Mot vung dat lua tap ky

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:25' 20-08-2025
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:25' 20-08-2025
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN
TS. VÕ VĂN BÉ
Biên tập nội dung:
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Sửa bản in:
Đọc sách mẫu:
LÊ HỒNG SƠN
HÀ LAN
HOÀNG MINH TÁM
PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT
PHẠM DIỆU THU
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Thị Thúy Liên
Một vùng đất lửa : Tập ký / Nguyễn Thị Thuý Liên. - H. :
Chính trị Quốc gia, 2022. - 156 tr. ; 19 cm
ISBN 978-604-57-7718-3
1. Văn học hiện đại 2. Kí 3. Việt Nam
895.9228403 - dc23
CTM0526p-CIP
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
T
rong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quảng Trị
được xem là “cửa ngõ” phía nam của miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, là “tiêu điểm” của cuộc kháng chiến, là đòn gánh
gánh nghĩa tình ở hai đầu đất nước, là “túi bom”, “đất lửa”
của Khu IV anh hùng. Gánh trên mình những vết thương
chồng chất, với những hy sinh, mất mát lớn lao, song mảnh
đất, con người nơi đây vẫn lạc quan, tin tưởng vào Đảng,
vào Bác Hồ, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.
Với tấm lòng yêu nước, quyết tâm giết giặc, bảo vệ quê
hương, đất nước, họ đã đứng lên, kiên cường chống giặc
ngoại xâm, hy sinh anh dũng vì sự nghiệp giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước. Quân và dân Quảng Trị đã
chung sức một lòng đánh giặc trên mọi trận tuyến. Trong
những tấm gương chiến đấu kiên cường, anh dũng trên mọi
mặt trận, không thể không nhắc đến nữ chiến sĩ Nguyễn
Thị Thúy Liên - người con Quảng Trị, người cán bộ binh
địch vận xuất sắc đã có nhiều cống hiến trong sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.
5
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng
Trị (1/5/1972 - 1/5/2022), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Sự thật xuất bản cuốn tập ký Một vùng đất lửa của nữ
chiến sĩ Nguyễn Thị Thúy Liên. Cuốn sách tập hợp những
mẩu chuyện kể về quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi,
phong phú của bà trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước.
Cuốn sách giúp cho bạn đọc có thể hình dung một cách
sinh động những năm tháng chiến tranh ác liệt trên địa
bàn tỉnh Quảng Trị, đồng thời cũng cảm nhận sâu sắc được
những đau thương, hy sinh, mất mát của biết bao người
con đã ngã xuống vì độc lập, tự do, vì hòa bình, thống nhất
đất nước.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 4 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
CHIẾC KHĂN TẶNG ĐẢNG
T
ôi không nhớ hôm ấy thuộc vào ngày nào, chỉ nhớ
tháng 2/1960. Tối ấy trời lạnh, trăng lưỡi liềm đầu
tháng, chỉ mờ ảo đủ soi bước chân cho những người đi đêm.
Tôi đề phòng cẩn mật, phía tây đường cái do cậu tôi
“chốt”, phía đông thì đứa em trai con chú tôi, các nhà hàng
xóm, mẹ và chị tôi quan sát. Tôi yên tâm nhắc đi nhắc lại
“mật khẩu” tín hiệu để đi đón chú Hiền, công an tỉnh và
một “ông khách quý”. Lòng dạ bồn chồn, hồi hộp trông
mau đến giờ hẹn để được gặp mặt “ông khách” chưa biết
tên biết mặt mà chú Hiền báo qua hộp thư mật hôm trước.
Tôi đoán lần này gặp được người này thì chắc có tình hình
mới, còn các đồng chí trực tiếp công tác thường xuyên lúc
nào cũng chỉ góp ý, giao nhiệm vụ rồi gùi gạo thực phẩm
đi gấp, ít khi được nghe tình hình hấp dẫn gì cả.
Nhận ra tín hiệu, song thấy chú Hiền cười, chú cầm
tay tôi lắc mạnh, kéo ngồi xuống và chỉ về người “khách
quý” giới thiệu đây là chú Công (Trương Công Kỉnh) - Bí
thư Tỉnh ủy - nắm tay tôi ngồi nhích lại gần nói bằng
“tiếng hơi” rất khẽ:
- Lâu nay biết cháu qua chú Hiền giới thiệu, nay gặp
cháu, lại ngồi trong bụi chuối ban đêm không thấy mặt,
7
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
thôi chịu khó, nay mai thống nhất, độc lập chú cháu ta
ngồi trong khách sạn cao tầng - Chú cười khúc khích rất
lạc quan, rồi nghiêm trang nói tiếp - Tình hình địch hiện
nay cố đánh bật cơ sở Đảng Thành “vùng trắng”. Cháu
cố tìm nhân tố mới trong cơ sở nòng cốt để phát triển
Đảng, bám sâu trong quần chúng, người này vào tù bị
địch bắt, thì có người khác tiếp tục lãnh đạo quần chúng
đấu tranh. người này ngã xuống có người khác đứng lên.
Thời gian không cho phép, chú chỉ vắn tắt ý chính, đây là
“Nghị quyết” của Đảng. Báo tin cháu biết năm nay Đại
hội Trung ương Đảng lần thứ ba tại Hà Nội. Cháu tuyên
truyền rỉ tai cho quần chúng trung kiên biết để có ý thức
với ngày lịch sử trọng đại này, củng cố lòng tin để đấu
tranh thống nhất. Cháu chuẩn bị quà để tặng Đại hội
Đảng, dù khó khăn mấy chú cũng chuyển ra Bắc được.
Bắt tay từ giã hai chú, tôi trao một gói cơm và thức
ăn để hai chú ăn tối, rồi chạy nhanh vào nhà, trong lòng
vui không sao ngủ được. Cố nhớ để tìm vật gì tặng Đại
hội mà có ý nghĩa.
Tôi quyết định thêu khăn! Nhưng chưa tìm ra mẫu
gì cho có ý nghĩa, thì cách hai ngày sau cảnh sát Diệm ập
vào nhà chở tôi lên xe đưa về quận giam rồi tra tấn. Tôi
biết chúng chỉ nghi, nhưng không có căn cứ gì nên chúng
đổ nước xà phòng, đâm đinh mười đầu ngón tay, bắt quỳ
trên mảnh chai v.v., đủ mọi cực hình tra tấn, nhưng tôi
8
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên, phóng viên Báo Quyết Thắng,
ảnh chụp tại Khu ủy Trị Thiên Huế năm Mậu Thân 1968
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên, phóng viên chiến trường
tại Gio Linh, Quảng Trị năm 1972
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
cương quyết không nhận, vẫn tờ cung “trắng”. Chúng lại
đưa tôi về giam tại lao Thành Cổ. Lúc này vết thương đã
lành, tôi nhờ đồng chí Mai Chiếm Lương giam ở phòng
nam, vẽ cho tôi một mẫu thêu bằng khăn trắng thêu quả
tim hồng, một cành hoa tím và hai chữ “Niềm tin”.
Thêu xong gói cất cẩn thận, thừa cơ hằng ngày tù đi
“hành dịch” tôi xin trưởng trại nhà lao đi quét dọn ở tỉnh
đường để tìm liên lạc.
Đi về đã năm ngày mà chưa bắt được liên lạc, ngày
thứ sáu tôi xin đi chợ mua thực phẩm cho nhà lao, mua
xong bỏ lên xe ba gác, tôi xin anh lính dẫn tù đi chợ:
- Anh đứng giữ xe cho tôi đi mua mấy đồng thuốc rê
về hút kẻo thèm quá. Tôi biết anh đối xử tốt với tù, nên
tôi không chạy trốn để anh phải liên lụy đâu! - Người
lính gật đầu thông cảm.
Tôi bước nhanh về quán thuốc rê của bà Nguyên là
một cơ sở bí mật tại thị xã Quảng Trị cùng đường dây với
tôi. Tôi đảo mắt xung quanh không có gì khả nghi “bám
đuôi”, liền bấm vào tay bà Nguyên:
- Bán cho tôi vài đồng thuốc rê nhanh lên - Tôi ấn
gói quà nhỏ cho bà Nguyên - “Quà tặng Đại hội Đảng”
chú Hiền chuyển.
Tôi bước nhanh ra khỏi quán đi về phía tên lính để
kéo hàng về nhà lao. Giao hàng xong tôi trở về phòng nữ.
9
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Độ hai tháng sau mẹ tôi xin phép vào thăm, tôi chỉ
được gặp mẹ 20 phút rồi vội vã nhận ít quà gia đình cho.
Mẹ nói khẽ vào tai “Chú Hiền gửi” và dúi vào tay tôi
“điếu thuốc”...!
Từ giã mẹ trở vào nhà lao, cất các thứ rồi tôi lòn
xuống dưới giường nằm sấp lấy điếu thuốc ra bóc đọc:
“Các cô và chú ở nhà vẫn bình thường, được biết cháu
rất ngoan, các cô chú rất mừng, cháu luôn đề phòng chó
dại...! Ở tốt với bạn bè xung quanh...! Quà cháu gửi chú
đã chuyển rồi!”
Tôi nhai và nuốt bức thư để thấm vào lòng những lời
chỉ đạo.
Bây giờ đất nước đã thanh bình thống nhất trên 20
năm, những khách sạn đã mọc cao tầng mà tôi vĩnh viễn
không bao giờ gặp được “ông khách quý”, chú Hiền và các
đồng chí khác cùng đường dây đã ngã xuống cho xanh
màu lúa quê hương.
