Nam Phuong hoang hau trieu Nguyen cuoi cung

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:27' 20-08-2025
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:27' 20-08-2025
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng
Triều Nguyễn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời tác giả
- 1 -
- 2 -
- 3 -
- 4 -
- 5 -
- 6 -
- 7 -
- 8 -
- 9 -
- 10 -
- 11 -
- 12 -
- 13 -
- 14 -
- 15 -
- 16 -
- 17 -
- 18 -
- 19 -
- 20 -
Mục Lục
Mục Lục 2
Mục Lục (1)
Mục Lục (3)
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
Lời tác giả
Những câu chuyện về cuộc đời NAM PHƯƠNG Hoàng hậu cuối cùng Triều
Nguyễn
Thuở nhỏ, mái trường mà tôi được vinh hạnh nhập học đầu tiên là trường
Couvent des Oiseaux do các nữ tu trong dòng Đức Bà quản giáo tọa lạc tại
đường Parreua ( gần Bưởi hay là đường Hoàng Hoa Thám ) Hà Nội. Khi tôi học
ở lớp mẫu giáo của trường Convent des Oiseaux thì bà Nam Phương Hoàng hậu
tới thăm. Chúng tôi là những học sinh nhỏ tuổi được cầm những bó hoa tươi
đứng trước sân để nghênh đón Hoàng hậu. Hai em học sinh Việt và Pháp bưng
hoa lên dâng tặng Nam Phương Hoàng hâu. Bà Nam Phương cám ơn nhà trường
và các em học sinh, rồi ôm hôn hai em đang tặng hoa.
https://thuviensach.vn
Lý do bà Nam Phương tới thăm trường Convent des Oiseaux Hà Nội vì những
ngày du học tại Pháp, bà Nam Phương đã có thời gian theo học trường Convent
des Oiseaux Paris cũng do các nữ tu dòng Đức Bà phụ trách mà hồi đó người ta
đều kêu danh xưng là các Mẹ ( Mère )
Bà Nam Phương có net mặt hiền hậu và đạo hạnh. Hình ảnh Nam Phương
hoàng hậu vấn khăn vành vàng in trên con tem đã để lại ấn tượng trong nhiều
người lớn tuổi. Đến năm 1945 tôi đọc báo thấy bà hưởng ứng Tuần Lễ Vàng tại
Huế bằng hành động tự trao tất cả những quý kim vàng bạc châu báu mà bà
đang mang trên người để tặng Nhà nước mua vũ khí chống thực dân Pháp. Rồi
bà Nam Phương còn làm việc thiện, như vào dịp Tết năm 1946, Chủ tịch Ủy ban
Hành chánh Huế trao bà Nam Phương số tiền 10 ngàn đồng bạc, nói là của Hồ
Chủ Tịch chuyển vào để tặng bà và gia đình ăn Tết. Với số tiền này thời đó là
lớn lắm. Bà Nam Phương nhận số tiền trên, gởi lời cảm ơn Cụ Hồ và Ủy ban
Hành chánh Huế. Sau đó, bà Nam Phương đã chuyển số tiền 10 ngàn đồng bạc
cho các bà phước trông coi cô nhi viện ở Huế để các cháu ăn tết mà các cô nhi
đang thiếu thốn vì chiến tranh vừa xảy ra.
Cũng năm 1946, bà Nam Phương còn có một hành động yêu nước khi thực dân
Pháp đem quân trở lại xâm lược Việt Nam. Đó là bà đã viết một lá thư ngỏ như
một Thông điệp ( Message ) gửi tới những bạn hữu ở châu Âu và thế giới yêu
cầu họ lên tiếng tố cáo sự trở lại của quân đội Pháp làm đổ máu đồng bào Nam
bộ.
Những hành động trên không riêng cá nhân tôi trân trọng, mà mọi người đều
kính phục nhân cách của một bà cựu hoàng hậu nước Việt. Vì vậy, khi bước
chân vào làm báo, với lòng ngưỡng mộ, tôi đã cố công sưu tầm những tư liệu,
sách, báo đã viết về bà Nam Phương để dành làm tư liệu.
Cuộc đời bà Nam Phương từ thuở thơ ấu đến khi trưởng thành, lấy chồng và trở
thành hoàng hậu có thể nói rất hạnh phúc. Bảo Đại đã giữ đúng lời hứa chỉ có
một vợ một chồng. Nhưng sau năm 1945 vì tình thế và hoành cảnh, Bạo Đại đã
thay tính đổi nết, ăn chơi, cờ bạc, và quan hệ với nhiều phụ nữ “ già ngân ngãi
non vợ chồng ” mà người ta gọi là những thứ phi của Bảo Đại. Tuy vậy, bà Nam
https://thuviensach.vn
Phương cũng không có một hành động nào làm xáo trộn gia đình, nếu có bà chỉ
nhỏ nhẹ than với mấy người thân cận. Những hành động như đánh ghen, chửi
bới, hãm hại tình địch bà Nam Phương không bao giờ có. Những chuyện cho
rằng bà Nam Phương cho người cầm súng hạ tình địch, nhưng tình địch không
hề hấn gì mà Bảo Đại lại bị trọng thương chỉ là những giai thoại và thêu dệt của
những người không ưa Bảo Đại.
Từ lúc về làm dâu nhà Nguyễn, trở thành bà Hoàng hậu, chúng tôi chưa thấy
một ai chê trách hay than phiền về cung cách hay lời ăn tiếng nói của Nam
Phương. Trái lại, Bảo Đại bị tai tiếng và người đời chê trách khá nhiều.
Trong cuốn “Giai thoại và sự thật về Bảo Đại - vua cuối cùng triều Nguyễn” của
tôi đã được xuất bản có nhiều phần viết về Nam Phương - người vợ đầu tiên và
chính danh của Bảo Đại. Song theo yêu cầu của bạn đọc muốn tìm hiểu đầy đủ
hơn về bà Nam Phương, tôi đã hệ thống lại tư liệu để viết tiếp cuốn sách nhỏ
này, với tên gọi “Những câu chuyện về cuộc đời Nam Phương - hoàng hậu cuối
cùng triều Nguyễn”.
Vì những câu chuyện được sưu tầm, góp nhặt từ nhiều nguồn tư liệu nên chắc
chắn không tránh khỏi những nhầm lẫn, sai sót. Nếu phát hiện mong bạn đọc
góp ý và lượng thứ.
Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến những tác giác có tác phẩm mà
chúng tôi sử dụng, trích dẫn trong cuốn sách này. Thành thật cảm tạ.
Sài gòn - TP. Hồ Chí Minh thánh 9-2006
Lý Nhân PHAN THỨ LANG
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-1Gái thuyền quyên đất Nam bộ trở thành vợ các vua triều Nguyễn
Đất Nam bộ có nhiều trai anh hùng phò chúa Nguyễn mở mang bờ cõi và cũng
có nhiều “gái thuyền quyên” được tiến vào cung làm vợ cách vua triều Nguyễn.
Như chúng ta đã biết, 25 năm ròng rã bôn ba đất Nam bộ và được gần gũi các
cận thần người miền Nam như các ông Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Quang Định,
Phạm Đăng Hưng... thế mà Gia Long lại không có một mối tình nào với những
người đẹp đất Nam bộ kể cũng lạ. Hay chính sử và ngoại sử kỵ húy, sợ phạm
thượng không dám ghi lại chăng? Hay Nguyễn Ánh lúc đó tạm gác lại “tình
duyên” để lo “đại sự” mà chưa nghĩ đến một bóng thuyền quyên nào ở đất Nam
bộ?
Nhưng hậu duệ của Gia Long là vua Minh Mạng đã có mấy bà vợ người miền
Trung rồi, lại tuyển bốn gái thuyền quyên miền Nam ra Huế để tiến vào cung
hầu hạ nhà vua, là những bà dưới đây mà sử sách đều ghi:
1. Bà Hồ Thị Hoa ( 1791 - 1807 ), sau được phong làm Tá Thiên Nhân Hoàng
hậu. Bà Hoa là người Bình An, tỉnh Biên Hòa. Bà là con gái của ông Hồ Văn
Bôi, sau ông được phong Phúc Quốc Công. Vì húy tên bà là Hoa nên sau này ở
Gia Định có một cây cầu Hoa phải gọi là cầu Bông. Còn ở Huế có Cửa Đông
Hoa đã phải đổi là Cửa Đông Ba, và vở tuồng hát bội nổi tiếng là Phàn Lê Hoa
cũng phải đổi là Phàn Lê Huê... Đặc biệt bà Hoàng hậu này không có một người
con nào.
2. Bà Nguyễn Thị Khuê, tự Bích Chi, được phong Hòa Tần, người huyện Phúc
Lộc, tỉnh Gia Định, là con gái của quan Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn
phủ tỉnh Quảng Nam. Bác Bích Chi sanh được bốn Hoàng tử và sáu Công chúa.
3. Bà Nguyễn Thị Nhân, phong Cung Tần, người Gia Định. Là con gái Chính
Đội Nguyễn Văn Châu. Bà này sinh được một Hoàng tử là Miên Ký, người giỏi
https://thuviensach.vn
văn chương trong triều Tự Đức, và được phong tước Cẩm Quốc công.
