuân năm 480 Tr.CN, sau 10 năm chuẩn bị phục thù, vua Ba
    Tư chỉ huy đại quân gồm cả thủy binh và bộ binh xuất phát từ
    Abydos tiến vào châu Âu, rồi men theo bờ biển Thrace xâm nhập
    vào vùng đất Hy Lạp cả trên biển lẫn trên bộ.

    II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
    Về phía Ba Tư
    Ngay từ khi lên ngôi, vua Ba Tư, Xerxes đã chủ trương thúc đẩy
    mạnh mẽ hơn nữa quá trình chuẩn bị tiến đánh Hy Lạp, trong đó
    đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng thủy binh. Quan điểm của
    Xerxes cho rằng, đây là cuộc viễn chinh quy mô lớn, đòi hỏi việc
    lập kế hoạch phải dài hạn, phải chuẩn bị đầy đủ nhân lực, vật lực,
    chắc thắng mới tiến đánh Hy Lạp. Với quan điểm đó, trong một
    thời gian dài, Xerxes đã huy động được một đội quân đông tới
    hàng vạn người cùng hàng nghìn chiến thuyền bao gồm chủ yếu
    là người Ba Tư, Ảrập, Ai Cập; ngoài ra còn có người Hy Lạp ở các
    thành bang, khu vực bị quân Ba Tư xâm lược… Theo sử sách ghi
    lại, vào thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh với Hy Lạp, Ba Tư đã
    xây dựng được một lực lượng đông tới 1.700.000 người, trên 1.200
    chiến thuyền và 500 người phục vụ cho chiến đấu[3].

    Về phía Hy Lạp
    Để đối phó với các đạo quân Ba Tư, những người đứng đầu các
    thành bang Hy Lạp, trong đó chủ yếu là vai trò của Themistocles Thủ lĩnh thành bang Athena chủ trương phải xây dựng một lực
    lượng bộ binh và thủy binh hùng hậu, trong đó chú trọng tăng
    cường thủy binh với việc tập trung phát triển các đoàn chiến
    thuyền mạnh nhằm gây thanh thế và đối phó với ngoại bang.
    Theo chủ trương trên, ngoài lực lượng quân bộ, Hy Lạp đã thành
    lập được một lực lượng thủy binh lớn và đóng thêm được 200
    chiến thuyền có ba bậc chèo, đồng thời tích cực rèn luyện quân sĩ
    tác chiến trên biển, đủ sức đối phó với quân Ba Tư. Tuy nhiên,
    vào thời điểm đó, ở Hy Lạp vẫn đang diễn ra một số cuộc chiến
    tranh giữa thành bang nên Athena không có đủ nhân lực để chiến
    đấu trên đất liền cũng như trên biển. Trước tình hình đó, đầu
    năm 481 Tr.CN, dưới sự chủ trì của Themistocles, các thành bang
    Hy Lạp đã tổ chức thành công Đại hội tại Corinth, đưa đến sự ra
    đời của Liên minh các thành bang Hy Lạp.
    Sau khi nhận được tin các đạo quân Ba Tư tiến theo cả hai

    đường thủy - bộ tiến vào Hy Lạp, Themistocles cử vua Sparta là
    Leonidas dẫn 300 chiến binh đến đóng giữ tại khu vực hẻm núi
    Thermopylae với hy vọng chặn đứng bước tiến công trên bộ của
    địch. Ông đã chỉ huy quân ra sức chiến đấu, nhưng vì một tên
    phản quốc dẫn đường đánh lén nên hơn 300 quân của Leonidas
    đã bị đánh tan tác; hầu hết tướng sĩ của Sparta đều hy sinh; vùng
    Thermopylae hoàn toàn thất thủ. Sau khi đánh chiếm được
    Thermopylae, lực lượng bộ binh Ba Tư đánh thẳng vào Attica,
    chiếm đóng thành Athena. Lúc bấy giờ, lực lượng thủy binh Hy
    Lạp với gần 400 chiến thuyền cùng hàng nghìn thủy thủ do
    Thống soái Miltiades chỉ huy được lệnh rút vào vịnh Salamis. Về
    mặt kế hoạch chiến lược, trong nội bộ những người đứng đầu
    Liên minh các thành bang Hy Lạp bắt đầu có sự chia rẽ. Một bộ
    phận tướng lĩnh chủ trương muốn đưa hạm đội bỏ vịnh Salamis,
    nhưng Themistocles kiên quyết thực hiện trận quyết chiến, tiêu
    diệt đại quân Ba Tư tại eo biển này.