10
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
CƠN LỐC NĂM ẤY
T
ết Mậu Thân năm 1968, Quân giải phóng đánh
mạnh vào các căn cứ Mỹ - ngụy ở Đông Hà, thị xã
Quảng Trị, Cửa Việt, La Vang, Mỹ Chánh. Địch thất thủ
nặng, co cụm lại. Độ qua tháng hai, tháng ba, Mỹ tăng
cường cho quân ngụy ở Quảng Trị. Chúng rút các sư
đoàn thiện chiến ở miền Nam ra, phản công và chốt dọc
tuyến giáp ranh phía tây đường số 1, lập vành đai trắng
phòng ngự từ xa, cắt đứt đường mạch máu giao lưu từ
căn cứ địa cách mạng về vùng giáp ranh và đồng bằng.
Lúc bấy giờ ở căn cứ cách mạng không gọi tên “Mật - Bì
bảy” như mấy năm trước nữa, mà chuyển giai đoạn gọi
chung chiến trường Quảng Trị là “Mặt trận Bảy”.
Kinh tế lúc này thật khó khăn, lương thực, thực
phẩm mấy năm trước ta tung tiền Sài Gòn vào trong
dân nhờ thu mua gạo, lúa, thực phẩm chuyển lên căn
cứ dự trữ. Mỗi lần như vậy gián điệp ngụy đánh hơi,
“Việt cộng” tung tiền vào miền Nam, là đài Sài Gòn phát
thanh “đề phòng tiền giả”, hoặc chúng tung tin “đổi tiền”
để đối phó với ta.
11
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Lực lượng thanh niên xung phong, hậu cần, ban
kinh tế đêm đêm về thâu lấy gạo đi như đi chợ. Đơn vị
nào về dân lấy được một gùi gạo là phải trả bằng máu
xương. Về xuôi không được phải chuyển hướng đi ngược
lên miền Tây Hướng Hóa, gần đất Lào lấy gạo miền Bắc
chi viện vào trên đường mòn Hồ Chí Minh thuộc Binh
đoàn 559 quản lý. Ở tận vùng gần giáp ranh, ai lấy được
một gùi gạo về thì người đi gùi ăn đi đường đã hết sạch,
vì quá xa.
Có hai đồng chí bộ đội gùi gạo trên binh trạm 46 về
nghỉ trưa tại đỉnh Dốc Miếu để nấu ăn. Ăn xong hai người
móc võng ngủ, hai gùi gạo để dưới hai đầu võng. Lúc bấy
giờ con đường Dốc Miếu là huyết mạch nên số lượng người
đi lại qua đỉnh Dốc Miếu nghỉ trưa đông như họp chợ.
Thấy hai đồng chí bộ đội ngủ yên, nằm gát động, mọi
người đến xem thì phát hiện hai người đã chết cứng từ
lúc nào! Điều đó cũng dễ hiểu nguyên nhân của cái chết!
Vì lâu ngày thiếu cơm, nay mới nhận được gạo ăn quá
chén!... Mọi người thầm lặng phụ nhau mai táng đắp hai
nấm mộ song song bên nhau, rồi tìm giấy tờ trong ba lô
nhờ mấy đồng chí giao liên báo cho đơn vị biết.
Lúc này tôi được các anh em trong cơ quan tuyên
huấn cử đi lên miền Tây tìm gặp chú Thủ - Bí thư Huyện
ủy Hướng Hóa - để xin sắn, xin gạo về cứu đói cho cơ quan.
Với chiếc gậy Trường Sơn, cái gùi vải máp buộc túm,
12
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
khẩu súng ngắn hộ thân, không có giao liên dẫn đường,
cứ ra giữa trục đường cái bám theo các đoàn người, họ
đi thì mình đi theo, tối đâu ngủ đó, không sợ cọp, không
sợ biệt kích, không biết khổ, hoặc gặp bom đạn thân gái
một mình, mà chỉ lo nghĩ nếu chuyến này mà tìm không
ra cơ quan chú Thủ thì không có sắn, gạo đem về cho anh
em cơ quan ăn sẽ đói!
Về mùa mưa, đất Quảng Trị đường lầy lội, hai chân
phải vấn xà cạp mới bước khỏi trơn trợt, nước suối luôn
dâng cao chảy xiết, phải nhờ bộ đội kéo tôi qua suối,
rồi bắt chuyện “ngoại giao” làm quen, cùng đi hái rau
rừng, bẻ măng, nhóm bếp nấu ăn với bộ đội. Ăn xong
đi tiếp đến chiều thấy trời có hơi nắng ấm, thì đã nghe
tiếng phành phạch của mấy chiếc trực thăng trinh sát
xả rocket xuống khói đạn mù trời, chiếc L19 bay vò vò
tìm mục tiêu cho phản lực F105 đến thả bom tọa độ, cây
cối đổ ngửa nghiêng, lá cây, sỏi đá, mảnh bom hòa âm
bay rào rào giữa rừng. Nhiều đoạn mất lối đi phải phát
quang mở lối mới.
Xong làn bom đạn, tốp trực thăng quay đầu bỏ đi.
Tôi đứng dậy phủi đất bụi leo lên dốc tìm ra đường cái
lớn, thấy một anh bộ đội người miền Bắc nhìn tôi tươi
cười, anh đang ngồi trên đống gạo, xung quanh chỗ anh
ngồi còn hôi mùi thuốc bom, một vài đám cỏ tranh đang
cháy, tôi hỏi:
13
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
- Tốp rọ gáo nó quần dữ vậy mà anh không chạy,
ngồi đây để anh ăn đạn à?
Anh cười:
- Anh em chúng tôi ở đây trên đường mòn Hồ Chí
Minh đã quen với mấy thằng “rọ gáo” rồi, ngày nào mà
chúng chẳng đến viếng thăm anh em chúng tôi - Anh
cười híp cả mắt rồi nói tiếp - Chị biết không, một hạt gạo
ở miền Bắc đưa vào được ở đây phải trả bằng máu xương,
mồ hôi, nước mắt. Nhiệm vụ tôi là phải ngồi giữ đống
gạo, có chết thì chết trên đống gạo này. Nếu tôi bỏ đi thì
rủi có ai xấu lợi dụng đến xúc gạo đem vào đồng bào dân
tộc đổi lợn, đổi đài (radio), đổi đồng hồ không người lái
thì tôi sẽ bị kỷ luật (bộ đội thường nói đùa với dân bản
đồng hồ sincô là không người lái)... Đêm qua pháo sáng
máy bay Mỹ thả, phát hiện xe ta vào, nó bắn trúng một
chiếc bị lật, gạo đổ tung toé, tiểu đội tôi được huy động
khiêng vác di chuyển gạo cả đêm. Sáng ngày lo chặt cây
ngụy trang xe, ngụy trang đường mòn, anh em chúng tôi
làm việc như vậy không biết mệt mỏi.
Tôi hỏi:
- Gạo này của Quân giải phóng, nếu cơ quan dân
chính thiếu ăn thì có tiêu chuẩn không?
Anh cười:
- Nếu chị cần bây giờ thì tôi biếu chị một sày (đót
tượng) ăn tạm, còn lâu dài thì chị về lấy giấy cơ quan lên
14
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
binh trạm 46, họ sẽ cấp đầy đủ. Còn số gạo này chúng
tôi vận chuyển vào cho từng cung đoạn bộ đội Đông
Trường Sơn.
Từ giã người lính trẻ vui tính hồn nhiên, anh hùng
dũng cảm tôi rất phục. Tôi men theo con đường nhỏ tìm
đến đơn vị sản xuất của Huyện đội Hướng Hóa, (tôi có bà
chị con dì đang phục vụ ở đây). Tôi trình bày với các đồng
chí nhờ liên lạc xin gặp chú Thủ, Bí thư Huyện ủy, đồng
thời xin được ở lại một tuần để đi tuốt lúa, xin sắn để xát
phơi khô đem về cứu đói cho cơ quan.
Các đồng chí ở đây rất thông cảm nên bảo:
- Chị ở nhà anh em chúng tôi đi nhổ sắn về xát phơi,
nếu không có nắng, đốt củi xông cho mau khô, giã gạo
đem tạm về một ít, lần sau dẫn anh em cơ quan lên gùi
về ăn chứ một mình chị gùi sao đủ đơn vị ăn.
Tôi vui mừng trước kết quả nhỏ ban đầu.
Xong việc tôi trở về cơ quan báo tình hình chuyến
đi, anh chị em rất mừng. Anh Hoán lãnh đạo cơ quan kể
chuyện ở nhà cho tôi nghe: Nhờ chú Hồ Sĩ Thản gọi Ban
Tuyên huấn đến cho nhận hai thùng ngô hạt, nếu không
thì cũng kẹt. Số ngô này Ban Kinh tế Mặt trận 7 thu
mua ở Ba Lòng, thanh niên xung phong mới vận chuyển
vào để cứu đói. Một số đơn vị ở gần biết được đến đưa
mũ vào: “Thưa thủ trưởng cho chúng em mỗi đứa một
mũ về rang ăn, tối nay vác súng cối đi “giã” ở Cồn Tiên,
15
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Dốc Miếu thủ trưởng ạ!”. Toán khác đến lại: “Thưa thủ
trưởng” cho chúng em vài nồ về nấu ăn kẻo đói quá, vác
B40 đi không nổi nữa thủ trưởng ơi! Chú Hồ Sĩ Thản nói
với anh Hoán:
- Đời tao đã qua nhiều năm lãnh đạo, từ huyện đội,
tỉnh đội trong hai cuộc kháng chiến mà chưa bao giờ xúc
động và đau lòng với cấp dưới mình như lúc này. Nay
lãnh đạo một tỉnh mà lại ngồi trên một đống ngô để trực
tiếp phân chia không đủ - Anh Hoán vấn một điếu thuốc
lá to bằng ngón tay châm lửa hút một hơi rồi kể tiếp - Có
một sinh viên Đại học Tổng hợp Văn năm thứ hai, mới
20 tuổi tình nguyện vào Nam đánh Mỹ, mới vào chiến
trường Quảng Trị tham gia chiến dịch Tết Mậu Thân
xong lên căn cứ gặp trận đói “phủ đầu”. Anh ta sợ khủng
khiếp, rồi viết một lá thư để trên tảng đá, lấy viên sỏi
đằn lên: “Kính thưa đồng chí chính trị viên đại đội, em
tên là.... sinh viên tình nguyện vào Nam chiến đấu, có
thử thách một hai trận ban đầu; em không sợ gian khổ
ác liệt bom đạn, song hiện nay gặp cơn đói “phủ đầu”
em không chịu nổi, em xin đào ngũ trở về miền Bắc. Em
không phản bội Đảng, phản bội nhân dân bằng chính trị,
mà chỉ vì em không chịu nổi đói, kính mong thủ trưởng
thông cảm cho em!”.