4. Bà Nguyễn Thị Bảo ( 1801 - 1951 ) được phong là Thục Thần, người Gia
Định là con của quan Tư không Nguyễn Khắc Thiệu. Bà này sinh được một
Hoàng tử là Miên Thẩm ( 1818 - 1870 ) và ba Công chúa là Vĩnh Trinh ( 1824 1892 ), Trinh Thận ( 1824 - 1904 ), và Tĩnh Hòa ( 1830 - 1882 ). Cả bốn người
con trên đều trở thành những nhà thơ nổi danh ở đất Thần Kinh nói riêng và cả
nước nói chung mà đến bây giờ người ta vẫn còn nhớ đến những bút danh: Tùng
Thiện Vương, Quy Đức, Man Am và Huệ Phố với những bài thơ tuyệt tác và bất
hủ.
Đến hậu duệ của vua Minh Tạng là vua Thiệu Trị, thì cũng có ba bà vợ là người
miền Nam, là các bà:
1. Phạm Thị Hằng có tự là Nguyệt ( còn theo Việt Nam tự điển của tác giả Lê
Văn Đức thì Phạm Thị Hằng tự Hào ), là người huyện Tân Hòa tỉnh Gò Công.
Bà là con quan Lễ Bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng. Bà Phạm Thị Hằng được
phong là Hoàng Thái hậu Từ Dụ. Bà là người hiền thục, đoan trang nên được
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu tuyển vào cung cho làm vợ Hoàng tử Miên Tông,
tức vua Thiệu trị. Bà Hằng đã sinh được hai Công chúa và một Hoàng tử là
Hồng Nhậm, tức vua Tự Đức. Bà Từ Dụ đã sống qua 10 đời vua kể từ vua Gia
Long là thời gian bà chào đời cho tới lúc hạ thế là năm 1901 đời vua Thành Thái
thư 13. Đây là một bà Hoàng hậu đã được sống nhiều triều đại, được mắt thấy
tai nghe nhiều sự kiện xảy ra trong triều Nguyễn.
2. Bà Nguyễn Thị Nhậm, tước Lệnh Phi, người An Giang ( Long Xuyên ), là
con của Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân. Bà Nguyễn Thị Nhậm được
tuyển vào cung cùng một thời gian với bà Phạm Thị Hằng. Nhưng vì bà Nhậm
chỉ sinh được một Hoàng nữ là Công chúa Nhàn Yên An Thạch, nên bà Nhậm
chỉ được phong tước là Lệnh Phi.
3. Bà Nguyễn Thị Huyên, được phong tước là Đức Tần, là người miền Nam,
nhưng nguyên quán lại là Thừa Thiên, là con của Cai cơ Nguyễn Đức Xuyên.
Bà này sinh được một Hoàng tử là Hồng Diêu ( 1845 - 1875 ), đây là vị Hoàng
https://thuviensach.vn
tử thứ 25 của vua Thiệu Trị. Tới hậu duệ của vua Thiệu Trị là vua Tự Đức có
một bà vợ người miền Nam là Nguyễn Thị Hương, được phong tước Học Phi,
người đất Vĩnh Long. Bà Hương không có con nên đã nhận công tử Ưng Thị,
sanh năm 1870, là con mệ Hường Cai làm con nuôi. Đến khi vua Tự Đức tạ thế
là Ưng Thị được tôn làm vua tức vua Kiến Phúc.
Như trên chúng tôi đã viết, đã có bảy phụ nữ miền Nam đã trở nên Hoàng hậu
triều Nguyễn. Đến thời thứ 13 triều Nguyễn Nguyễn Vĩnh Thụy tức vua Bảo
Đại cũng lấy vợ người miền Nam, và đặc biệt là ngay khi cưới đã được phong
làm Hoàng hậu, không như các vua tiền nhiệm, khi vua băng hà thì các bà mới
được chọn để phong Hoàng hậu, hay Hoàng Thái hậu.
Người phụ nữ người miền Nam thứ tám được phong làm Hoàng hậu là bà
Nguyễn Hữu Thị Lan chúng tôi xin dành những trang sau sẽ viết đầy đủ hơn. Vì
bà Nguyễn Hữu Lan tức Nam Phương Hoàng hậu cũng là bà Hoàng hậu cuối
cùng triều Nguyễn.
Ở đây chúng tôi cũng xin viết thêm về một bà Hoàng hậu triều Nguyễn đã được
nhiều sách báo nhắc nhở đến về công đức và đạo hạnh là bà Từ Dụ. Vì bà Từ
Dụ là người đã có nhiều ảnh hưởng đến các vua: Thiệu Trị, Tự Đức, Hiệp Hòa,
Kiến Phúc, Hàm Nghe... Và trong số các Phi tần, bà Từ Dụ được Hoàng tử Miên
Tông khi lên ngôi vua, đã phong bà làm Chánh phi và được phép ngồi phía sau
bức màn nghe những lời vua bàn bạc với các Quan đại thần. Ngoài việc giúp
vua về chính trị, bà Từ Dụ còn trôn gnom sắp đặt những việc trong cung với tư
các một nữ quan cao cấp. Bà rất nhân từ đối với các Phi tần dưới quyền, không
bao giờ ganh tỵ hay đố kỵ, thương yêu con của các Phi tần khác như chính con
của bà, nên vua Thiệu trị thường ban lời khen ngợi.
Như vậy, trong 8 bà Hoàng hậu đất Nam bộ làm dâu Triều Nguyễn thì có 2 bà
được người ta nhắc đến nhiều nhất và trong sách, sử... cũng ca ngợi tánh nết
đoan trang, nhân từ với mọi người, không phân biệt sang giàu và chính kiến. Đó
là bà Từ Dụ tức Bác Huệ Thái Hoàng hậu vợ vua Thiệu Trị. Và bà Nam Phương
https://thuviensach.vn
Hoàng hậu, tức Nguyễn Hữu Thị Lan, vợ vua Bảo Đại. Cả hai bà Hoàng hậu Từ
Dụ và Nam Phương đều nguyên quán đất Gò Công-Nam Bộ.
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-2Đất Gò Công: “Địa linh nhân kiệt”
Nói hay viết đến chữ “Địa Linh Nhân Kiệt” không phải là việc mê tín nhảm nhí,
mà từ xưa đến nay các tác giả viết về địa lý như Tả Ao đã nói về phong thủy,
chỗ này đất tốt, chỗ kia đất xấu... đều gần như đúng, và nay nhiều tác giả viết và
nghiên cứu về tư liệu Phong thổ ( phong thủy ) để nhiều người nghiên cứu và áp
dụng. Nhưng đúng hay sai cũng còn tùy ở con người tốt hay xấu. Ở đây chúng
tôi chỉ căn cứ trong bộ Hoàng Việt địa dư chí đời vua Minh mạng thứ 14 năm
1883, và cuốn Cours d'Histoire Annamite của họa giả Trương Vĩnh Ký viết và
in năm 1877. Hai tác phẩm giá trị trên đến nay nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn
phải dùng tới.
Ở đây chúng tôi nói về địa dánh Gò Công, nơi đã sản sinh ra những nhân vật nổi
danh cả về đức và tài đã được nhiều sử sách nhắc đến.
Từ xưa đất Gò Công trong bộ Đại Nam quốc sử của cụ Phan Thanh Giản đã
được viết và đánh giá là “Địa Linh Nhân Kiệt”, căn cứ vào địa lý và nhân văn đã
có hai giả thuyết định nghĩa chữ Gò Công.
- Giả thuyết thứ nhất : Gò Công xưa là phần đất của xứ Phù Nam, khi Chúa
Hiền tức Nguyễn Phúc Tần, đinh cuộc di dân Nam tiến, người Việt mới dời vào
đây để định cư. Khi đó Gò Công còn là đất rừng, chưa có ai tới cư ngụ. Nơi này
có một cái gò cao, có nhiều giống chim công trú ở nên người ta gọi ngay là Gò
Công. Và trong sử đã ghi chép về danh từ địa phương là : khi vua Minh Mạng ra
lệnh cho các quan địa phương đổi tên nôm na các tỉnh thành chữ Nho cho nho
nhã, thì “Gò Công” đã biến thành “Khổng Tước Nguyên”, cũng như Đồng Nai
thì đổi là “Lộc Dã”, còn Bến Tre thì đổi là “Trúc Giang”, và Sóc Trăng đổi là
“Nguyệt Giang” ( tức Sông Trăng )...
- Giả thuyết thứ hai : Người ta kể lại, ở xứ này trước đây có một người phụ nữ
tên là Thị Công, đến lập quán bán thức ăn cho dân khai thác đồn điền. Lâu dần,
nhận thấy Gò Công là đất dễ sinh nhau nên dân chúng các nơi hội tụ về đây
https://thuviensach.vn
khẩn hoang từng lập rẫy, lập làng. Số người đến đây mỗi ngày một tăng, từ đó
dân địa phương quen miệng nên gọi là quán Bà Công, hay Gò Bà Công. Rồi lâu
ngày dân đã bỏ chữ bà đi mà gọi tắt là Gò Công. Và danh từ địa phương Gò
Công đã tồn tại từ đó đến nay.
Đất Gò Công từ ngàn xưa đã sản sinh ra những nhân tài như Phạm Đăng Hưng,
như Trương Công Định chống Pháp thời vua Tự Đức, khi tại thế được vua Tự
Đức phong Đại Nam Bình Tây Đại tướng quân Trương Công Định. Những dòng
chữ này đã được khắc trên bia mộ của Công Định tại Gò Công.