    Khi toàn bộ lực lượng thủy binh đã neo đậu an toàn trong vịnh,

    Miltiades ra lệnh cho toàn bộ phụ nữ và trẻ em sơ tán đến thành
    Troezen tại bán đảo Peloponesus, còn những trai tráng trưởng
    thành thì được trưng tập vào quân ngũ chuẩn bị cho một trận
    quyết chiến tại vịnh Salamis.

    III. DIỄN BIẾN
    Giữa tháng 4 năm 480 Tr.CN, lực lượng thủy binh Ba Tư vượt
    qua eo biển Hellespont. Tại đây, Xerxes nói trước ba quân rằng:
    “Ta ra lệnh cho các ngươi hãy tham gia cuộc chiến này với tất cả
    sức mạnh của mình. Chúng ta đang hành quân chống lại quân
    nổi dậy ở phía Tây. Nếu chúng ta đánh bại họ, quân đội chúng ta
    sẽ là vô địch. Vì vậy, chúng ta hãy cầu nguyện trước các vị thần
    của Ba Tư để họ phù hộ cho chúng ta chiến thắng”[4]. Trên 1.200
    thuyền của Ba Tư với khoảng 517.000 thủy thủ, và một số lượng
    lớn những người phục vụ, khí giới, lương thảo được lệnh nhổ neo
    tiến đánh Hy Lạp.
    Biết tin Ba Tư xuất quân, Themistocles - Tổng chỉ huy các đạo
    quân Hy Lạp ra lệnh cho tất cả các thành phố vùng duyên hải
    phải dựng các chướng ngại vật dọc theo bờ biển để ngăn quân đối
    phương đổ bộ, đồng thời hạ lệnh cho quân sĩ thực hiện cuộc nghi
    binh, rút chạy khỏi Athena để kéo Hạm đội Ba Tư vào eo biển
    Salamis. Trên đường rút chạy và sơ tán dân, Themistocles đều
    gửi lời nhắn lại cho các đội Ionia Hy Lạp trong Hạm đội Ba Tư,
    yêu cầu họ hãy rời khỏi những “người man rợ”[5] để gia nhập đội
    ngũ chiến binh Hy Lạp.
    Cuộc đụng độ trên biển đầu tiên giữa các đạo quân Ba Tư và Hy
    Lạp diễn ra vào sáng ngày 27 tháng 8 năm 480 Tr.CN khi Hạm đội
    Ba Tư tiến vào phía eo biển Artemisium (bắc đảo Euboeaa), nơi có
    những chiến thuyền tiên phong quân Hy Lạp đang trú ngụ, nhằm
    mục tiêu đánh chiếm thành Athena. Lúc đó, vị trí đóng quân của