Hai ngày sau, anh Hoán phân công anh Thu Hoàn,
anh Khâm, chị Thuận và tôi đi lấy sắn ở Hướng Hóa.
16
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
Đi khẩn trương một ngày đường, đến 7 giờ tối thì đến
một bản làng gần sông Trại Cá, gặp trời mưa lũ. Suốt
đêm và mấy ngày sau nước đổ như trút, nước sông lên
cao, phải ở lại 5 ngày. Lúc này chị Thuận và tôi ngày nào
cũng ra rẫy của dân bỏ hoang mót củ chuối, rau lang, ớt
về nấu ăn, thỉnh thoảng dân cho sắn tươi là quý lắm. Ở
đây lâu ngày sợ ở nhà cơ quan đói. Anh Thu Hoàn cho
họp tổ đảng bàn biện pháp vượt sông, hỏi ý kiến anh chị
em trong tổ đảng.
Chị Thuận hăng hái phát biểu:
- Ở đây anh Thu Hoàn bơi giỏi, Thuận hồi trước ở
nhà đi chăn trâu, nhưng sông ở dưới ta nước lặng dễ bơi,
nước ở trên nguồn hỗn quá, nhưng em cũng bơi được.
Cả bốn anh em ra bờ sông Trại Cá, tuy trời nắng
ấm nhưng nước vẫn đục, chảy xiết. Chị Thuận và tôi rủ
nhau đi gội đầu trong khe nước trong hơn. Tôi lấy lược ra
chải tóc cho chị Thuận, cứ vuốt ve mái tóc, khen tóc chị
xanh dài mượt mà. Chị Thuận nói:
- Hai đứa miềng (mình) ở với nhau như ri, rủi có một
đứa chết thì thương lắm Liên hý?!
- Đừng nói dại, mần răng mà chết được! Thôi hai chị
em miềng đi hái lá lốt về chấm muối để ăn với sắn cho dễ
nuốt chị Thuận hè!
Bốn anh em ăn trưa xong, thấy tình thế chưa có gì
lạc quan, đợi đến 3 giờ chiều thì anh Hoàn quyết định:
17
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
- Bây giờ ngủ lại giữa bãi cát trắng này thì đói và
rét băng giá, ta cùng nhau vượt qua sông. Để Hoàn lội
qua trước bên kia sông, thì Thuận bơi thứ 2 đến đợt 3 thì
Khâm và Liên. Liên lấy dây dù cột võng cột vào cổ tay rồi
nằm lên bọc bơi hai chân quẫy mạnh, Khâm lấy một đầu
dây kia buộc vào cổ tay bơi trước kéo Liên sau.
Đã nhất trí rồi vì không có con đường nào khác. Song
trong lòng tôi linh cảm một điều gì đó sẽ xảy ra, nếu nước
đẩy anh Khâm đuối sức, kéo tôi không nổi thì cả hai sẽ
chết đuối!
Anh Thu Hoàn thả bọc bơi chồm ra giữa sông trôi xa
độ 500 mét thì bơi tới bờ được. Tiếng anh Hoàn gọi:
- Thuận ơi! Anh sang được rồi, em bơi sang đi!
Chị Thuận thả bọc bơi xuống sông, nằm duỗi chân,
hai tay túm chặt đầu bọc bơi, nước đẩy chị văng ra khỏi
bọc bơi nhưng hai tay vẫn cầm được đầu dây bọc bơi, chị
chồm lên lặn xuống như con ếch nhảy, được 50 mét chị gọi:
- Anh Hoàn ơi! Tuột bọc bơi, em không đạp được vào
bờ! Răng nó cứ trôi dọc sông anh Hoàn ơi!
Anh Hoàn gọi to:
- Thuận ơi! Cố gắng đạp mạnh vào đây, anh ra đón!
Thuận ơi! Em nghe không?
Tiếng chị Thuận ơi ới và cuối cùng thì không còn
nghe tiếng chị Thuận trả lời nữa! Anh Hoàn ở bên kia
sông hét lên:
18
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
- Khâm! Liên ơi! Thuận trôi rồi, Thuận chìm rồi,
Liên ơi!
Tôi nghe tiếng anh Hoàn ở bên kia gọi chị Thuận
trong nước mắt. Ở bên này sông anh Khâm và tôi vạch
lau lách chạy dọc theo bờ sông gọi chị Thuận. Tôi cứ khóc
hu hu như một đứa trẻ, chân vấp cây rì rì cản đường ngã
lăn giữa đá rồi đứng dậy chạy độ hai cây số. Đến 5 giờ
chiều, nhìn từ bên kia sông anh Hoàn mượn bè tre của
đồng bào dân tộc chèo qua đón tôi và anh Khâm. Lúc này
đói mệt lả người, từ sáng đến giờ trong bụng chỉ có mấy
khúc sắn.
Bỗng tôi nhìn lên vách đá thấy có một cây dâu sây
quả, chín mọng. Tôi hái xuống một mũ, bảo hai anh cứ
ăn nhiều vào, vì dâu có chất vitamin C và đường giúp ta
tăng lực. Chú Thản nói rằng, nếu ai tìm được hạt sót,
hạt dẻ thì càng quý, đem rang ăn thơm như đậu phụng,
lại có chất béo, chất bột nữa. Nhưng tôi nghe đồng bào
dân tộc nói, muốn có nhiều hạt sót, hạt dẻ thì phải gặp
được một đống phân cọp thải ra, ta hốt được nhiều. Vì
cọp khoái ăn hạt sót, hạt dẻ chất đầy cái dạ dày thì cũng
được một thúng hạt, nó nuốt vào chỉ tiêu hóa cái vỏ lụa
bên ngoài, còn vỏ cứng bọc hạt sọ bên trong thì còn y
nguyên. Ta đem về ngâm dưới suối, tẩy rửa trắng phau,
đem nấu chín, hoặc rang ăn bùi lắm.
19
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Chỉ còn lại ba anh em tối nay ở nhờ nhà dân, anh
Thu Hoàn nói tiếng dân tộc Vân Kiều sõi nên dân dễ
thông cảm tiếp thu về cái chết của chị Thuận. Còn tôi
nhớ chị Thuận nên cứ ngồi thút thít khóc mãi. Có lẽ chị
Thuận chết thay tôi, vì khi chuẩn bị bọc bơi, tôi đã linh
cảm nước sẽ cuốn tôi vì sức yếu lại không biết bơi!
Một bà mẹ đến bên tôi xoa đầu an ủi: Ơi Acay ơi!
Thuận cu chít lứ (chết) cũng vì Mỹ - Diệm nó bành (bắn)
khắp nơi, không có cái ăn, Thuận đi tìm cái ăn cho dầu
bầy (anh em) mà cu chít lứ! Nín đi Acay ơi!
Ba anh em quyết định ở lại đây để chờ xác chị Thuận
nổi lên vớt đem mai táng, làm dấu mộ rồi đi tiếp. Khổ
một nỗi dân ở đây còn mê tín, nên họ chỉ cho tôi ở trên
sàn, còn anh Khâm, anh Hoàn ở dưới sàn, họ nói hai anh
này vớt xác chị Thuận nên con ma Thuận nó về theo hai
anh này, miềng sợ con ma hung!
Hằng ngày tôi thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm
với dân. Đến bữa phân chia phần rồi tôi đem xuống dưới
sàn cho hai anh ăn.
Ba anh em đi về chuyến này mất 15 ngày. Mới về đến
cơ quan biết tin anh Hoán đã bị bom tọa độ Mỹ thả, hy
sinh trên đường đi công tác. Số ở nhà thấy vắng mặt chị
Thuận ai cũng hỏi dồn dập. Chỉ trong một tháng mà cơ
quan có hai cái tang...
20
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
Lần đầu tiên cơ quan ăn cơm miền Bắc. Bưng chén
cơm ai cũng rưng rưng nước mắt. Những ngày ăn rau,
ăn cháo thì có đông đủ, nay có được bát cơm tình nghĩa
của miền Bắc đưa vào thì anh Hoán và chị Thuận không
được ăn.
Từ nay cơ quan đã có nguồn gạo binh trạm 46 ở miền
Tây Hướng Hóa là chỗ dựa vững chắc, nên nhìn anh em
có phần thay da đổi thịt.
Khắp các xã Abung, Ango, Húcnghì, Atúc, Tà Rụt,
Trại Cá... có nhiều bộ đội, cán bộ và thanh niên xung
phong đã ngã xuống vĩnh viễn ở lại với núi rừng Quảng
Trị vì cơn “Lốc đói” của năm Mậu Thân (1968) hoặc cơn
sốt ác tính và bom đạn, chất độc Mỹ thả xuống trên
mảnh đất đau thương này.