Khi thực dân Pháp thống trị đất Nam bộ, họ đã bầm nát hàng chữ trên và còn
phạt vạ bà Trần Thị Sanh, là người quả phụ của Trương Công Định 10 ngàn
đồng vì người Pháp nêu lý do Trương Công Định tạo ra cuộc phiến loạn chống
người Pháp.
Đến đời vua Bảo Đại đã phong tước Trương Công Định là: “Đại Nam, Phấn
dõng Đại tướng quân truy tặng Ngũ Quân quận công”, cho phép tu sửa lại phần
mộ họ Trương trang trọng hơn trước, và năm 1955, ông Nguyễn Huỳnh Mai
phụng đề hai câu đối liễn ở mộ bia như sau:
Mặt trước: “Trương chí quật cường, võ liệt nêu cao đất Việt - Định tâm kháng
chiến, văn mờ chói rạng trời Nam.”
Mặt sau: “Huyện Tân Hòa, khẳng khái Cần Vương, tờ chiếu ngọc - Làng Gia
Thuận, thung dung tựu nghĩa, chiếc gươm vàng”.
Hàng năm, cứ vào ngày 18 tháng 7 Âm lịch có nhiều người tới thắp nhang viếng
mộ họ Trương.
Tại Gò Công còn có đền thờ Võ Quốc Công tức Võ Tánh. Miếu nay đặt tại Gò
Tre, nơi Võ Tánh dựng cờ tụ nghĩa chiêu tập quân lính giúp Nguyễn Ánh đánh
quân Tây Sơn. Sau đó Võ Tánh ra Bình Định để tiếp tục giúp nhà Nguyễn đánh
quân Tây Sơn và Võ Tánh đã tạ thế tại đây.
Nơi nguyên quán Võ Tánh là Gò Công, ấp Gò Tre có hai câu đối ghi công ơn họ
Võ như sau:
“Khổng Tước kỳ, khẳng khái Cần vương, tam hùng thủ liệt.
Bàn Sà địa, thung dung tựu nghĩa, nhứt biến Trung hưng”.
Đi theo Võ Tánh để phò vua Nhà Nguyễn còn có ông Nguyễn Văn Hiểu. Ông là
một người có tài, có đức, cương trực, và liêm khiết, đã có công lớn đối với vua
https://thuviensach.vn
Gia Long. Ông được cử ra làm trấn thủ Sơn Nam hạ ( tức tỉnh Nam Định ). Làm
quan tới đời vua Minh mạng thứ 13, và được thăng Thự Tả quân Đô thống phủ
Chương phủ sự. Khi ông tạ thế, vua Minh Mạng phong Lương năng bá. Con trai
của ông Nguyễn Văn Hiểu là Nguyễn Văn Túc, có vợ là công chua Chương Gia.
Ông Túc được phong Phò mã Đô úy.
Thế kỷ 19-20, đất Gò Công đã nảy sinh ra những nhân vật học giỏi, giữ nhiều
chức vụ cao và nổi danh. Như ông Lê Quang Liêm tự Bẩy Liêm hay Phủ Liêm.
Ông Nguyễn Minh Chiếu, người gốc Gò Công, cũng là người nổi danh. Tiếp sau
là Luật sư Vương Quang Nhường, nhà văn Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn
Trung làm tới chức Đốc phủ sứ. Ngoài giờ làm công chức, cụ Hồ Biểu Chánh
còn viết tiểu thuyết, làm thơ và làm báo. Cụ Hồ Biểu Chánh để lại 44 tác phẩm
truyện dài, truyện ngắn rất giá trị. Hiện nay các nhà làm phim đang lấy những
tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, như Nợ đời, Trọn nghĩa vẹn tình... để làm các
phim truyện.
Về tôn giáo có Giám mục Nguyễn Bá Tòng, là vị giám mục tiên khởi của hàng
giáo phẩm Việt Nam. Giám mục Nguyễn Bá Tòng cũng là vị giám mục đạo đức
và lỗi lạc của giáo hội Công giáo Việt Nam 1932 - 1949.
Những vị mà chúng tôi nhắc đến trên đều là giới nam. Còn giới nữ, gốc Gò
Công cũng nổi danh, mà lại nổi danh tột đỉnh triều đình nhà Nguyễn là bà Phạm
Thị Hằng, con gái ông Phạm Đăng Hưng đã trở thành nàng dâu nhà Nguyễn tức
là bà Từ Dụ, được phong Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, vợ của vua Thiệu Trị,
là mẹ vua Tự Đức. Và bà thứ hai là Nguyễn Hữu Thị Lan, con gái ông Nguyễn
Hữu Hào, làm vợ vua Bảo Đại, được phong Nam Phương Hoàng hậu.
Hai bà Hoàng hậu triều Nguyễn gốc Gò Công đều được người đời tôn kính là
bậc mẫu nghi vì đạo đức, tài giỏi và thương dân, thương nước.
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-3“Tam cung Lục viện”
Nước ta, kể từ triều Nguyễn Gia Long các vua vì theo phong tục của Trung Hoa
nên vua nào cũng có một bà vợ chính thức được gọi là Nhất giai phi, chỉ khi
chết mới được tôn là Hoàng hậu, ngoài ra còn chọn nhiều Phi tần, Cung nữ
tuyển vào cung để làm vợ thứ. Nhưng kể từ Gia Long lên ngôn Hoàng đế thì
chức Hoàng hậu bị bãi bỏ vì nhà vua sợ các bà hoàng lộng quyền chiếm đoạt
ngôi vua. Vì vậy, Gia Long đã đặt ra “Tứ bất lập”, theo thứ tự như sau:
- Bất lập Hoàng hậu ( Không lập Hoàng hậu ).
- Bất lập Đông cung ( Không lập Thái tử ).
- Bất lập Tể tướng ( Không đặt chức Tể tướng ).
- Bất lập Trạng nguyên ( Không lấy ai đậu Trạng nguyên ).
Sau đó chia ra làm “Cửu giai” và theo thứ tự các bà vợ từ đầu đến cuối như sau:
- Nhất giai phi.
- Nhị giai phi.
- Tam giai tân.
- Tứ giai tân.
- Ngũ giai Tiệp dư.
- Thất giai Thục nhân.
- Bát giai Mỹ nhân.
- Cửu giai Tài nhân.
Việc sắp xếp trên cũng như các cấp bậc quan lại được chia ra thứ tự gồm “Cửu
phẩm”. Như vậy bà nào đứng đầu trong “Cửu giai” thì được gọi là Hoàng Quý
phi. Lệ này được duy trì tới 12 đời vua triều Nguyễn, và tới Bảo Đại là vị vua
thứ 13 mới cho lập lại chức Hoàng hậu.
Cũng vì sợ Phi tần, Cung nữ trong Hoàng cung quá đông nên nhà vua đã cho
https://thuviensach.vn
lệnh xây cất “Tam cung” và “Lục viện” cho mỗi bà ở một phòng riêng mới đủ
chỗ.
Ở Tam cung lại chia ra làm 3 cung:
Cung Diên Thọ, là nơi dành cho các bà Hoàng Thái hậu, Thái Thái hậu là các bà
vợ của các vua đã băng hà ( tạ thế ), và có các viên Thái giám ở đó nữa.Cung
Trường Sanh dành cho các bà vợ vua đang tại ngôi, như các bà Lệ Thiên, vợ của
vua Tự Đức, và bà Từ Minh, vợ của vua Dục Đức cũng đã từng ở nơi này.Cung
Khôn Thái được thiết lập ở gần điện Cần Thánh chỗ vua ở. Cung này dành riêng
cho các bà Hoàng Quý phi. Trong cung này có một điện tên là Cao Minh Trung
Chính, điện này lập vào năm Gia Long thứ ba. Ở phía đông của điện Cao Minh
Trung Chính có một nhà hát để nội cung hát riêng cho vua xem và gọi là Viện
Tịnh quan. Còn Lục viện gồm có 6 viện là:
Viện Thuận Huy, nằm ở giữa điện Cần Thánh và điện Cao Minh Trung Chính. Ở
phía tây viện Thuận Huy lại có:Viện Đoan Thuận.Viện Đoan Hòa.Viện Đoan
Huy.Viện Đoan Trường.Viện Đoan Trang. Ngoài Cung Diên Thọ ra, những cung
và viện kể trên là chỗ dành cho các cung phi, mỹ nữ vợ của những vua đang trị
vì, và đều nằm ở cả trong Tử Cấm thành. Nơi này ngoài vua ra, chỉ có các Thái
giám được lui tới thôi, các đàn ông khác không được phép bén mảng tới nơi này.
Những Phi tần, Cung nữ đều được tuyển chọn trong những gia đình các cô con
gái của các quan Đại thần, ngoài ra cũng có khi chọn trong hàng con thường dân
nhưng phải có sắc đẹp đặc biệt và nhất là phải có đức hạnh đoan trang.