    Hy Lạp tại eo biển Artemisium có khoảng 271 thuyền chiến. Nếu
    Artemisium bị đánh chiếm, thủy quân Ba Tư có thể dễ dàng hội
    quân với lực lượng bộ binh ở Thermopylae. Trước một lực lượng
    Ba Tư áp đảo cả về số lượng, các thuyền chiến Hy Lạp đã thực
    hiện đòn nghi binh, cho một số thuyền ra khiêu khích. Quân Ba
    Tư bắt đầu tiến vào vịnh Pagasae với một số lượng thuyền lớn hơn
    so với dự kiến. Vào cuối ngày hôm đó, phía Hy Lạp bắt giữ 15
    thuyền đối phương khi các thuyền Ba Tư nhầm tưởng rằng đó là
    nơi neo đậu của Hạm đội Ba Tư.
    Theo sử gia Herodotus, người Ba Tư không tấn công vào ban
    ngày vì họ lo ngại phải đối diện với sức mạnh của các thuyền
    chiến và bộ binh Hy Lạp. Do vậy, Xerxes quyết định sẽ tiến công
    quân Hy Lạp vào đêm tối để đảm bảo thắng lợi.
    Xerxes cho dàn thuyền chiến thành ba hàng trong đêm tối và
    khi bố trí xong thì vừa đến sáng. Nhưng ngay lúc đó, có một cơn
    bão từ phía Đông Nam ập tới, mưa lớn, sấm sét phá tan đội ngũ
    thuyền chiến Ba Tư, đánh dạt hàng trăm chiếc vào bờ và một số
    chiếc bị chìm, xác chết nổi khắp mặt biển.
    Khi tập hợp lại, Hạm đội Ba Tư chỉ còn khoảng 800 chiếc.
    Xerxes cử Nữ hoàng xứ Halicarnassus đồng thời cũng là nữ tướng
    Artemisia chỉ huy 5 chiến thuyền bất ngờ tiến công vào phía Hy
    Lạp. Hạm đội Hy Lạp thua khi trời gần sáng. Artemisia bắt được
    một viên chỉ huy của Hy Lạp, sai đem buộc vào mũi thuyền, cắt
    cổ cho máu chảy xuống biển để tạ ơn thần biển. Tiếp đó, quân Ba
    Tư thừa thắng xông lên, kéo đại quân xuống phía đông đảo
    Euboeaa. Vượt qua Artemisium, quân Ba Tư nhanh chóng chiếm
    cuối phía bắc đảo Euboeaa và hội quân với lực lượng đổ bộ tại
    Thermopylae, thực hiện ý đồ đè bẹp quân Hy Lạp trên bộ và trên
    biển.
    Trong khi đó, quân Hy Lạp đang nung nấu ý chí phục thù,
    nhân cơ hội này đã tổ chức phản công lại quân Ba Tư vào đêm tối

    tại Artemisium. Sau thắng lợi trên, quân Ba Tư tỏ ra chủ quan,
    khinh địch, không kịp trở tay trước đòn tiến công của quân Hy
    Lạp. Khoảng 30 chiếc thuyền đã bị quân Hy Lạp đánh chìm. Số
    còn lại phải tháo chạy ra biển, nhưng lại gặp giông bão nên tiếp
    tục bị đánh đắm, làm hư hỏng nhiều chiếc thuyền khác. Sau ba
    ngày trời yên, biển lặng, quân Ba Tư lại kéo quân trở lại mỏm
    Euboeaa, tiếp tục nghênh chiến với quân Hy Lạp, nhưng bị thua
    và phải rút lui về cảng Sepia. Trong khi đó, quân Hy Lạp nhận
    được thêm viện binh và thực hành truy kích địch, dụ kéo quân Ba
    Tư vào sâu eo biển Salamis.
    Nhận được tin quân Hy Lạp rút chạy khỏi Athena, Xerxes đã ra
    lệnh cho Hạm đội Ba Tư quay thuyền hướng về phía Salamis để
    chặn quân Hy Lạp từ phía Nam. Khi hoàng hôn buông xuống,
    Themistocles tiếp tục tung tin giả, thu hút đoàn thuyền chiến của
    Ba Tư vào sâu hơn nữa eo biển Salamis. Đến đây, trời đã tối hẳn.
    Cho rằng, quân Hy Lạp vì sợ hãi mà rút chạy, Xerxes ra lệnh hạ
    trại và lập ngai vàng trên sườn núi Aigaleos (nhìn ra eo biển) với
    mục đích chỉ huy quân Ba Tư và quan sát trận chiến đấu giữa các
    chiến binh Hy Lạp và Ba Tư ở một vị trí thuận lợi nhất. Cuộc tiến
    quân của Ba Tư tiếp tục hướng về phía Nam, qua Phocis - vùng
    đất của người Phocis đã thực hiện kế sách “vườn không nhà
    trống” trước khi người Ba Tư đến. Vì vậy, quân Ba Tư gần như
    không gặp khó khăn nào khi tràn qua các thành phố phía Nam.
    Lúc này, toàn bộ Hạm đội Hy Lạp đã được bày binh bố trận tại
    Salamis. Sau khi được tiếp viện, quân Hy Lạp tại Salamis có
    khoảng 380 tàu và 80.000 quân, bao gồm cả các tay chèo, binh sĩ
    và đội phục vụ… Theo lệnh của Themistocles, những người dân ở
    đây đã dựng lên các bức tường gỗ ngăn chặn quân Ba Tư đổ bộ
    lên đất liền. Lực lượng bộ binh tại hòn đảo này có khoảng từ 5.000
    đến 6.000 người với nhiều cung thủ xuất sắc, sẵn sàng chiến đấu
    và phục vụ các thuyền chiến. Nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ bờ