Mỗi lần xem mục nhắn tìm đồng đội trên truyền
hình, nhắn tìm những đồng chí hy sinh tại mặt trận
Quảng Trị, tôi cảm thấy lòng xót xa, có lẽ các đồng chí
ấy vẫn nằm lặng lẽ ở đâu đó dưới lòng đất các vùng giáp
ranh, miền núi, hay đồng bằng mà chưa ai tìm thấy để
đưa về quy tập tại nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Đây
là một điều đau thương còn dai dẳng đã hơn 20 năm
qua bạn bè, đồng đội vẫn mãi tìm người thân mà chưa
về đủ mặt.
21
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
HẢI DƯƠNG ƠI NHỚ MÃI NHỮNG NGÀY
T
rên rừng xanh, đoàn chúng tôi hành quân từ lúc
5 giờ chiều, đi mãi đến đồi trọc giáp ranh gần xóm
Búng Thượng Nguyên, thì đã 10 giờ đêm. Trong lòng mọi
người háo hức, chuyến này sẽ được ăn Tết Mậu Thân
(1968) với nhân dân ở thị xã Quảng Trị.
Các chú trong đoàn cho dừng lại để bắt liên lạc thì
được tin cánh quân từ Cầu Ga đánh thọc về Tòa Tỉnh
trưởng gặp quân Mỹ - ngụy phục sẵn đánh trả quyết
liệt. Cánh quân từ xã Triệu Thành tiến lên thì gặp lính
áo đen ở thôn Trí Bưu, chúng ném lựu đạn tới tấp làm
quân ta tổn thương. Cánh quân từ Hải Lăng tiến vào đã
chiếm được Đài Phát thanh nhưng chưa bắt liên lạc được
với hai cánh quân kia để phối hợp tác chiến.
Làng Trí Bưu trước đây là căn cứ ngầm của gia đình
họ Ngô, làng này Công giáo toàn tòng nên Ngô Đình Cẩn
chọn lựa đội quân “áo đen” có trang bị vũ khí, có hầm
ngầm, để khi gia đình họ Ngô đến Quảng Trị kinh lý, tối
vào ngủ ở làng Trí Bưu chứ không dám ở tại Tòa Tỉnh
trưởng, sợ không an toàn. Lính áo đen là loại mệnh danh
“chống cộng một trăm phần trăm”.
22
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
Các chú lãnh đạo đi trong đoàn quyết định cho phân
tán đoàn ra nhiều tổ triển khai xuống các xã vùng sâu để
củng cố các vùng mới được giải phóng.
Toán của tôi có chú Minh Tâm, Trưởng ban Tuyên
huấn Tỉnh ủy và một số đồng chí tuyên huấn, báo Thông
tấn xã vượt qua đường số 1, đến xã Hải Dương thì đã
6 giờ sáng, ai nấy mệt mỏi tay chân. Tôi sức yếu lại mang
theo chiếc máy ghi âm nặng khoảng năm cân, chú Tâm
giao nhiệm vụ đón binh lính, sĩ quan rã ngũ bảo họ kêu
gọi đồng nghiệp bỏ súng binh biến quay về với nhân dân.
Thu xong là đưa nhanh cho đài phát thanh phát liền,
nhưng bây giờ tình hình đảo ngược 180o. Ta và địch đang
giằng co quyết liệt, Mỹ cố lấn chiếm lại vùng ta đã giải
phóng, quân ta cố đánh trả để giành lại từng tấc đất, để
bảo vệ nhân dân không cho địch hốt dân đi. Chú Tâm viết
giấy giới thiệu cho tôi đi gặp anh Nguyễn Bá Cầm, cán bộ
tuyên huấn huyện Hải Lăng, để giúp anh Cầm xây dựng
các tổ chức tuyên truyền cho các xã. Lúc này tìm gặp được
cán bộ huyện cũng khó vì “văn phòng” làm việc khi thôn
này mai thôn khác, cuối cùng tôi cũng gặp được Nguyễn
Bá Cầm ở thôn An Nhơn để trao đổi công tác.
Có tiếng súng báo động Mỹ - ngụy đi càn, anh Cầm
và tôi “chạy nổi” ra ngoài truông, nhưng vẫn chưa thấy
dấu hiệu địch càn quét. Tôi hỏi anh Cầm:
- Anh hoạt động lâu năm ở đây không có hầm bí mật
mà “chạy nổi” thế này có ngày “rọ” xúc mất.
23
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Anh Cầm cười:
- Sức đâu mà đào hầm cho nổi, khi ở thôn này mai
ở thôn khác, o có ưa đào thì tối đi đào với du kích thôn.
Tối ấy tôi cầm giấy giới thiệu của anh Cầm đến gặp
thôn trưởng thôn An Nhơn. Bác trưởng thôn gọi hai du
kích, một nam, một nữ đi đào hầm với tôi. Tối ấy, hai
người du kích đào, còn tôi bưng đất đi đổ ra xa, rồi vơ cỏ
tủ lại che dấu đất mới.
Mới bê được vài rổ thì nghe có mùi khét khét, mùi
khói thuốc lá và tiếng xì xào ở ngoài truông. Tôi vội chạy
vào nói khẽ với hai du kích ra nghe, đúng là lính Mỹ
phục kích, hai du kích ngụy trang lại chỗ đào, rồi cầm
tay tôi rút chạy vào thôn.
Nhật ký tuần
Ngày thứ hai
Sáng thứ hai mới tinh mơ đã nghe tiếng trực thăng
bay phành phạch ở trên đầu, xịt pháo hiệu xuống Hải
Dương nhưng chưa thấy đổ quân. Có thể chúng nghi
binh nhưng ai nấy đều sẵn sàng chống càn.
Tôi xin chiếc áo cũ của chị chủ nhà khoác vào, búi
tóc cao, đội chiếc nón lá rách, tay cầm chơm, oi, ra ruộng
bắt vội vài con ốc cho có “vốn” ban đầu - rồi nhảy lên bờ
đến chỗ các cháu chăn bò hòa nhập cùng các cháu, nhìn
lên trời thấy trực thăng quần sát vùng Hải Dương, Hải
Thành, rồi kéo nhau xuống ruộng bắt ốc bỏ vào oi cho tôi,
24
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
tôi cũng xuống ruộng cầm cái chơm đi chụp, chụp cho ra
vẻ “sinh động” tự nhiên.
Ngày này Kỵ binh bay không đổ quân vùng này chỉ
có mấy chiếc rọ gáo (trực thăng) trinh sát quần miết tìm
không thấy mục tiêu gì nên chúng bay thẳng, chỉ có bác
sĩ Quyền, một người phẫu thuật giỏi ở Hà Nội mới vào
phân công phụ trách đội phẫu tiền phương bị “rọ” xúc bay
thẳng ra ngoài hạm đội. Bác sĩ Quyền đi công tác ra ngoài
Hải Khê đã cải trang áo dài đen, đầu khăn đóng, đi dù
đen, trong lưng có khẩu súng ngắn. Trực thăng quần miết
trên đầu gió mạnh lật tung vạt áo dài lên để lộ khẩu súng,
chúng liền hạ thấp, súng đại liên dí thẳng nòng xuống đất
và xúc anh Quyền đi mất. Còn một đồng chí cán bộ địa
phương cải trang bận quần áo tang trắng, đầu bịt khăn
tang, nhưng trong lưng đeo khẩu K54, trực thăng quần
phành phạch gió tung lên để lộ súng cũng bị xúc đi luôn.
Chiều nay anh Chính ở công an đến tìm tôi, thấy tôi
anh rất mừng vì không bị “rọ” xúc, anh bảo em chạy “nổi”
thì phải cải trang cho đạt, đóng kịch thì phải nhập vai!
Ngày thứ ba
Trong xã Hải Dương hiện có gần 100 thương binh
nặng chưa đưa lên căn cứ được vì bọn Mỹ - ngụy “chốt”
dọc vành đai vùng giáp ranh, y tá thiếu, bác sĩ thì bị “rọ”
xúc, thuốc thiếu, các vết thương lâu ngày chưa được thay
băng nên hôi thối, lại ở miết dưới hầm suốt ngày đêm, chỉ
25
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
chờ các mẹ, chị ở thôn nấu nước muối rửa vết thương, vận
động nhân dân góp gạo, nấu mỗi ngày có trăm nắm cơm,
gói trong mảnh dù pháo sáng để phục vụ thương binh.
Sáng nay các chị thiếu người, nên nhờ tôi đưa
thương binh ra giấu ngoài ruộng, rồi dẫn ghe đi dọc kênh
mương. Trên ghe có ba thương binh nằm, trên phủ rơm,
tôi lội dưới nước hai tay đẩy ghe, trên trời thì trực thăng
liệng rà sát, hai tên lính cầm đại liên cứ chăm chăm nhìn
xuống ghe. Tôi ngẩng đầu lên trời cười với chúng để tỏ
ra đây là dân “Quốc gia Sài Gòn” đi gặt lúa. Tôi nhớ còn
chiếc đồng hồ đeo ở tay bất hợp lý, vội lôi ra cầm ở mép
mạn ghe và nói khẽ: “Các đồng chí nằm yên, không thở
mạnh sợ rơm đắp lên người bị rung lên thì nguy”. Hai
chiếc trực thăng lên phía Hải Thành, ghe đi thông suốt
đã ra đến ngoài ruộng sâu.