Lúc mới được tuyển vào cung, các cô gái này được đứa đến ở Đoan Trang viện
để học tập cách ăn mặc, đi đứng và các nghi lễ trong cung. Một khi đã được tiến
vào cung, những Phi tần, Cung nữ này không được phép gặp mặt bất cư ai bên
ngoài nữa kể cả cha mẹ anh chị em. Cũng có trường hợp đặc biệt hiếm lắm nhà
vua mới cho phép cha mẹ vào Nội cung để thăm con, nhưng chỉ được nói
chuyện với con qua một bức màn sáo che không thấy mặt con. Người nào có
con được tiến vào cung là coi như mất con vì ít khi nào được gặp lại mặt con
nữa.
https://thuviensach.vn
Trong “Tam cung Lục viện” có các thị nữ ( hay nữ tỳ cũng vậy ) để hầu hạ các
Phi tần. Còn nhiệm vụ của các Thái giám là trông nom và săn sóc cho các Phi
tần. Vì Thái giám có nhiệm vụ kiểm tra các hành động của Phi tần và mỗi lần
vưa ngự đến “ngự dâm” với các bà nào thì viên Thái giám phải ghi chép giờ,
ngày tháng cho đúng xem bà nào có thai trước, đẻ con trai hay con gái.
Những viên Thái giám cũng được chia ra làm hai loại. Một loại là “Giám sanh”,
tức trời sanh ra ngay khi lọt lòng đã phi nam phi nữ, nghĩa là không có hộ “sinh
dục nam” hay “sinh dục nữ”. Và loại thứ hai là “Giám lặt” là bị thiến mất “của
quý”.
Theo cụ Hoàng Trọng Thược cho biết thì xưa tại làng nào có “Giám sinh” ra đời
thì cha mẹ phải đi trình làng để các cơ quan hữu trách trình lên Bộ và Bộ sẽ cho
nuôi nấng và dạy dỗ đứa trẻ theo nghi lễ trong cung để khi lớn lên thì đưa vào
Nội cung làm Thái giám. Những đứa trẻ này người ta thường gọi là ông “Bộ”.
Thông lệ, thời xưa làng, xã nào sinh sản được ông “Bộ”, lớn lên được tuyển vào
cung sẽ được nhà vua ký sắc cho miễn thuế ba năm.
Còn các Phi tần, Cung nữ thì sao? Ở trong cung có hàng chục, có khi hàng trăm
cô để hầu hạ chăn gối cho vua. Nhưng sức người có hạn, làm sao vua ban ân
sủng hết được, bởi vậy có nhiều cô từ khi được “tiến” vào cung, cho tới khi vua
băng hà vẫn chưa một lần được vua lâm hạnh, và kết quả cô này vẫn còn trinh.
Cũng theo cụ Hoàng Trọng Thược, thì mỗi khi vua giá lâm đến Tam cung Lục
viện để “ngự dâm” thì thường dừng xe do một con dê đực kéo, hễ dê dừng ở của
phòng nào thì vua “ngự dâm” ở phòng đó. Bởi vậy, các Phi tần, Cung nữ thường
hay nhờ các chị thị nữ mua các thứ cỏ non hay lá dâu, lá sấu đâu... rồi đem rắc ở
trước của phòng khi vua ngồi trên xe dê giá lâm, dê thấy cỏ non, lá sâu, lá sầu
đâu... thì dừng lại ăn. Cho nên trong tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” của tác
giả Ôn Như Hầu đã có câu :
https://thuviensach.vn
“Phải duyên hương lửa cùng nhau,
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.”
Vậy vua Gia Long có bao nhiêu vợ? Và bao nhiêu con?
Theo chính sử viết, vua Gia Long có 3 bà vợ được gọi là đệ nhất phi, đệ nhị phi,
đệ tam phi. Ngoài 3 bà phi này còn có 6 bà phi nữa nhưng không thấy tư liệu
nào nhắc đến.
Ba bà phi chính thức được xếp thứ tự như sau:
Bà Quế phi ( Đệ nhất phi ) tên là Tống Thị Lan, tức Thừa Thiên Cao Hoàng hậu,
con ông Chưởng dinh Tống Phước Khuông, người huyện Tông Sơn, Thanh Hóa
- đã vào Nam theo Chúa Nguyễn Phúc Chu để chống nhà Tây Sơn. Bà họ Tống,
sinh được ba người con là Nguyễn Phúc Cảnh ( tức Hoàng tử Cảnh ), người thứ
nhì là Nguyễn Phúc Hy, tạ thế 1801, người thứ ba là Nguyễn Phúc Tuấn, đã tạ
thế trước Cảnh và Hy. Chỉ có Nguyễn Phúc Cảnh được gọi là Hoàng tử. Năm 4
tuổi Cảnh được Gia Long cho theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp để cầu viện
nước Pháp giúp khí giới và quân đội đánh nhà Tây Sơn. Theo một số tư liệu thì
Hoàng tử Cảnh và hai em trai đã được Giám mục Bá Đa Lộc khuyên rửa tội
theo đạo Công giáo, Hoàng tử Cảnh ở Pháp một năm rồi trở về.
Hoàng tử Cảnh có vợ là Tống Thị Quyên, sanh được hai con trai. Người thứ
nhất là Nguyễn Phúc Mỹ Đường, cũng có tên là Đán - Hoàng Tôn Đán được
phong tước Ứng hòa công. Người con thứ hai, là Nguyễn Phúc Mỹ Thụy ( còn
có tên là Mỹ Hòa ) hay Kính, được phong tước Thái Định công. Năm 1824,
không biết phạm tội gì, Mỹ Đường bị lột hết tước, phải nộp ấn thư, rồi bị giáng
xuống làm thứ dân. Mỹ Đường có một người con là Nguyễn Phúc Lê Chung,
sau được vua Tự Đức phong Cảnh Hòa Quận công.
Sau này người ta đọc được bài phiên hệ thi : Mỹ-Duệ-Tăng-Cường-Tráng, LiênHuy-Phát-Bôi-Hương... Những con cháu của Hoàng tử Cảnh sau này, năm đời
còn lại là ông Nguyễn Phúc Hồng Dân ( 1882 - 1951 ), là cháu năm đời của
Hoàng tử Cảnh. Đã mang tước Kỳ ngoại hầu Cường Để. Ông Cường Để trốn
sang Nhật Bản lập Việt Nam Quang Phục Hội do ông làm Hội chủ để chống
https://thuviensach.vn
Pháp cai trị Việt Nam. Con của Cường Để là ông Tráng Liệt, và cháu là Liên
Bảo. Như vậy, cháu, chắt dòng Hoàng tử Cảnh hiện nay hãy còn rải rác khắp
nơi.
Bà Minh phi ( Đệ nhị phi ) họ Trần Thị Đang, tức Thuận Thiên Cao Hoàng hậu,
là mẹ của vua Minh Mạng. Bà họ Trần là con gái của ông Tham tri Bộ Lễ Trần
Hưng Đạt, quê ở Vạn Xá ( Thừa Thiên ). Nguyên bà họ Trần trước là người hầu
của mẹ vua Gia Long, rồi cùng ra Quảng Trị ẩn náu ở làng An Đô, gần cửa
Tùng. Đến khi vào Nam đã được tuyển làm vợ Nguyễn Ánh ( Gia Long ), khi
mới 13 tuổi.Bà Lê Thị Ngọc Bình ( Đệ tam phi ), gọi là Đức phi hay Thần phi
cũng vậy. Bà Ngọc Bình là con út của vua Lê Hiển Tông. Khi nhà Tây Sơn thất
bại, vua Quang Trung tại thế để lại bà Ngọc Hân Công chúa ở lại kinh thành với
người em gái là Ngọc Bình ( vợ vua Quang Toản - tức Cảnh Thịnh, con của
Nguyễn Huệ ). Theo ngoại sử, lúc đó Gia Long có gạ gẫm và ép duyên bắt Ngọc
Hân phải lấy ông. Nhưng đã bị Ngọc Hân cự tuyệt. Còn Ngọc Bình thì lúc đầu
cũng không bằng lòng, nhưng sau cũng xuôi lòng và chấp nhận lấy Gia Long
làm thứ phi. Bà Ngọc Bình đã sinh được hai người con trai với Gia Long tên là
Quảng Oai công, và Thường Tín Quận công. Cũng vì sự trớ trêu trên mà dân
gian sau này ở Huế đã có câu nói:
“Số đâu có số lạ làng,
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.”
Đến đây, chúng ta cũng nên biết trong 9 đời chúa, và 13 đời vua Nguyễn, có vị
chào đời ở đất Nam bộ xưa, có vị lâu ngày ở đất Nam bộ và tạ thế tại đây.
Vị Hoàng tử đầu tiên là Nguyễn Phúc Đảm ( Đởm ) tức vua Minh Mạng sinh
năm 1791 tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, xứ nam bộ.
Còn ông vua sống lâu ngày nhất ở Nam bộ là Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia
Long, kể từ năm 1775 đến đầu thế kỉ XIX mới trở về Huế, tức là 25 năm sống ở
Nam bộ và xê dịch nhiều tỉnh, ông còn lặn lội sang Xiêm để cầu viện. Nguyễn
Ánh cũng là ông vua xuất ngoại đầu tiên.
https://thuviensach.vn
Chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần ( 1765 - 1777 ), là vị Chúa thứ chín, đã
bị quân Tây Sơn bắt được ở tỉnh Long Xuyên và đem về Sài Gòn hạ sát vào năm
1777.
Đến cuối triều Nguyễn là vua Bảo Đại và bà Nam Phương Hoàng hậu thì cả hai
đều tạ thế tại ngoại quốc, sau khi vua Bảo Đại bị truất phế khỏi ngôi Hoàng đế
triều Nguyễn phong kiến khi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân
dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng lên đánh đổ chế
độ thực dân Pháp đang cai trị nước ta do Bảo Đại làm vua bù nhìn của chế độ
thực dân Pháp.
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phư...