    biển, ngăn cản bất kỳ sự đổ bộ nào của quân Ba Tư, buộc đối
    phương phải tiến thẳng vào eo biển, nơi lực lượng thủy binh đang
    mật phục. Ngoài ra còn có hàng nghìn người dân là những nô lệ,
    ngư dân… thực hiện nhiệm vụ trên đất liền như vận chuyển khí
    giới, nấu ăn, đưa tin… Phần lớn phụ nữ, trẻ em, người già đã được
    sơ tán trước đó. Đêm trước của trận hải chiến, quân Hy Lạp đã đổ
    bộ một lực lượng lớn lên đảo Psyttaleia, nằm giữa Salamis và đất
    liền, sử dụng một cánh quân tiến sang phía Tây để bao vây
    Salamis. Các thuyền chiến đang đậu ở vị trí giữa Ceos và
    Cynosoura cũng được lệnh tăng cường kiểm soát toàn bộ khu vực
    này, nhằm ngăn chặn và dụ đoàn thuyền của Ba Tư vào sâu eo
    Salamis. Sự có mặt của lực lượng thủy binh ở đây còn giúp đỡ các
    cư dân còn lại trên đảo vào những nơi trú ẩn an toàn trước khi
    trận chiến diễn ra. Họ chuẩn bị cho trận chiến hoàn toàn trong
    im lặng, giữ bí mật tuyệt đốỉ, tránh sự phát hiện của đối phương.
    Sau khi toàn bộ Hạm đội Ba Tư đã lọt vào eo biển Salamis,
    quân Hy Lạp bắt đầu phản công. Theo sử gia Herodotus, trước khi
    trận chiến diễn ra, Themistocles đã có lời kêu gọi đối với binh sĩ
    trên các thuyền chiến, quyết tâm đánh thắng quân “man rợ” Ba
    Tư. Chạm trán với quân Hy Lạp ở eo biển được chuẩn bị chu đáo
    và có trật tự theo chiến thuật phalanx - một đội hình chiến thuật
    bộ binh cơ bản trong thời kỳ cổ đại, thủy quân Ba Tư trở nên lộn
    xộn, thiếu tổ chức và vùng eo biển hẹp càng trở nên chật chội
    hơn. Tuy nhiên, liên quân Hy Lạp chưa tấn công ngay lập tức mà
    tiếp tục cho một số thuyền ra khiêu khích để dụ đoàn thuyền
    chiến của quân Ba Tư vào vị trí thuận lợi nhất cho đợt phản công.
    Xerxes chia lực lượng thuyền chiến của Ba Tư thành ba cánh
    quân: cánh quân thứ nhất ở phía Nam đảo Psyttaleia để chặn
    quân Hy Lạp ở phía Đông và Tây eo biển. Cánh quân thứ hai bao
    gồm các đội thuyền của Phoenicia và Ionia tiến hành bao vây
    Salamis. Cánh quân thứ ba chủ yếu là Hạm đội Ai Cập được đánh