Thấy giữa từng thửa ruộng có từng ụ đất cao, to
như ngôi mộ tổ. Trong những “ụ đất” ấy đào sâu chứa
đủ bốn người. Đây là hầm nhân dân đắp để cho thương
binh nặng, tôi cảm động với lòng dân bao la như biển cả,
có dân là có tất cả! “Dễ trăm lần không dân cũng chịu,
khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Trưa hôm ấy tôi ăn cơm vắt cùng với ba thương binh,
tôi nói:
- Các đồng chí ở Bắc vào đổ xương máu để bảo vệ
nhân dân miền Nam, ở đâu sống chết đều có nhân dân
che chở đùm bọc. Những ngày này, các mẹ, chị phân công
26
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
nhau từng tổ bảo vệ, chăm sóc thương binh - hầm bí mật
từ trong lòng dân, từ trong lòng đất! Có anh rưng rưng
nước mắt, hôn lên bàn tay tôi nói:
- Con gái Quảng Trị ngoan cường lắm, bọn anh trông
vết thương chóng lành tìm đơn vị chiến đấu cho đến ngày
giải phóng miền Nam.
Ngày thứ tư
Lặng tiếng súng “hòa bình” được một ngày, tôi đi các
thôn tìm gặp anh Bá Cầm để bàn công tác. Gặp tôi, anh
Bá Cầm bắt tay cười:
- Chà mấy ngày này “vạn sự bình an” chứ o? Tình hình
ở lại vùng sâu chưa làm được chi, để tôi bắt liên lạc đường
dây giao liên gửi o về căn cứ kẻo ở đây tổn thất vô ích.
Ngày thứ năm
Lại có tiếng máy bay L19 và phản lực nhào lộn trên
không rồi ném bom ở phía vùng giáp ranh. L19 thì chiêu hồi
“cộng quân” trở về với “quốc gia”. Độ 10 giờ thì Kỵ binh bay
đổ quân càn quét ba mặt: Kim Long, Kim Giao tiến lên
Diên Khánh. Một cánh từ động cát Hải Khê thọc qua thôn
Đồng Dương dọc lên ngoài Bàn Trũng (ven bìa làng).
Tranh thủ lúc sương tan, tôi và anh Tâm ở giáo dục,
em Hồng, du kích thôn, con của bà chủ nhà tôi đang ở, ba
người nhảy xuống ghe nan chống đi. Ra ngoài kênh lạch
sát vạn đò ngã ba sông Vĩnh Định, tôi nhảy lên một chiếc
27
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
thuyền lớn, còn Hồng và Tâm chèo ghe đi lánh ở bờ kênh
giả câu cá. Tôi nhìn trong thuyền của bác chủ đò có treo
cái khăn tang. Tôi nói với bác chủ đò:
- Tôi là cán bộ ở chiến khu về còn lạ đường, bác cho
tôi mượn cái khăn tang chít lên đầu và bồng đứa con nhỏ
này. Nếu Mỹ - ngụy có càn ra vùng sông nước này, nó có
hỏi thì tôi nhận là dâu của bác, chồng tôi đi quân dịch cho
chính quyền Sài Gòn bị chết trận, nếu chúng có hỏi ở hòm
thư nào, thì tôi nói KBC 1312, bác yên tâm và bình tĩnh
là được. Còn khẩu súng ngắn thì bác giấu dưới thuyền.
Bác vội gọi hai đứa nhỏ con bác, lấy nilon bọc khẩu
súng lại, nhét dưới đống chài lưới rách, hai đứa trẻ làm
xong nhiệm vụ vẻ hoan hỉ. Tôi đoán nó nhỏ mà đã góp
vào một việc thiện, chính nghĩa nên rất vui. Suốt sáng
ấy ba đứa nhỏ cứ ngồi quanh tôi, tôi tập cho ba cháu bài
hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng”.
Bác chủ đò thì cắm sào nhìn vào phía Hải Dương để canh
chừng địch có ra vùng sông nước hay không.
Độ một giờ chiều chị vợ của bác đi chợ bán cá về thấy
trong thuyền có “khách lạ”; người chồng kể cho chị vợ
nghe. Chị vui vẻ đi nấu cơm mời tôi ăn, rồi năm giờ chiều
bác tìm ghe chở tôi vào thôn Xuân Viên.
Mới vào đến nhà, thấy bà con lối xóm khóc lóc,
người bị bắt con, bắt chồng đánh đập, người bị mất lợn,
gà. Mấy tên lính thủy quân lục chiến tay lăm lăm súng
dí vào người quát tháo rồi chạy đi...
https://thuviensach.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN
TS. VÕ VĂN BÉ
Biên tập nội dung:
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Sửa bản in:
Đọc sách mẫu:
LÊ HỒNG SƠN
HÀ LAN
HOÀNG MINH TÁM
PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT
PHẠM DIỆU THU
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Thị Thúy Liên
Một vùng đất lửa : Tập ký / Nguyễn Thị Thuý Liên. - H. :
Chính trị Quốc gia, 2022. - 156 tr. ; 19 cm
ISBN 978-604-57-7718-3
1. Văn học hiện đại 2. Kí 3. Việt Nam
895.9228403 - dc23
CTM0526p-CIP
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
T
rong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quảng Trị
được xem là “cửa ngõ” phía nam của miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, là “tiêu điểm” của cuộc kháng chiến, là đòn gánh
gánh nghĩa tình ở hai đầu đất nước, là “túi bom”, “đất lửa”
của Khu IV anh hùng. Gánh trên mình những vết thương
chồng chất, với những hy sinh, mất mát lớn lao, song mảnh
đất, con người nơi đây vẫn lạc quan, tin tưởng vào Đảng,
vào Bác Hồ, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.
Với tấm lòng yêu nước, quyết tâm giết giặc, bảo vệ quê
hương, đất nước, họ đã đứng lên, kiên cường chống giặc
ngoại xâm, hy sinh anh dũng vì sự nghiệp giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước. Quân và dân Quảng Trị đã
chung sức một lòng đánh giặc trên mọi trận tuyến. Trong
những tấm gương chiến đấu kiên cường, anh dũng trên mọi
mặt trận, không thể không nhắc đến nữ chiến sĩ Nguyễn
Thị Thúy Liên - người con Quảng Trị, người cán bộ binh
địch vận xuất sắc đã có nhiều cống hiến trong sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.
5
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng
Trị (1/5/1972 - 1/5/2022), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Sự thật xuất bản cuốn tập ký Một vùng đất lửa của nữ
chiến sĩ Nguyễn Thị Thúy Liên. Cuốn sách tập hợp những
mẩu chuyện kể về quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi,
phong phú của bà trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước.
Cuốn sách giúp cho bạn đọc có thể hình dung một cách
sinh động những năm tháng chiến tranh ác liệt trên địa
bàn tỉnh Quảng Trị, đồng thời cũng cảm nhận sâu sắc được
những đau thương, hy sinh, mất mát của biết bao người
con đã ngã xuống vì độc lập, tự do, vì hòa bình, thống nhất
đất nước.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 4 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
CHIẾC KHĂN TẶNG ĐẢNG
T
ôi không nhớ hôm ấy thuộc vào ngày nào, chỉ nhớ
tháng 2/1960. Tối ấy trời lạnh, trăng lưỡi liềm đầu
tháng, chỉ mờ ảo đủ soi bước chân cho những người đi đêm.
Tôi đề phòng cẩn mật, phía tây đường cái do cậu tôi
“chốt”, phía đông thì đứa em trai con chú tôi, các nhà hàng
xóm, mẹ và chị tôi quan sát. Tôi yên tâm nhắc đi nhắc lại
“mật khẩu” tín hiệu để đi đón chú Hiền, công an tỉnh và
một “ông khách quý”. Lòng dạ bồn chồn, hồi hộp trông
mau đến giờ hẹn để được gặp mặt “ông khách” chưa biết
tên biết mặt mà chú Hiền báo qua hộp thư mật hôm trước.
Tôi đoán lần này gặp được người này thì chắc có tình hình
mới, còn các đồng chí trực tiếp công tác thường xuyên lúc
nào cũng chỉ góp ý, giao nhiệm vụ rồi gùi gạo thực phẩm
đi gấp, ít khi được nghe tình hình hấp dẫn gì cả.
Nhận ra tín hiệu, song thấy chú Hiền cười, chú cầm
tay tôi lắc mạnh, kéo ngồi xuống và chỉ về người “khách
quý” giới thiệu đây là chú Công (Trương Công Kỉnh) - Bí
thư Tỉnh ủy - nắm tay tôi ngồi nhích lại gần nói bằng
“tiếng hơi” rất khẽ:
- Lâu nay biết cháu qua chú Hiền giới thiệu, nay gặp
cháu, lại ngồi trong bụi chuối ban đêm không thấy mặt,
7
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
thôi chịu khó, nay mai thống nhất, độc lập chú cháu ta
ngồi trong khách sạn cao tầng - Chú cười khúc khích rất
lạc quan, rồi nghiêm trang nói tiếp - Tình hình địch hiện
nay cố đánh bật cơ sở Đảng Thành “vùng trắng”. Cháu
cố tìm nhân tố mới trong cơ sở nòng cốt để phát triển
Đảng, bám sâu trong quần chúng, người này vào tù bị
địch bắt, thì có người khác tiếp tục lãnh đạo quần chúng
đấu tranh. người này ngã xuống có người khác đứng lên.
Thời gian không cho phép, chú chỉ vắn tắt ý chính, đây là
“Nghị quyết” của Đảng. Báo tin cháu biết năm nay Đại
hội Trung ương Đảng lần thứ ba tại Hà Nội. Cháu tuyên
truyền rỉ tai cho quần chúng trung kiên biết để có ý thức
với ngày lịch sử trọng đại này, củng cố lòng tin để đấu
tranh thống nhất. Cháu chuẩn bị quà để tặng Đại hội
Đảng, dù khó khăn mấy chú cũng chuyển ra Bắc được.