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng
Triều Nguyễn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời tác giả
- 1 -
- 2 -
- 3 -
- 4 -
- 5 -
- 6 -
- 7 -
- 8 -
- 9 -
- 10 -
- 11 -
- 12 -
- 13 -
- 14 -
- 15 -
- 16 -
- 17 -
- 18 -
- 19 -
- 20 -
Mục Lục
Mục Lục 2
Mục Lục (1)
Mục Lục (3)
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
Lời tác giả
Những câu chuyện về cuộc đời NAM PHƯƠNG Hoàng hậu cuối cùng Triều
Nguyễn
Thuở nhỏ, mái trường mà tôi được vinh hạnh nhập học đầu tiên là trường
Couvent des Oiseaux do các nữ tu trong dòng Đức Bà quản giáo tọa lạc tại
đường Parreua ( gần Bưởi hay là đường Hoàng Hoa Thám ) Hà Nội. Khi tôi học
ở lớp mẫu giáo của trường Convent des Oiseaux thì bà Nam Phương Hoàng hậu
tới thăm. Chúng tôi là những học sinh nhỏ tuổi được cầm những bó hoa tươi
đứng trước sân để nghênh đón Hoàng hậu. Hai em học sinh Việt và Pháp bưng
hoa lên dâng tặng Nam Phương Hoàng hâu. Bà Nam Phương cám ơn nhà trường
và các em học sinh, rồi ôm hôn hai em đang tặng hoa.
https://thuviensach.vn
Lý do bà Nam Phương tới thăm trường Convent des Oiseaux Hà Nội vì những
ngày du học tại Pháp, bà Nam Phương đã có thời gian theo học trường Convent
des Oiseaux Paris cũng do các nữ tu dòng Đức Bà phụ trách mà hồi đó người ta
đều kêu danh xưng là các Mẹ ( Mère )
Bà Nam Phương có net mặt hiền hậu và đạo hạnh. Hình ảnh Nam Phương
hoàng hậu vấn khăn vành vàng in trên con tem đã để lại ấn tượng trong nhiều
người lớn tuổi. Đến năm 1945 tôi đọc báo thấy bà hưởng ứng Tuần Lễ Vàng tại
Huế bằng hành động tự trao tất cả những quý kim vàng bạc châu báu mà bà
đang mang trên người để tặng Nhà nước mua vũ khí chống thực dân Pháp. Rồi
bà Nam Phương còn làm việc thiện, như vào dịp Tết năm 1946, Chủ tịch Ủy ban
Hành chánh Huế trao bà Nam Phương số tiền 10 ngàn đồng bạc, nói là của Hồ
Chủ Tịch chuyển vào để tặng bà và gia đình ăn Tết. Với số tiền này thời đó là
lớn lắm. Bà Nam Phương nhận số tiền trên, gởi lời cảm ơn Cụ Hồ và Ủy ban
Hành chánh Huế. Sau đó, bà Nam Phương đã chuyển số tiền 10 ngàn đồng bạc
cho các bà phước trông coi cô nhi viện ở Huế để các cháu ăn tết mà các cô nhi
đang thiếu thốn vì chiến tranh vừa xảy ra.
Cũng năm 1946, bà Nam Phương còn có một hành động yêu nước khi thực dân
Pháp đem quân trở lại xâm lược Việt Nam. Đó là bà đã viết một lá thư ngỏ như
một Thông điệp ( Message ) gửi tới những bạn hữu ở châu Âu và thế giới yêu
cầu họ lên tiếng tố cáo sự trở lại của quân đội Pháp làm đổ máu đồng bào Nam
bộ.
Những hành động trên không riêng cá nhân tôi trân trọng, mà mọi người đều
kính phục nhân cách của một bà cựu hoàng hậu nước Việt. Vì vậy, khi bước
chân vào làm báo, với lòng ngưỡng mộ, tôi đã cố công sưu tầm những tư liệu,
sách, báo đã viết về bà Nam Phương để dành làm tư liệu.
Cuộc đời bà Nam Phương từ thuở thơ ấu đến khi trưởng thành, lấy chồng và trở
thành hoàng hậu có thể nói rất hạnh phúc. Bảo Đại đã giữ đúng lời hứa chỉ có
một vợ một chồng. Nhưng sau năm 1945 vì tình thế và hoành cảnh, Bạo Đại đã
thay tính đổi nết, ăn chơi, cờ bạc, và quan hệ với nhiều phụ nữ “ già ngân ngãi
non vợ chồng ” mà người ta gọi là những thứ phi của Bảo Đại. Tuy vậy, bà Nam
https://thuviensach.vn
Phương cũng không có một hành động nào làm xáo trộn gia đình, nếu có bà chỉ
nhỏ nhẹ than với mấy người thân cận. Những hành động như đánh ghen, chửi
bới, hãm hại tình địch bà Nam Phương không bao giờ có. Những chuyện cho
rằng bà Nam Phương cho người cầm súng hạ tình địch, nhưng tình địch không
hề hấn gì mà Bảo Đại lại bị trọng thương chỉ là những giai thoại và thêu dệt của
những người không ưa Bảo Đại.
Từ lúc về làm dâu nhà Nguyễn, trở thành bà Hoàng hậu, chúng tôi chưa thấy
một ai chê trách hay than phiền về cung cách hay lời ăn tiếng nói của Nam
Phương. Trái lại, Bảo Đại bị tai tiếng và người đời chê trách khá nhiều.
Trong cuốn “Giai thoại và sự thật về Bảo Đại - vua cuối cùng triều Nguyễn” của
tôi đã được xuất bản có nhiều phần viết về Nam Phương - người vợ đầu tiên và
chính danh của Bảo Đại. Song theo yêu cầu của bạn đọc muốn tìm hiểu đầy đủ
hơn về bà Nam Phương, tôi đã hệ thống lại tư liệu để viết tiếp cuốn sách nhỏ
này, với tên gọi “Những câu chuyện về cuộc đời Nam Phương - hoàng hậu cuối
cùng triều Nguyễn”.
Vì những câu chuyện được sưu tầm, góp nhặt từ nhiều nguồn tư liệu nên chắc
chắn không tránh khỏi những nhầm lẫn, sai sót. Nếu phát hiện mong bạn đọc
góp ý và lượng thứ.
Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến những tác giác có tác phẩm mà
chúng tôi sử dụng, trích dẫn trong cuốn sách này. Thành thật cảm tạ.
Sài gòn - TP. Hồ Chí Minh thánh 9-2006
Lý Nhân PHAN THỨ LANG
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-1Gái thuyền quyên đất Nam bộ trở thành vợ các vua triều Nguyễn
Đất Nam bộ có nhiều trai anh hùng phò chúa Nguyễn mở mang bờ cõi và cũng
có nhiều “gái thuyền quyên” được tiến vào cung làm vợ cách vua triều Nguyễn.
Như chúng ta đã biết, 25 năm ròng rã bôn ba đất Nam bộ và được gần gũi các
cận thần người miền Nam như các ông Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Quang Định,
Phạm Đăng Hưng... thế mà Gia Long lại không có một mối tình nào với những
người đẹp đất Nam bộ kể cũng lạ. Hay chính sử và ngoại sử kỵ húy, sợ phạm
thượng không dám ghi lại chăng? Hay Nguyễn Ánh lúc đó tạm gác lại “tình
duyên” để lo “đại sự” mà chưa nghĩ đến một bóng thuyền quyên nào ở đất Nam
bộ?
Nhưng hậu duệ của Gia Long là vua Minh Mạng đã có mấy bà vợ người miền
Trung rồi, lại tuyển bốn gái thuyền quyên miền Nam ra Huế để tiến vào cung
hầu hạ nhà vua, là những bà dưới đây mà sử sách đều ghi:
1. Bà Hồ Thị Hoa ( 1791 - 1807 ), sau được phong làm Tá Thiên Nhân Hoàng
hậu. Bà Hoa là người Bình An, tỉnh Biên Hòa. Bà là con gái của ông Hồ Văn
Bôi, sau ông được phong Phúc Quốc Công. Vì húy tên bà là Hoa nên sau này ở
Gia Định có một cây cầu Hoa phải gọi là cầu Bông. Còn ở Huế có Cửa Đông
Hoa đã phải đổi là Cửa Đông Ba, và vở tuồng hát bội nổi tiếng là Phàn Lê Hoa
cũng phải đổi là Phàn Lê Huê... Đặc biệt bà Hoàng hậu này không có một người
con nào.
2. Bà Nguyễn Thị Khuê, tự Bích Chi, được phong Hòa Tần, người huyện Phúc
Lộc, tỉnh Gia Định, là con gái của quan Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn
phủ tỉnh Quảng Nam. Bác Bích Chi sanh được bốn Hoàng tử và sáu Công chúa.
3. Bà Nguyễn Thị Nhân, phong Cung Tần, người Gia Định. Là con gái Chính
Đội Nguyễn Văn Châu. Bà này sinh được một Hoàng tử là Miên Ký, người giỏi
https://thuviensach.vn
văn chương trong triều Tự Đức, và được phong tước Cẩm Quốc công.