    giá là thiện chiến nhất sẽ ở phía Nam eo biển hẹp giữa Salamis và
    Megara với mục tiêu thu hút đối phương và giải quyết nhanh
    chóng trận chiến bằng thế áp đảo của lực lượng thuyền chiến.
    Cuộc chiến đấu thực sự bắt đầu vào lúc bình minh.
    Theo Herodotus, khi cờ hiệu được phất lên, cuộc chiến tại
    Salamis mới thực sự bắt đầu. Theo phương thức chiến tranh cổ
    điển, trận chiến đấu diễn ra chủ yếu giữa các hoplites trên boong,
    các cung thủ và người phóng lao… Cũng theo Herodotus, trận hải
    chiến diễn ra hết sức khó khăn cho người Ba Tư bởi họ hoàn toàn
    bị bất ngờ khi rơi vào bẫy của người Hy Lạp. Sự lộn xộn của các
    thuyền chiến Ba Tư ngày càng trầm trọng trước các đội hình
    phalanx kinh điển. Tính kỷ luật và trật tự của các chiến binh Hy
    Lạp được phát huy tối đa trên biển. Quân Hy Lạp sử dụng các tàu
    nhẹ, cơ động áp sát đánh vào mạn tàu, đồng thời dùng các tàu có
    mũi nhọn đâm thẳng vào tàu đối phương. Cách đánh của hoplites
    Hy Lạp đã làm cho các đội thuyền của Ba Tư ngày càng trở nên
    hỗn loạn. Trên khắp chiến trường, hầu hết các cánh quân của Ba
    Tư đều bị đẩy lùi. Cánh quân thứ hai do tướng Ariabigne (người
    anh em của Xerxes) chỉ huy, nhanh chóng bị quân Hy Lạp giết
    chết. Đội quân Phoenicia như rắn mất đầu, trở nên hỗn loạn, bị
    đẩy lùi hoàn toàn, nhiều tàu bị mắc cạn. Ở vị trí trung tâm, cánh
    quân thứ ba bị các tàu của Hy Lạp đánh chia cắt, không có khả
    năng đối phó với quân Hy Lạp.
    Bị tiến công bất ngờ và chưa được chuẩn bị với cách đánh áp
    mạn, Hạm đội quân Ba Tư bị đánh thiệt hại nặng, buộc phải rút
    khỏi Salamis. Quân Hy Lạp tổ chức truy kích, đánh bại Hạm đội
    Ba Tư.
    Những chiến binh Ba Tư trên các thuyền chiến đầy thương
    tích, hoặc bị cháy cố thoát khỏi thuyền bằng cách lao xuống biển,
    nhưng hầu hết bị chết. Artemisia, nữ hoàng xứ Halicarnass chỉ
    huy đoàn thuyền Caria bị đoàn thuyền của Pellene do Ameinias

    chỉ huy đuổi theo. Để thoát khỏi sự bủa vây của thuyền chiến Hy
    Lạp, thuyền của Artemisia tự đâm vào một tàu của Ba Tư và
    thuyết phục Ameinias rằng, đây là đội thuyền của liên minh Hy
    Lạp. Tin lời Artemisia, Ameinias bỏ cuộc săn đuổi. Đứng trên núi
    quan sát, Xerxes nhầm tưởng rằng, Artemisia đã đâm được
    thuyền của liên minh Hy Lạp và bày tỏ sự thất vọng đối với các
    nam thuyền trưởng khác. Ông nhận xét rằng, “những người đàn
    ông đã biến thành đàn bà và người đàn bà duy nhất trong hàng
    ngũ tướng lĩnh đã trở thành đàn ông”.
    Trước sự phản công mãnh liệt của quân Hy Lạp, các đội thuyền
    chiến của Ba Tư buộc phải rút lui về phía Phalerum, nhưng đã rơi
    vào ổ phục kích của quân Hy Lạp tại eo biển. Thuyền chiến của
    Ba Tư bị đánh đắm gần hết, các binh sĩ trên thuyền hoặc bị chết
    do cung, đao, hoặc bị chết đuối, số còn lại bị bắt làm tù binh.
    Những chiếc thuyền còn lại mình đầy thương tích trở về cảng
    Phalerum và nơi trú ẩn của quân Ba Tư. Xerxes ngồi trên núi
    Aigaleos trong ngai vàng đã chứng kiến sự tàn sát giữa quân Hy
    Lạp và Ba Tư, ra lệnh giết hết các chỉ huy và thủy thủ bỏ chạy. Vào
    lúc hoàng hôn, Salamis không còn bóng dáng những chiếc
    thuyền chiến của Ba Tư, quân Hy Lạp hoàn toàn kiểm soát eo
    biển. Trận hải chiến kết thúc.

    IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA
    TỪ TRẬN ĐÁNH
    Kết thúc trận Salamis, quân Ba Tư thiệt hại nặng. Phần lớn
    quân sĩ bị tiêu diệt; một số bị bắt làm tù binh, nhưng sau đó cũng
    bị quân Hy Lạp giết chết. Thuyền chiến của Ba Tư bị đánh đắm,
    mất hơn 200 thuyền[6]. Tổn thất về người không được thống kê
    một cách chính xác, nhưng theo Herodotus, người Ba Tư chịu
    nhiều thương vong hơn người Hy Lạp bởi hầu hết binh sĩ Ba Tư

    không biết bơi trong một cuộc hỗn chiến đẫm máu, thuyền đắm,
    bốc cháy khắp eo biển.
    Quân Hy Lạp giành thắng lợi hoàn toàn. Phía Hy Lạp tổn thất
    khoảng hơn 40 thuyền. Phần lớn lực lượng (thuyền chiến, binh
    sĩ…) được bảo toàn. Số tù binh Ba Tư bị bắt trong trận hải chiến bị
    phía Hy Lạp giết hết.
    Sau trận Salamis, cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư vẫn còn tiếp
    diễn. Tuy nhiên, với thất bại của các đạo quân Ba Tư tại Salamis,
    tương quan lực lượng giữa Hy Lạp và Ba Tư đã đảo ngược. Sau
    trận đánh đó, liên minh Hy Lạp từng bước giành quyền chủ động
    trên chiến trường, liên tiếp đánh bại quân Ba Tư tại Phataeu (479
    Tr.CN) và đã truy kích chúng tới vùng phía Bắc Hy Lạp, giải
    phóng toàn bộ đất đai Hy Lạp. Không những vậy, hải quân Hy Lạp
    còn đánh bại Hạm đội Ba Tư ở ngoài biển Aegean, giải phóng
    nhiều hòn đảo vốn đang nằm trong sự thống trị của người Ba Tư.
    Cũng từ sau trận Salamis, tính chất của cuộc chiến tranh Hy Lạp
    chống Ba Tư bắt đầu thay đổi. Đối với Athena, cuộc chiến từ chỗ
    là chiến tranh tự vệ chuyển sang chiến tranh bành trướng ra
    nước ngoài. Năm 478 Tr.CN, Athena tiến công eo biển Hắc Hải,
    đánh chiếm Hellespont. Cũng trong năm đó, các thành bang Hy
    Lạp trên các đảo, ngoài biển Aegean và vùng Tiểu Á vì cần thiết
    phải đối phó với Ba Tư nên liên kết thành đồng minh do Athens
    lãnh đạo. Sau khi thành lập đồng minh, Athens không chỉ làm
    cho Ba Tư suy yếu, mà còn mở rộng đất đai và lãnh thổ sang cả
    phía Đông và phía Tây; xác lập được quyền bá chủ của Hy Lạp ở
    phía Đông Địa Trung Hải; mở rộng con đường giao thương đi đến
    Hắc Hải. Đó chính là những điều kiện thuận lợi giúp Hy Lạp phát
    triển kinh tế, xã hội, quân sự và văn hóa vào những năm cuối của
    thế kỷ V Tr.CN.
    Trận Salamis là trận hải chiến lớn lần đầu tiên trong lịch sử
    chiến tranh thế giới được sử sách ghi chép lại. Qua cách mô tả