Bắt tay từ giã hai chú, tôi trao một gói cơm và thức
ăn để hai chú ăn tối, rồi chạy nhanh vào nhà, trong lòng
vui không sao ngủ được. Cố nhớ để tìm vật gì tặng Đại
hội mà có ý nghĩa.
Tôi quyết định thêu khăn! Nhưng chưa tìm ra mẫu
gì cho có ý nghĩa, thì cách hai ngày sau cảnh sát Diệm ập
vào nhà chở tôi lên xe đưa về quận giam rồi tra tấn. Tôi
biết chúng chỉ nghi, nhưng không có căn cứ gì nên chúng
đổ nước xà phòng, đâm đinh mười đầu ngón tay, bắt quỳ
trên mảnh chai v.v., đủ mọi cực hình tra tấn, nhưng tôi
8
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên, phóng viên Báo Quyết Thắng,
ảnh chụp tại Khu ủy Trị Thiên Huế năm Mậu Thân 1968
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên, phóng viên chiến trường
tại Gio Linh, Quảng Trị năm 1972
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
cương quyết không nhận, vẫn tờ cung “trắng”. Chúng lại
đưa tôi về giam tại lao Thành Cổ. Lúc này vết thương đã
lành, tôi nhờ đồng chí Mai Chiếm Lương giam ở phòng
nam, vẽ cho tôi một mẫu thêu bằng khăn trắng thêu quả
tim hồng, một cành hoa tím và hai chữ “Niềm tin”.
Thêu xong gói cất cẩn thận, thừa cơ hằng ngày tù đi
“hành dịch” tôi xin trưởng trại nhà lao đi quét dọn ở tỉnh
đường để tìm liên lạc.
Đi về đã năm ngày mà chưa bắt được liên lạc, ngày
thứ sáu tôi xin đi chợ mua thực phẩm cho nhà lao, mua
xong bỏ lên xe ba gác, tôi xin anh lính dẫn tù đi chợ:
- Anh đứng giữ xe cho tôi đi mua mấy đồng thuốc rê
về hút kẻo thèm quá. Tôi biết anh đối xử tốt với tù, nên
tôi không chạy trốn để anh phải liên lụy đâu! - Người
lính gật đầu thông cảm.
Tôi bước nhanh về quán thuốc rê của bà Nguyên là
một cơ sở bí mật tại thị xã Quảng Trị cùng đường dây với
tôi. Tôi đảo mắt xung quanh không có gì khả nghi “bám
đuôi”, liền bấm vào tay bà Nguyên:
- Bán cho tôi vài đồng thuốc rê nhanh lên - Tôi ấn
gói quà nhỏ cho bà Nguyên - “Quà tặng Đại hội Đảng”
chú Hiền chuyển.
Tôi bước nhanh ra khỏi quán đi về phía tên lính để
kéo hàng về nhà lao. Giao hàng xong tôi trở về phòng nữ.
9
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Độ hai tháng sau mẹ tôi xin phép vào thăm, tôi chỉ
được gặp mẹ 20 phút rồi vội vã nhận ít quà gia đình cho.
Mẹ nói khẽ vào tai “Chú Hiền gửi” và dúi vào tay tôi
“điếu thuốc”...!
Từ giã mẹ trở vào nhà lao, cất các thứ rồi tôi lòn
xuống dưới giường nằm sấp lấy điếu thuốc ra bóc đọc:
“Các cô và chú ở nhà vẫn bình thường, được biết cháu
rất ngoan, các cô chú rất mừng, cháu luôn đề phòng chó
dại...! Ở tốt với bạn bè xung quanh...! Quà cháu gửi chú
đã chuyển rồi!”
Tôi nhai và nuốt bức thư để thấm vào lòng những lời
chỉ đạo.
Bây giờ đất nước đã thanh bình thống nhất trên 20
năm, những khách sạn đã mọc cao tầng mà tôi vĩnh viễn
không bao giờ gặp được “ông khách quý”, chú Hiền và các
đồng chí khác cùng đường dây đã ngã xuống cho xanh
màu lúa quê hương.
10
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
CƠN LỐC NĂM ẤY
T
ết Mậu Thân năm 1968, Quân giải phóng đánh
mạnh vào các căn cứ Mỹ - ngụy ở Đông Hà, thị xã
Quảng Trị, Cửa Việt, La Vang, Mỹ Chánh. Địch thất thủ
nặng, co cụm lại. Độ qua tháng hai, tháng ba, Mỹ tăng
cường cho quân ngụy ở Quảng Trị. Chúng rút các sư
đoàn thiện chiến ở miền Nam ra, phản công và chốt dọc
tuyến giáp ranh phía tây đường số 1, lập vành đai trắng
phòng ngự từ xa, cắt đứt đường mạch máu giao lưu từ
căn cứ địa cách mạng về vùng giáp ranh và đồng bằng.
Lúc bấy giờ ở căn cứ cách mạng không gọi tên “Mật - Bì
bảy” như mấy năm trước nữa, mà chuyển giai đoạn gọi
chung chiến trường Quảng Trị là “Mặt trận Bảy”.
Kinh tế lúc này thật khó khăn, lương thực, thực
phẩm mấy năm trước ta tung tiền Sài Gòn vào trong
dân nhờ thu mua gạo, lúa, thực phẩm chuyển lên căn
cứ dự trữ. Mỗi lần như vậy gián điệp ngụy đánh hơi,
“Việt cộng” tung tiền vào miền Nam, là đài Sài Gòn phát
thanh “đề phòng tiền giả”, hoặc chúng tung tin “đổi tiền”
để đối phó với ta.
11
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Lực lượng thanh niên xung phong, hậu cần, ban
kinh tế đêm đêm về thâu lấy gạo đi như đi chợ. Đơn vị
nào về dân lấy được một gùi gạo là phải trả bằng máu
xương. Về xuôi không được phải chuyển hướng đi ngược
lên miền Tây Hướng Hóa, gần đất Lào lấy gạo miền Bắc
chi viện vào trên đường mòn Hồ Chí Minh thuộc Binh
đoàn 559 quản lý. Ở tận vùng gần giáp ranh, ai lấy được
một gùi gạo về thì người đi gùi ăn đi đường đã hết sạch,
vì quá xa.
Có hai đồng chí bộ đội gùi gạo trên binh trạm 46 về
nghỉ trưa tại đỉnh Dốc Miếu để nấu ăn. Ăn xong hai người
móc võng ngủ, hai gùi gạo để dưới hai đầu võng. Lúc bấy
giờ con đường Dốc Miếu là huyết mạch nên số lượng người
đi lại qua đỉnh Dốc Miếu nghỉ trưa đông như họp chợ.
Thấy hai đồng chí bộ đội ngủ yên, nằm gát động, mọi
người đến xem thì phát hiện hai người đã chết cứng từ
lúc nào! Điều đó cũng dễ hiểu nguyên nhân của cái chết!
Vì lâu ngày thiếu cơm, nay mới nhận được gạo ăn quá
chén!... Mọi người thầm lặng phụ nhau mai táng đắp hai
nấm mộ song song bên nhau, rồi tìm giấy tờ trong ba lô
nhờ mấy đồng chí giao liên báo cho đơn vị biết.
Lúc này tôi được các anh em trong cơ quan tuyên
huấn cử đi lên miền Tây tìm gặp chú Thủ - Bí thư Huyện
ủy Hướng Hóa - để xin sắn, xin gạo về cứu đói cho cơ quan.
Với chiếc gậy Trường Sơn, cái gùi vải máp buộc túm,
12
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
khẩu súng ngắn hộ thân, không có giao liên dẫn đường,
cứ ra giữa trục đường cái bám theo các đoàn người, họ
đi thì mình đi theo, tối đâu ngủ đó, không sợ cọp, không
sợ biệt kích, không biết khổ, hoặc gặp bom đạn thân gái
một mình, mà chỉ lo nghĩ nếu chuyến này mà tìm không
ra cơ quan chú Thủ thì không có sắn, gạo đem về cho anh
em cơ quan ăn sẽ đói!
Về mùa mưa, đất Quảng Trị đường lầy lội, hai chân
phải vấn xà cạp mới bước khỏi trơn trợt, nước suối luôn
dâng cao chảy xiết, phải nhờ bộ đội kéo tôi qua suối,
rồi bắt chuyện “ngoại giao” làm quen, cùng đi hái rau
rừng, bẻ măng, nhóm bếp nấu ăn với bộ đội. Ăn xong
đi tiếp đến chiều thấy trời có hơi nắng ấm, thì đã nghe
tiếng phành phạch của mấy chiếc trực thăng trinh sát
xả rocket xuống khói đạn mù trời, chiếc L19 bay vò vò
tìm mục tiêu cho phản lực F105 đến thả bom tọa độ, cây
cối đổ ngửa nghiêng, lá cây, sỏi đá, mảnh bom hòa âm
bay rào rào giữa rừng. Nhiều đoạn mất lối đi phải phát
quang mở lối mới.
Xong làn bom đạn, tốp trực thăng quay đầu bỏ đi.
Tôi đứng dậy phủi đất bụi leo lên dốc tìm ra đường cái
lớn, thấy một anh bộ đội người miền Bắc nhìn tôi tươi
cười, anh đang ngồi trên đống gạo, xung quanh chỗ anh
ngồi còn hôi mùi thuốc bom, một vài đám cỏ tranh đang
cháy, tôi hỏi:
13
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
- Tốp rọ gáo nó quần dữ vậy mà anh không chạy,
ngồi đây để anh ăn đạn à?