4. Bà Nguyễn Thị Bảo ( 1801 - 1951 ) được phong là Thục Thần, người Gia
Định là con của quan Tư không Nguyễn Khắc Thiệu. Bà này sinh được một
Hoàng tử là Miên Thẩm ( 1818 - 1870 ) và ba Công chúa là Vĩnh Trinh ( 1824 1892 ), Trinh Thận ( 1824 - 1904 ), và Tĩnh Hòa ( 1830 - 1882 ). Cả bốn người
con trên đều trở thành những nhà thơ nổi danh ở đất Thần Kinh nói riêng và cả
nước nói chung mà đến bây giờ người ta vẫn còn nhớ đến những bút danh: Tùng
Thiện Vương, Quy Đức, Man Am và Huệ Phố với những bài thơ tuyệt tác và bất
hủ.
Đến hậu duệ của vua Minh Tạng là vua Thiệu Trị, thì cũng có ba bà vợ là người
miền Nam, là các bà:
1. Phạm Thị Hằng có tự là Nguyệt ( còn theo Việt Nam tự điển của tác giả Lê
Văn Đức thì Phạm Thị Hằng tự Hào ), là người huyện Tân Hòa tỉnh Gò Công.
Bà là con quan Lễ Bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng. Bà Phạm Thị Hằng được
phong là Hoàng Thái hậu Từ Dụ. Bà là người hiền thục, đoan trang nên được
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu tuyển vào cung cho làm vợ Hoàng tử Miên Tông,
tức vua Thiệu trị. Bà Hằng đã sinh được hai Công chúa và một Hoàng tử là
Hồng Nhậm, tức vua Tự Đức. Bà Từ Dụ đã sống qua 10 đời vua kể từ vua Gia
Long là thời gian bà chào đời cho tới lúc hạ thế là năm 1901 đời vua Thành Thái
thư 13. Đây là một bà Hoàng hậu đã được sống nhiều triều đại, được mắt thấy
tai nghe nhiều sự kiện xảy ra trong triều Nguyễn.
2. Bà Nguyễn Thị Nhậm, tước Lệnh Phi, người An Giang ( Long Xuyên ), là
con của Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân. Bà Nguyễn Thị Nhậm được
tuyển vào cung cùng một thời gian với bà Phạm Thị Hằng. Nhưng vì bà Nhậm
chỉ sinh được một Hoàng nữ là Công chúa Nhàn Yên An Thạch, nên bà Nhậm
chỉ được phong tước là Lệnh Phi.
3. Bà Nguyễn Thị Huyên, được phong tước là Đức Tần, là người miền Nam,
nhưng nguyên quán lại là Thừa Thiên, là con của Cai cơ Nguyễn Đức Xuyên.
Bà này sinh được một Hoàng tử là Hồng Diêu ( 1845 - 1875 ), đây là vị Hoàng
https://thuviensach.vn
tử thứ 25 của vua Thiệu Trị. Tới hậu duệ của vua Thiệu Trị là vua Tự Đức có
một bà vợ người miền Nam là Nguyễn Thị Hương, được phong tước Học Phi,
người đất Vĩnh Long. Bà Hương không có con nên đã nhận công tử Ưng Thị,
sanh năm 1870, là con mệ Hường Cai làm con nuôi. Đến khi vua Tự Đức tạ thế
là Ưng Thị được tôn làm vua tức vua Kiến Phúc.
Như trên chúng tôi đã viết, đã có bảy phụ nữ miền Nam đã trở nên Hoàng hậu
triều Nguyễn. Đến thời thứ 13 triều Nguyễn Nguyễn Vĩnh Thụy tức vua Bảo
Đại cũng lấy vợ người miền Nam, và đặc biệt là ngay khi cưới đã được phong
làm Hoàng hậu, không như các vua tiền nhiệm, khi vua băng hà thì các bà mới
được chọn để phong Hoàng hậu, hay Hoàng Thái hậu.
Người phụ nữ người miền Nam thứ tám được phong làm Hoàng hậu là bà
Nguyễn Hữu Thị Lan chúng tôi xin dành những trang sau sẽ viết đầy đủ hơn. Vì
bà Nguyễn Hữu Lan tức Nam Phương Hoàng hậu cũng là bà Hoàng hậu cuối
cùng triều Nguyễn.
Ở đây chúng tôi cũng xin viết thêm về một bà Hoàng hậu triều Nguyễn đã được
nhiều sách báo nhắc nhở đến về công đức và đạo hạnh là bà Từ Dụ. Vì bà Từ
Dụ là người đã có nhiều ảnh hưởng đến các vua: Thiệu Trị, Tự Đức, Hiệp Hòa,
Kiến Phúc, Hàm Nghe... Và trong số các Phi tần, bà Từ Dụ được Hoàng tử Miên
Tông khi lên ngôi vua, đã phong bà làm Chánh phi và được phép ngồi phía sau
bức màn nghe những lời vua bàn bạc với các Quan đại thần. Ngoài việc giúp
vua về chính trị, bà Từ Dụ còn trôn gnom sắp đặt những việc trong cung với tư
các một nữ quan cao cấp. Bà rất nhân từ đối với các Phi tần dưới quyền, không
bao giờ ganh tỵ hay đố kỵ, thương yêu con của các Phi tần khác như chính con
của bà, nên vua Thiệu trị thường ban lời khen ngợi.
Như vậy, trong 8 bà Hoàng hậu đất Nam bộ làm dâu Triều Nguyễn thì có 2 bà
được người ta nhắc đến nhiều nhất và trong sách, sử... cũng ca ngợi tánh nết
đoan trang, nhân từ với mọi người, không phân biệt sang giàu và chính kiến. Đó
là bà Từ Dụ tức Bác Huệ Thái Hoàng hậu vợ vua Thiệu Trị. Và bà Nam Phương
https://thuviensach.vn
Hoàng hậu, tức Nguyễn Hữu Thị Lan, vợ vua Bảo Đại. Cả hai bà Hoàng hậu Từ
Dụ và Nam Phương đều nguyên quán đất Gò Công-Nam Bộ.
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-2Đất Gò Công: “Địa linh nhân kiệt”
Nói hay viết đến chữ “Địa Linh Nhân Kiệt” không phải là việc mê tín nhảm nhí,
mà từ xưa đến nay các tác giả viết về địa lý như Tả Ao đã nói về phong thủy,
chỗ này đất tốt, chỗ kia đất xấu... đều gần như đúng, và nay nhiều tác giả viết và
nghiên cứu về tư liệu Phong thổ ( phong thủy ) để nhiều người nghiên cứu và áp
dụng. Nhưng đúng hay sai cũng còn tùy ở con người tốt hay xấu. Ở đây chúng
tôi chỉ căn cứ trong bộ Hoàng Việt địa dư chí đời vua Minh mạng thứ 14 năm
1883, và cuốn Cours d'Histoire Annamite của họa giả Trương Vĩnh Ký viết và
in năm 1877. Hai tác phẩm giá trị trên đến nay nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn
phải dùng tới.
Ở đây chúng tôi nói về địa dánh Gò Công, nơi đã sản sinh ra những nhân vật nổi
danh cả về đức và tài đã được nhiều sử sách nhắc đến.
Từ xưa đất Gò Công trong bộ Đại Nam quốc sử của cụ Phan Thanh Giản đã
được viết và đánh giá là “Địa Linh Nhân Kiệt”, căn cứ vào địa lý và nhân văn đã
có hai giả thuyết định nghĩa chữ Gò Công.
- Giả thuyết thứ nhất : Gò Công xưa là phần đất của xứ Phù Nam, khi Chúa
Hiền tức Nguyễn Phúc Tần, đinh cuộc di dân Nam tiến, người Việt mới dời vào
đây để định cư. Khi đó Gò Công còn là đất rừng, chưa có ai tới cư ngụ. Nơi này
có một cái gò cao, có nhiều giống chim công trú ở nên người ta gọi ngay là Gò
Công. Và trong sử đã ghi chép về danh từ địa phương là : khi vua Minh Mạng ra
lệnh cho các quan địa phương đổi tên nôm na các tỉnh thành chữ Nho cho nho
nhã, thì “Gò Công” đã biến thành “Khổng Tước Nguyên”, cũng như Đồng Nai
thì đổi là “Lộc Dã”, còn Bến Tre thì đổi là “Trúc Giang”, và Sóc Trăng đổi là
“Nguyệt Giang” ( tức Sông Trăng )...
- Giả thuyết thứ hai : Người ta kể lại, ở xứ này trước đây có một người phụ nữ
tên là Thị Công, đến lập quán bán thức ăn cho dân khai thác đồn điền. Lâu dần,
nhận thấy Gò Công là đất dễ sinh nhau nên dân chúng các nơi hội tụ về đây
https://thuviensach.vn
khẩn hoang từng lập rẫy, lập làng. Số người đến đây mỗi ngày một tăng, từ đó
dân địa phương quen miệng nên gọi là quán Bà Công, hay Gò Bà Công. Rồi lâu
ngày dân đã bỏ chữ bà đi mà gọi tắt là Gò Công. Và danh từ địa phương Gò
Công đã tồn tại từ đó đến nay.
Đất Gò Công từ ngàn xưa đã sản sinh ra những nhân tài như Phạm Đăng Hưng,
như Trương Công Định chống Pháp thời vua Tự Đức, khi tại thế được vua Tự
Đức phong Đại Nam Bình Tây Đại tướng quân Trương Công Định. Những dòng
chữ này đã được khắc trên bia mộ của Công Định tại Gò Công.
Khi thực dân Pháp thống trị đất Nam bộ, họ đã bầm nát hàng chữ trên và còn
phạt vạ bà Trần Thị Sanh, là người quả phụ của Trương Công Định 10 ngàn
đồng vì người Pháp nêu lý do Trương Công Định tạo ra cuộc phiến loạn chống
người Pháp.