    của Herodotus và các nhà sử học sau này cho thấy:
    Thứ nhất, khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Hy Lạp,
    người Ba Tư đã đưa quân viễn chinh đi rất xa các căn cứ của họ.
    Trong điều kiện đường sá xa xôi lại bị ngăn chặn liên tục, công
    việc tiếp tế của họ trở nên rất khó khăn. Quân đội Ba Tư là một
    đạo quân ô hợp, bị trưng tập một cách cưỡng bức từ nhiều bộ lạc,
    từ nhiều dân tộc, phải xa rời quê hương để bán mạng cho tầng lớp
    thống trị Ba Tư nên sĩ khí của họ rất thấp, dù có số lượng đông
    nhưng sức chiến đấu không mạnh.
    Thứ hai, thắng lợi của thủy quân Hy Lạp trong trận Salamis
    xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản là
    nhân dân Hy Lạp đã tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa
    chống xâm lược. Họ chiến đấu vì không chịu số phận bị chinh
    phục, nô dịch và bảo vệ nền độc lập của mình. Vì chiến đấu cho
    chính nghĩa nên người dân Hy Lạp đã tích cực chuẩn bị cho cuộc
    chiến trong một thời gian dài (10 năm, kể từ sau trận Marathon),
    trong đó rất chú trọng xây dựng lực lượng thủy binh, bao gồm cả
    việc đóng thuyền chiến, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật tác
    chiến trên biển, khí giới, lương thực, thực phẩm, lực lượng phục
    vụ… Trong chiến đấu, các tướng sĩ Hy Lạp không quản ngại khó
    khăn, sẵn sàng xả thân vì quốc vương và dân tộc.
    Thứ ba, trong trận Salamis nói riêng, chiến tranh Hy Lạp - Ba
    Tư lần thứ hai nói chung, Hy Lạp đã quy tụ được đội ngũ tướng
    lĩnh có tài thao lược, biết áp dụng những chiến lược và chiến
    thuật phù hợp.
    Thứ tư, về chiến thuật, các tướng lĩnh Hy Lạp đã vận dụng sáng
    tạo đội hình phalanx trên biển, một đội hình chiến thuật bộ binh
    cơ bản trong thời kỳ cổ đại, dùng thuyền nhẹ và cơ động thực
    hiện có hiệu quả lối đánh áp mạn và đâm vào thuyền đối phương.
    Cách bố trí theo đội hình phalanx với những chiếc thuyền nhẹ,
    dàn mỏng đội hình là hết sức táo bạo đã tạo nên thế trận hiểm

    hóc của người Hy Lạp trên biển. Từ việc bố trí đội hình như vậy
    đã tạo nên lối đánh áp mạn và đâm thẳng vào đội hình thuyền
    chiến Ba Tư, làm cho hầu hết đều bị đắm hoặc cháy.
    Thứ năm, về chiến lược, ngay sau khi phát hiện Xerxes có ý đồ
    sử dụng một lực lượng lớn thủy binh và bộ binh nhằm đè bẹp
    quân Hy Lạp cả trên biển lẫn trên bộ, Themistocles đã khôn khéo
    thực hiện các đòn nghi binh, tránh không đối đầu trên bộ và ở
    vùng biển rộng, giả vờ thua để dụ địch vào eo biển hẹp, nơi có
    phần lớn lực lượng thủy binh đang mật phục. Để thực hiện ý đồ
    này, trước khi quân Ba Tư đến, Themistocles đã ra lệnh cho các
    thành phố ven biển, đặc biệt là Athena sơ tán dân ra khỏi thành
    phố và đắp những bức tường gỗ ngăn chặn quân Ba Tư đổ bộ. Tài
    thao lược của Themistocles và các tướng lĩnh Hy Lạp còn được
    thể hiện ở chỗ họ đã biết triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, biết
    chọn đúng thời cơ giao chiến khi dụ được quân địch vào vùng
    biển chật hẹp, hạn chế sức mạnh của quân Ba Tư, thực hiện đòn
    phản đột kích, giành thắng lợi quyết định cho quân Hy Lạp.
    Trận Salamis đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến
    trên biển của người Hy Lạp, trong đó Themistocles là người có
    những đóng góp lớn lao nhất. Với tài thao lược của mình, ông đã
    được sử sách ghi vào hàng ngũ các danh tướng nổi tiếng thế giới
    thời cổ đại.
    Như thế, cùng với trận Marathon, thắng lợi của người Hy Lạp
    trong trận hải chiến Salamis đã làm tan vỡ mộng tưởng của người
    Ba Tư chinh phục châu Âu, góp phần quyết định kết thúc cuộc
    chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư lần thứ hai. Đó cũng là chiến thắng
    của nền văn minh Hy Lạp đối với văn minh Lưỡng Hà dưới triều
    đại Ba Tư. Tr...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHÚ NAM AN - HÀ NỘI !