Anh cười:
- Anh em chúng tôi ở đây trên đường mòn Hồ Chí
Minh đã quen với mấy thằng “rọ gáo” rồi, ngày nào mà
chúng chẳng đến viếng thăm anh em chúng tôi - Anh
cười híp cả mắt rồi nói tiếp - Chị biết không, một hạt gạo
ở miền Bắc đưa vào được ở đây phải trả bằng máu xương,
mồ hôi, nước mắt. Nhiệm vụ tôi là phải ngồi giữ đống
gạo, có chết thì chết trên đống gạo này. Nếu tôi bỏ đi thì
rủi có ai xấu lợi dụng đến xúc gạo đem vào đồng bào dân
tộc đổi lợn, đổi đài (radio), đổi đồng hồ không người lái
thì tôi sẽ bị kỷ luật (bộ đội thường nói đùa với dân bản
đồng hồ sincô là không người lái)... Đêm qua pháo sáng
máy bay Mỹ thả, phát hiện xe ta vào, nó bắn trúng một
chiếc bị lật, gạo đổ tung toé, tiểu đội tôi được huy động
khiêng vác di chuyển gạo cả đêm. Sáng ngày lo chặt cây
ngụy trang xe, ngụy trang đường mòn, anh em chúng tôi
làm việc như vậy không biết mệt mỏi.
Tôi hỏi:
- Gạo này của Quân giải phóng, nếu cơ quan dân
chính thiếu ăn thì có tiêu chuẩn không?
Anh cười:
- Nếu chị cần bây giờ thì tôi biếu chị một sày (đót
tượng) ăn tạm, còn lâu dài thì chị về lấy giấy cơ quan lên
14
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
binh trạm 46, họ sẽ cấp đầy đủ. Còn số gạo này chúng
tôi vận chuyển vào cho từng cung đoạn bộ đội Đông
Trường Sơn.
Từ giã người lính trẻ vui tính hồn nhiên, anh hùng
dũng cảm tôi rất phục. Tôi men theo con đường nhỏ tìm
đến đơn vị sản xuất của Huyện đội Hướng Hóa, (tôi có bà
chị con dì đang phục vụ ở đây). Tôi trình bày với các đồng
chí nhờ liên lạc xin gặp chú Thủ, Bí thư Huyện ủy, đồng
thời xin được ở lại một tuần để đi tuốt lúa, xin sắn để xát
phơi khô đem về cứu đói cho cơ quan.
Các đồng chí ở đây rất thông cảm nên bảo:
- Chị ở nhà anh em chúng tôi đi nhổ sắn về xát phơi,
nếu không có nắng, đốt củi xông cho mau khô, giã gạo
đem tạm về một ít, lần sau dẫn anh em cơ quan lên gùi
về ăn chứ một mình chị gùi sao đủ đơn vị ăn.
Tôi vui mừng trước kết quả nhỏ ban đầu.
Xong việc tôi trở về cơ quan báo tình hình chuyến
đi, anh chị em rất mừng. Anh Hoán lãnh đạo cơ quan kể
chuyện ở nhà cho tôi nghe: Nhờ chú Hồ Sĩ Thản gọi Ban
Tuyên huấn đến cho nhận hai thùng ngô hạt, nếu không
thì cũng kẹt. Số ngô này Ban Kinh tế Mặt trận 7 thu
mua ở Ba Lòng, thanh niên xung phong mới vận chuyển
vào để cứu đói. Một số đơn vị ở gần biết được đến đưa
mũ vào: “Thưa thủ trưởng cho chúng em mỗi đứa một
mũ về rang ăn, tối nay vác súng cối đi “giã” ở Cồn Tiên,
15
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Dốc Miếu thủ trưởng ạ!”. Toán khác đến lại: “Thưa thủ
trưởng” cho chúng em vài nồ về nấu ăn kẻo đói quá, vác
B40 đi không nổi nữa thủ trưởng ơi! Chú Hồ Sĩ Thản nói
với anh Hoán:
- Đời tao đã qua nhiều năm lãnh đạo, từ huyện đội,
tỉnh đội trong hai cuộc kháng chiến mà chưa bao giờ xúc
động và đau lòng với cấp dưới mình như lúc này. Nay
lãnh đạo một tỉnh mà lại ngồi trên một đống ngô để trực
tiếp phân chia không đủ - Anh Hoán vấn một điếu thuốc
lá to bằng ngón tay châm lửa hút một hơi rồi kể tiếp - Có
một sinh viên Đại học Tổng hợp Văn năm thứ hai, mới
20 tuổi tình nguyện vào Nam đánh Mỹ, mới vào chiến
trường Quảng Trị tham gia chiến dịch Tết Mậu Thân
xong lên căn cứ gặp trận đói “phủ đầu”. Anh ta sợ khủng
khiếp, rồi viết một lá thư để trên tảng đá, lấy viên sỏi
đằn lên: “Kính thưa đồng chí chính trị viên đại đội, em
tên là.... sinh viên tình nguyện vào Nam chiến đấu, có
thử thách một hai trận ban đầu; em không sợ gian khổ
ác liệt bom đạn, song hiện nay gặp cơn đói “phủ đầu”
em không chịu nổi, em xin đào ngũ trở về miền Bắc. Em
không phản bội Đảng, phản bội nhân dân bằng chính trị,
mà chỉ vì em không chịu nổi đói, kính mong thủ trưởng
thông cảm cho em!”.
Hai ngày sau, anh Hoán phân công anh Thu Hoàn,
anh Khâm, chị Thuận và tôi đi lấy sắn ở Hướng Hóa.
16
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
Đi khẩn trương một ngày đường, đến 7 giờ tối thì đến
một bản làng gần sông Trại Cá, gặp trời mưa lũ. Suốt
đêm và mấy ngày sau nước đổ như trút, nước sông lên
cao, phải ở lại 5 ngày. Lúc này chị Thuận và tôi ngày nào
cũng ra rẫy của dân bỏ hoang mót củ chuối, rau lang, ớt
về nấu ăn, thỉnh thoảng dân cho sắn tươi là quý lắm. Ở
đây lâu ngày sợ ở nhà cơ quan đói. Anh Thu Hoàn cho
họp tổ đảng bàn biện pháp vượt sông, hỏi ý kiến anh chị
em trong tổ đảng.
Chị Thuận hăng hái phát biểu:
- Ở đây anh Thu Hoàn bơi giỏi, Thuận hồi trước ở
nhà đi chăn trâu, nhưng sông ở dưới ta nước lặng dễ bơi,
nước ở trên nguồn hỗn quá, nhưng em cũng bơi được.
Cả bốn anh em ra bờ sông Trại Cá, tuy trời nắng
ấm nhưng nước vẫn đục, chảy xiết. Chị Thuận và tôi rủ
nhau đi gội đầu trong khe nước trong hơn. Tôi lấy lược ra
chải tóc cho chị Thuận, cứ vuốt ve mái tóc, khen tóc chị
xanh dài mượt mà. Chị Thuận nói:
- Hai đứa miềng (mình) ở với nhau như ri, rủi có một
đứa chết thì thương lắm Liên hý?!
- Đừng nói dại, mần răng mà chết được! Thôi hai chị
em miềng đi hái lá lốt về chấm muối để ăn với sắn cho dễ
nuốt chị Thuận hè!
Bốn anh em ăn trưa xong, thấy tình thế chưa có gì
lạc quan, đợi đến 3 giờ chiều thì anh Hoàn quyết định:
17
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
- Bây giờ ngủ lại giữa bãi cát trắng này thì đói và
rét băng giá, ta cùng nhau vượt qua sông. Để Hoàn lội
qua trước bên kia sông, thì Thuận bơi thứ 2 đến đợt 3 thì
Khâm và Liên. Liên lấy dây dù cột võng cột vào cổ tay rồi
nằm lên bọc bơi hai chân quẫy mạnh, Khâm lấy một đầu
dây kia buộc vào cổ tay bơi trước kéo Liên sau.
Đã nhất trí rồi vì không có con đường nào khác. Song
trong lòng tôi linh cảm một điều gì đó sẽ xảy ra, nếu nước
đẩy anh Khâm đuối sức, kéo tôi không nổi thì cả hai sẽ
chết đuối!
Anh Thu Hoàn thả bọc bơi chồm ra giữa sông trôi xa
độ 500 mét thì bơi tới bờ được. Tiếng anh Hoàn gọi:
- Thuận ơi! Anh sang được rồi, em bơi sang đi!
Chị Thuận thả bọc bơi xuống sông, nằm duỗi chân,
hai tay túm chặt đầu bọc bơi, nước đẩy chị văng ra khỏi
bọc bơi nhưng hai tay vẫn cầm được đầu dây bọc bơi, chị
chồm lên lặn xuống như con ếch nhảy, được 50 mét chị gọi:
- Anh Hoàn ơi! Tuột bọc bơi, em không đạp được vào
bờ! Răng nó cứ trôi dọc sông anh Hoàn ơi!
Anh Hoàn gọi to:
- Thuận ơi! Cố gắng đạp mạnh vào đây, anh ra đón!
Thuận ơi! Em nghe không?
Tiếng chị Thuận ơi ới và cuối cùng thì không còn
nghe tiếng chị Thuận trả lời nữa! Anh Hoàn ở bên kia
sông hét lên:
18
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
- Khâm! Liên ơi! Thuận trôi rồi, Thuận chìm rồi,
Liên ơi!