Đến đời vua Bảo Đại đã phong tước Trương Công Định là: “Đại Nam, Phấn
dõng Đại tướng quân truy tặng Ngũ Quân quận công”, cho phép tu sửa lại phần
mộ họ Trương trang trọng hơn trước, và năm 1955, ông Nguyễn Huỳnh Mai
phụng đề hai câu đối liễn ở mộ bia như sau:
Mặt trước: “Trương chí quật cường, võ liệt nêu cao đất Việt - Định tâm kháng
chiến, văn mờ chói rạng trời Nam.”
Mặt sau: “Huyện Tân Hòa, khẳng khái Cần Vương, tờ chiếu ngọc - Làng Gia
Thuận, thung dung tựu nghĩa, chiếc gươm vàng”.
Hàng năm, cứ vào ngày 18 tháng 7 Âm lịch có nhiều người tới thắp nhang viếng
mộ họ Trương.
Tại Gò Công còn có đền thờ Võ Quốc Công tức Võ Tánh. Miếu nay đặt tại Gò
Tre, nơi Võ Tánh dựng cờ tụ nghĩa chiêu tập quân lính giúp Nguyễn Ánh đánh
quân Tây Sơn. Sau đó Võ Tánh ra Bình Định để tiếp tục giúp nhà Nguyễn đánh
quân Tây Sơn và Võ Tánh đã tạ thế tại đây.
Nơi nguyên quán Võ Tánh là Gò Công, ấp Gò Tre có hai câu đối ghi công ơn họ
Võ như sau:
“Khổng Tước kỳ, khẳng khái Cần vương, tam hùng thủ liệt.
Bàn Sà địa, thung dung tựu nghĩa, nhứt biến Trung hưng”.
Đi theo Võ Tánh để phò vua Nhà Nguyễn còn có ông Nguyễn Văn Hiểu. Ông là
một người có tài, có đức, cương trực, và liêm khiết, đã có công lớn đối với vua
https://thuviensach.vn
Gia Long. Ông được cử ra làm trấn thủ Sơn Nam hạ ( tức tỉnh Nam Định ). Làm
quan tới đời vua Minh mạng thứ 13, và được thăng Thự Tả quân Đô thống phủ
Chương phủ sự. Khi ông tạ thế, vua Minh Mạng phong Lương năng bá. Con trai
của ông Nguyễn Văn Hiểu là Nguyễn Văn Túc, có vợ là công chua Chương Gia.
Ông Túc được phong Phò mã Đô úy.
Thế kỷ 19-20, đất Gò Công đã nảy sinh ra những nhân vật học giỏi, giữ nhiều
chức vụ cao và nổi danh. Như ông Lê Quang Liêm tự Bẩy Liêm hay Phủ Liêm.
Ông Nguyễn Minh Chiếu, người gốc Gò Công, cũng là người nổi danh. Tiếp sau
là Luật sư Vương Quang Nhường, nhà văn Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn
Trung làm tới chức Đốc phủ sứ. Ngoài giờ làm công chức, cụ Hồ Biểu Chánh
còn viết tiểu thuyết, làm thơ và làm báo. Cụ Hồ Biểu Chánh để lại 44 tác phẩm
truyện dài, truyện ngắn rất giá trị. Hiện nay các nhà làm phim đang lấy những
tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, như Nợ đời, Trọn nghĩa vẹn tình... để làm các
phim truyện.
Về tôn giáo có Giám mục Nguyễn Bá Tòng, là vị giám mục tiên khởi của hàng
giáo phẩm Việt Nam. Giám mục Nguyễn Bá Tòng cũng là vị giám mục đạo đức
và lỗi lạc của giáo hội Công giáo Việt Nam 1932 - 1949.
Những vị mà chúng tôi nhắc đến trên đều là giới nam. Còn giới nữ, gốc Gò
Công cũng nổi danh, mà lại nổi danh tột đỉnh triều đình nhà Nguyễn là bà Phạm
Thị Hằng, con gái ông Phạm Đăng Hưng đã trở thành nàng dâu nhà Nguyễn tức
là bà Từ Dụ, được phong Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, vợ của vua Thiệu Trị,
là mẹ vua Tự Đức. Và bà thứ hai là Nguyễn Hữu Thị Lan, con gái ông Nguyễn
Hữu Hào, làm vợ vua Bảo Đại, được phong Nam Phương Hoàng hậu.
Hai bà Hoàng hậu triều Nguyễn gốc Gò Công đều được người đời tôn kính là
bậc mẫu nghi vì đạo đức, tài giỏi và thương dân, thương nước.
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phương Hoàng hậu cuối cùng Triều Nguyễn
-3“Tam cung Lục viện”
Nước ta, kể từ triều Nguyễn Gia Long các vua vì theo phong tục của Trung Hoa
nên vua nào cũng có một bà vợ chính thức được gọi là Nhất giai phi, chỉ khi
chết mới được tôn là Hoàng hậu, ngoài ra còn chọn nhiều Phi tần, Cung nữ
tuyển vào cung để làm vợ thứ. Nhưng kể từ Gia Long lên ngôn Hoàng đế thì
chức Hoàng hậu bị bãi bỏ vì nhà vua sợ các bà hoàng lộng quyền chiếm đoạt
ngôi vua. Vì vậy, Gia Long đã đặt ra “Tứ bất lập”, theo thứ tự như sau:
- Bất lập Hoàng hậu ( Không lập Hoàng hậu ).
- Bất lập Đông cung ( Không lập Thái tử ).
- Bất lập Tể tướng ( Không đặt chức Tể tướng ).
- Bất lập Trạng nguyên ( Không lấy ai đậu Trạng nguyên ).
Sau đó chia ra làm “Cửu giai” và theo thứ tự các bà vợ từ đầu đến cuối như sau:
- Nhất giai phi.
- Nhị giai phi.
- Tam giai tân.
- Tứ giai tân.
- Ngũ giai Tiệp dư.
- Thất giai Thục nhân.
- Bát giai Mỹ nhân.
- Cửu giai Tài nhân.
Việc sắp xếp trên cũng như các cấp bậc quan lại được chia ra thứ tự gồm “Cửu
phẩm”. Như vậy bà nào đứng đầu trong “Cửu giai” thì được gọi là Hoàng Quý
phi. Lệ này được duy trì tới 12 đời vua triều Nguyễn, và tới Bảo Đại là vị vua
thứ 13 mới cho lập lại chức Hoàng hậu.
Cũng vì sợ Phi tần, Cung nữ trong Hoàng cung quá đông nên nhà vua đã cho
https://thuviensach.vn
lệnh xây cất “Tam cung” và “Lục viện” cho mỗi bà ở một phòng riêng mới đủ
chỗ.
Ở Tam cung lại chia ra làm 3 cung:
Cung Diên Thọ, là nơi dành cho các bà Hoàng Thái hậu, Thái Thái hậu là các bà
vợ của các vua đã băng hà ( tạ thế ), và có các viên Thái giám ở đó nữa.Cung
Trường Sanh dành cho các bà vợ vua đang tại ngôi, như các bà Lệ Thiên, vợ của
vua Tự Đức, và bà Từ Minh, vợ của vua Dục Đức cũng đã từng ở nơi này.Cung
Khôn Thái được thiết lập ở gần điện Cần Thánh chỗ vua ở. Cung này dành riêng
cho các bà Hoàng Quý phi. Trong cung này có một điện tên là Cao Minh Trung
Chính, điện này lập vào năm Gia Long thứ ba. Ở phía đông của điện Cao Minh
Trung Chính có một nhà hát để nội cung hát riêng cho vua xem và gọi là Viện
Tịnh quan. Còn Lục viện gồm có 6 viện là:
Viện Thuận Huy, nằm ở giữa điện Cần Thánh và điện Cao Minh Trung Chính. Ở
phía tây viện Thuận Huy lại có:Viện Đoan Thuận.Viện Đoan Hòa.Viện Đoan
Huy.Viện Đoan Trường.Viện Đoan Trang. Ngoài Cung Diên Thọ ra, những cung
và viện kể trên là chỗ dành cho các cung phi, mỹ nữ vợ của những vua đang trị
vì, và đều nằm ở cả trong Tử Cấm thành. Nơi này ngoài vua ra, chỉ có các Thái
giám được lui tới thôi, các đàn ông khác không được phép bén mảng tới nơi này.
Những Phi tần, Cung nữ đều được tuyển chọn trong những gia đình các cô con
gái của các quan Đại thần, ngoài ra cũng có khi chọn trong hàng con thường dân
nhưng phải có sắc đẹp đặc biệt và nhất là phải có đức hạnh đoan trang.
Lúc mới được tuyển vào cung, các cô gái này được đứa đến ở Đoan Trang viện
để học tập cách ăn mặc, đi đứng và các nghi lễ trong cung. Một khi đã được tiến
vào cung, những Phi tần, Cung nữ này không được phép gặp mặt bất cư ai bên
ngoài nữa kể cả cha mẹ anh chị em. Cũng có trường hợp đặc biệt hiếm lắm nhà
vua mới cho phép cha mẹ vào Nội cung để thăm con, nhưng chỉ được nói
chuyện với con qua một bức màn sáo che không thấy mặt con. Người nào có
con được tiến vào cung là coi như mất con vì ít khi nào được gặp lại mặt con
nữa.
https://thuviensach.vn
Trong “Tam cung Lục viện” có các thị nữ ( hay nữ tỳ cũng vậy ) để hầu hạ các
Phi tần. Còn nhiệm vụ của các Thái giám là trông nom và săn sóc cho các Phi
tần. Vì Thái giám có nhiệm vụ kiểm tra các hành động của Phi tần và mỗi lần
vưa ngự đến “ngự dâm” với các bà nào thì viên Thái giám phải ghi chép giờ,
ngày tháng cho đúng xem bà nào có thai trước, đẻ con trai hay con gái.
Những viên Thái giám cũng được chia ra làm hai loại. Một loại là “Giám sanh”,
tức trời sanh ra ngay khi lọt lòng đã phi nam phi nữ, nghĩa là không có hộ “sinh
dục nam” hay “sinh dục nữ”. Và loại thứ hai là “Giám lặt” là bị thiến mất “của
quý”.
Theo cụ Hoàng Trọng Thược cho biết thì xưa tại làng nào có “Giám sinh” ra đời
thì cha mẹ phải đi trình làng để các cơ quan hữu trách trình lên Bộ và Bộ sẽ cho
nuôi nấng và dạy dỗ đứa trẻ theo nghi lễ trong cung để khi lớn lên thì đưa vào
Nội cung làm Thái giám. Những đứa trẻ này người ta thường gọi là ông “Bộ”.
Thông lệ, thời xưa làng, xã nào sinh sản được ông “Bộ”, lớn lên được tuyển vào
cung sẽ được nhà vua ký sắc cho miễn thuế ba năm.
Còn các Phi tần, Cung nữ thì sao? Ở trong cung có hàng chục, có khi hàng trăm
cô để hầu hạ chăn gối cho vua. Nhưng sức người có hạn, làm sao vua ban ân
sủng hết được, bởi vậy có nhiều cô từ khi được “tiến” vào cung, cho tới khi vua
băng hà vẫn chưa một lần được vua lâm hạnh, và kết quả cô này vẫn còn trinh.
Cũng theo cụ Hoàng Trọng Thược, thì mỗi khi vua giá lâm đến Tam cung Lục
viện để “ngự dâm” thì thường dừng xe do một con dê đực kéo, hễ dê dừng ở của
phòng nào thì vua “ngự dâm” ở phòng đó. Bởi vậy, các Phi tần, Cung nữ thường
hay nhờ các chị thị nữ mua các thứ cỏ non hay lá dâu, lá sấu đâu... rồi đem rắc ở
trước của phòng khi vua ngồi trên xe dê giá lâm, dê thấy cỏ non, lá sâu, lá sầu
đâu... thì dừng lại ăn. Cho nên trong tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” của tác
giả Ôn Như Hầu đã có câu :
https://thuviensach.vn
“Phải duyên hương lửa cùng nhau,
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.”
Vậy vua Gia Long có bao nhiêu vợ? Và bao nhiêu con?
Theo chính sử viết, vua Gia Long có 3 bà vợ được gọi là đệ nhất phi, đệ nhị phi,
đệ tam phi. Ngoài 3 bà phi này còn có 6 bà phi nữa nhưng không thấy tư liệu
nào nhắc đến.
Ba bà phi chính thức được xếp thứ tự như sau:
Bà Quế phi ( Đệ nhất phi ) tên là Tống Thị Lan, tức Thừa Thiên Cao Hoàng hậu,
con ông Chưởng dinh Tống Phước Khuông, người huyện Tông Sơn, Thanh Hóa
- đã vào Nam theo Chúa Nguyễn Phúc Chu để chống nhà Tây Sơn. Bà họ Tống,
sinh được ba người con là Nguyễn Phúc Cảnh ( tức Hoàng tử Cảnh ), người thứ
nhì là Nguyễn Phúc Hy, tạ thế 1801, người thứ ba là Nguyễn Phúc Tuấn, đã tạ
thế trước Cảnh và Hy. Chỉ có Nguyễn Phúc Cảnh được gọi là Hoàng tử. Năm 4
tuổi Cảnh được Gia Long cho theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp để cầu viện
nước Pháp giúp khí giới và quân đội đánh nhà Tây Sơn. Theo một số tư liệu thì
Hoàng tử Cảnh và hai em trai đã được Giám mục Bá Đa Lộc khuyên rửa tội
theo đạo Công giáo, Hoàng tử Cảnh ở Pháp một năm rồi trở về.
Hoàng tử Cảnh có vợ là Tống Thị Quyên, sanh được hai con trai. Người thứ
nhất là Nguyễn Phúc Mỹ Đường, cũng có tên là Đán - Hoàng Tôn Đán được
phong tước Ứng hòa công. Người con thứ hai, là Nguyễn Phúc Mỹ Thụy ( còn
có tên là Mỹ Hòa ) hay Kính, được phong tước Thái Định công. Năm 1824,
không biết phạm tội gì, Mỹ Đường bị lột hết tước, phải nộp ấn thư, rồi bị giáng
xuống làm thứ dân. Mỹ Đường có một người con là Nguyễn Phúc Lê Chung,
sau được vua Tự Đức phong Cảnh Hòa Quận công.
Sau này người ta đọc được bài phiên hệ thi : Mỹ-Duệ-Tăng-Cường-Tráng, LiênHuy-Phát-Bôi-Hương... Những con cháu của Hoàng tử Cảnh sau này, năm đời
còn lại là ông Nguyễn Phúc Hồng Dân ( 1882 - 1951 ), là cháu năm đời của
Hoàng tử Cảnh. Đã mang tước Kỳ ngoại hầu Cường Để. Ông Cường Để trốn
sang Nhật Bản lập Việt Nam Quang Phục Hội do ông làm Hội chủ để chống
https://thuviensach.vn
Pháp cai trị Việt Nam. Con của Cường Để là ông Tráng Liệt, và cháu là Liên
Bảo. Như vậy, cháu, chắt dòng Hoàng tử Cảnh hiện nay hãy còn rải rác khắp
nơi.
Bà Minh phi ( Đệ nhị phi ) họ Trần Thị Đang, tức Thuận Thiên Cao Hoàng hậu,
là mẹ của vua Minh Mạng. Bà họ Trần là con gái của ông Tham tri Bộ Lễ Trần
Hưng Đạt, quê ở Vạn Xá ( Thừa Thiên ). Nguyên bà họ Trần trước là người hầu
của mẹ vua Gia Long, rồi cùng ra Quảng Trị ẩn náu ở làng An Đô, gần cửa
Tùng. Đến khi vào Nam đã được tuyển làm vợ Nguyễn Ánh ( Gia Long ), khi
mới 13 tuổi.Bà Lê Thị Ngọc Bình ( Đệ tam phi ), gọi là Đức phi hay Thần phi
cũng vậy. Bà Ngọc Bình là con út của vua Lê Hiển Tông. Khi nhà Tây Sơn thất
bại, vua Quang Trung tại thế để lại bà Ngọc Hân Công chúa ở lại kinh thành với
người em gái là Ngọc Bình ( vợ vua Quang Toản - tức Cảnh Thịnh, con của
Nguyễn Huệ ). Theo ngoại sử, lúc đó Gia Long có gạ gẫm và ép duyên bắt Ngọc
Hân phải lấy ông. Nhưng đã bị Ngọc Hân cự tuyệt. Còn Ngọc Bình thì lúc đầu
cũng không bằng lòng, nhưng sau cũng xuôi lòng và chấp nhận lấy Gia Long
làm thứ phi. Bà Ngọc Bình đã sinh được hai người con trai với Gia Long tên là
Quảng Oai công, và Thường Tín Quận công. Cũng vì sự trớ trêu trên mà dân
gian sau này ở Huế đã có câu nói:
“Số đâu có số lạ làng,
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.”
Đến đây, chúng ta cũng nên biết trong 9 đời chúa, và 13 đời vua Nguyễn, có vị
chào đời ở đất Nam bộ xưa, có vị lâu ngày ở đất Nam bộ và tạ thế tại đây.
Vị Hoàng tử đầu tiên là Nguyễn Phúc Đảm ( Đởm ) tức vua Minh Mạng sinh
năm 1791 tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, xứ nam bộ.
Còn ông vua sống lâu ngày nhất ở Nam bộ là Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia
Long, kể từ năm 1775 đến đầu thế kỉ XIX mới trở về Huế, tức là 25 năm sống ở
Nam bộ và xê dịch nhiều tỉnh, ông còn lặn lội sang Xiêm để cầu viện. Nguyễn
Ánh cũng là ông vua xuất ngoại đầu tiên.
https://thuviensach.vn
Chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần ( 1765 - 1777 ), là vị Chúa thứ chín, đã
bị quân Tây Sơn bắt được ở tỉnh Long Xuyên và đem về Sài Gòn hạ sát vào năm
1777.
Đến cuối triều Nguyễn là vua Bảo Đại và bà Nam Phương Hoàng hậu thì cả hai
đều tạ thế tại ngoại quốc, sau khi vua Bảo Đại bị truất phế khỏi ngôi Hoàng đế
triều Nguyễn phong kiến khi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân
dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng lên đánh đổ chế
độ thực dân Pháp đang cai trị nước ta do Bảo Đại làm vua bù nhìn của chế độ
thực dân Pháp.
https://thuviensach.vn
Lý Nhân - Phan Thứ Lang
Nam Phư...
 