Tôi nghe tiếng anh Hoàn ở bên kia gọi chị Thuận
trong nước mắt. Ở bên này sông anh Khâm và tôi vạch
lau lách chạy dọc theo bờ sông gọi chị Thuận. Tôi cứ khóc
hu hu như một đứa trẻ, chân vấp cây rì rì cản đường ngã
lăn giữa đá rồi đứng dậy chạy độ hai cây số. Đến 5 giờ
chiều, nhìn từ bên kia sông anh Hoàn mượn bè tre của
đồng bào dân tộc chèo qua đón tôi và anh Khâm. Lúc này
đói mệt lả người, từ sáng đến giờ trong bụng chỉ có mấy
khúc sắn.
Bỗng tôi nhìn lên vách đá thấy có một cây dâu sây
quả, chín mọng. Tôi hái xuống một mũ, bảo hai anh cứ
ăn nhiều vào, vì dâu có chất vitamin C và đường giúp ta
tăng lực. Chú Thản nói rằng, nếu ai tìm được hạt sót,
hạt dẻ thì càng quý, đem rang ăn thơm như đậu phụng,
lại có chất béo, chất bột nữa. Nhưng tôi nghe đồng bào
dân tộc nói, muốn có nhiều hạt sót, hạt dẻ thì phải gặp
được một đống phân cọp thải ra, ta hốt được nhiều. Vì
cọp khoái ăn hạt sót, hạt dẻ chất đầy cái dạ dày thì cũng
được một thúng hạt, nó nuốt vào chỉ tiêu hóa cái vỏ lụa
bên ngoài, còn vỏ cứng bọc hạt sọ bên trong thì còn y
nguyên. Ta đem về ngâm dưới suối, tẩy rửa trắng phau,
đem nấu chín, hoặc rang ăn bùi lắm.
19
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Chỉ còn lại ba anh em tối nay ở nhờ nhà dân, anh
Thu Hoàn nói tiếng dân tộc Vân Kiều sõi nên dân dễ
thông cảm tiếp thu về cái chết của chị Thuận. Còn tôi
nhớ chị Thuận nên cứ ngồi thút thít khóc mãi. Có lẽ chị
Thuận chết thay tôi, vì khi chuẩn bị bọc bơi, tôi đã linh
cảm nước sẽ cuốn tôi vì sức yếu lại không biết bơi!
Một bà mẹ đến bên tôi xoa đầu an ủi: Ơi Acay ơi!
Thuận cu chít lứ (chết) cũng vì Mỹ - Diệm nó bành (bắn)
khắp nơi, không có cái ăn, Thuận đi tìm cái ăn cho dầu
bầy (anh em) mà cu chít lứ! Nín đi Acay ơi!
Ba anh em quyết định ở lại đây để chờ xác chị Thuận
nổi lên vớt đem mai táng, làm dấu mộ rồi đi tiếp. Khổ
một nỗi dân ở đây còn mê tín, nên họ chỉ cho tôi ở trên
sàn, còn anh Khâm, anh Hoàn ở dưới sàn, họ nói hai anh
này vớt xác chị Thuận nên con ma Thuận nó về theo hai
anh này, miềng sợ con ma hung!
Hằng ngày tôi thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm
với dân. Đến bữa phân chia phần rồi tôi đem xuống dưới
sàn cho hai anh ăn.
Ba anh em đi về chuyến này mất 15 ngày. Mới về đến
cơ quan biết tin anh Hoán đã bị bom tọa độ Mỹ thả, hy
sinh trên đường đi công tác. Số ở nhà thấy vắng mặt chị
Thuận ai cũng hỏi dồn dập. Chỉ trong một tháng mà cơ
quan có hai cái tang...
20
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
Lần đầu tiên cơ quan ăn cơm miền Bắc. Bưng chén
cơm ai cũng rưng rưng nước mắt. Những ngày ăn rau,
ăn cháo thì có đông đủ, nay có được bát cơm tình nghĩa
của miền Bắc đưa vào thì anh Hoán và chị Thuận không
được ăn.
Từ nay cơ quan đã có nguồn gạo binh trạm 46 ở miền
Tây Hướng Hóa là chỗ dựa vững chắc, nên nhìn anh em
có phần thay da đổi thịt.
Khắp các xã Abung, Ango, Húcnghì, Atúc, Tà Rụt,
Trại Cá... có nhiều bộ đội, cán bộ và thanh niên xung
phong đã ngã xuống vĩnh viễn ở lại với núi rừng Quảng
Trị vì cơn “Lốc đói” của năm Mậu Thân (1968) hoặc cơn
sốt ác tính và bom đạn, chất độc Mỹ thả xuống trên
mảnh đất đau thương này.
Mỗi lần xem mục nhắn tìm đồng đội trên truyền
hình, nhắn tìm những đồng chí hy sinh tại mặt trận
Quảng Trị, tôi cảm thấy lòng xót xa, có lẽ các đồng chí
ấy vẫn nằm lặng lẽ ở đâu đó dưới lòng đất các vùng giáp
ranh, miền núi, hay đồng bằng mà chưa ai tìm thấy để
đưa về quy tập tại nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Đây
là một điều đau thương còn dai dẳng đã hơn 20 năm
qua bạn bè, đồng đội vẫn mãi tìm người thân mà chưa
về đủ mặt.
21
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
HẢI DƯƠNG ƠI NHỚ MÃI NHỮNG NGÀY
T
rên rừng xanh, đoàn chúng tôi hành quân từ lúc
5 giờ chiều, đi mãi đến đồi trọc giáp ranh gần xóm
Búng Thượng Nguyên, thì đã 10 giờ đêm. Trong lòng mọi
người háo hức, chuyến này sẽ được ăn Tết Mậu Thân
(1968) với nhân dân ở thị xã Quảng Trị.
Các chú trong đoàn cho dừng lại để bắt liên lạc thì
được tin cánh quân từ Cầu Ga đánh thọc về Tòa Tỉnh
trưởng gặp quân Mỹ - ngụy phục sẵn đánh trả quyết
liệt. Cánh quân từ xã Triệu Thành tiến lên thì gặp lính
áo đen ở thôn Trí Bưu, chúng ném lựu đạn tới tấp làm
quân ta tổn thương. Cánh quân từ Hải Lăng tiến vào đã
chiếm được Đài Phát thanh nhưng chưa bắt liên lạc được
với hai cánh quân kia để phối hợp tác chiến.
Làng Trí Bưu trước đây là căn cứ ngầm của gia đình
họ Ngô, làng này Công giáo toàn tòng nên Ngô Đình Cẩn
chọn lựa đội quân “áo đen” có trang bị vũ khí, có hầm
ngầm, để khi gia đình họ Ngô đến Quảng Trị kinh lý, tối
vào ngủ ở làng Trí Bưu chứ không dám ở tại Tòa Tỉnh
trưởng, sợ không an toàn. Lính áo đen là loại mệnh danh
“chống cộng một trăm phần trăm”.
22
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
Các chú lãnh đạo đi trong đoàn quyết định cho phân
tán đoàn ra nhiều tổ triển khai xuống các xã vùng sâu để
củng cố các vùng mới được giải phóng.
Toán của tôi có chú Minh Tâm, Trưởng ban Tuyên
huấn Tỉnh ủy và một số đồng chí tuyên huấn, báo Thông
tấn xã vượt qua đường số 1, đến xã Hải Dương thì đã
6 giờ sáng, ai nấy mệt mỏi tay chân. Tôi sức yếu lại mang
theo chiếc máy ghi âm nặng khoảng năm cân, chú Tâm
giao nhiệm vụ đón binh lính, sĩ quan rã ngũ bảo họ kêu
gọi đồng nghiệp bỏ súng binh biến quay về với nhân dân.
Thu xong là đưa nhanh cho đài phát thanh phát liền,
nhưng bây giờ tình hình đảo ngược 180o. Ta và địch đang
giằng co quyết liệt, Mỹ cố lấn chiếm lại vùng ta đã giải
phóng, quân ta cố đánh trả để giành lại từng tấc đất, để
bảo vệ nhân dân không cho địch hốt dân đi. Chú Tâm viết
giấy giới thiệu cho tôi đi gặp anh Nguyễn Bá Cầm, cán bộ
tuyên huấn huyện Hải Lăng, để giúp anh Cầm xây dựng
các tổ chức tuyên truyền cho các xã. Lúc này tìm gặp được
cán bộ huyện cũng khó vì “văn phòng” làm việc khi thôn
này mai thôn khác, cuối cùng tôi cũng gặp được Nguyễn
Bá Cầm ở thôn An Nhơn để trao đổi công tác.
Có tiếng súng báo động Mỹ - ngụy đi càn, anh Cầm
và tôi “chạy nổi” ra ngoài truông, nhưng vẫn chưa thấy
dấu hiệu địch càn quét. Tôi hỏi anh Cầm:
- Anh hoạt động lâu năm ở đây không có hầm bí mật
mà “chạy nổi” thế này có ngày “rọ” xúc mất.
23
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Anh Cầm cười:
- Sức đâu mà đào hầm cho nổi, khi ở thôn này mai
ở thôn khác, o có ưa đào thì tối đi đào với du kích thôn.
Tối ấy tôi cầm giấy giới thiệu của anh Cầm đến gặp
thôn trưởng thôn An Nhơn. Bác trưởng thôn gọi hai du
kích, một nam, một nữ đi đào hầm với tôi. Tối ấy, hai
người du kích đào, còn tôi bưng đất đi đổ ra xa, rồi vơ cỏ
tủ lại che dấu đất mới.
Mới bê được vài rổ thì nghe có mùi khét khét, mùi
khói thuốc lá và tiếng xì xào ở ngoài truông. Tôi vội chạy
vào nói khẽ với hai du kích ra nghe, đúng là lính Mỹ
phục kích, hai du kích ngụy trang lại chỗ đào, rồi cầm
tay tôi rút chạy vào thôn.
Nhật ký tuần
Ngày thứ hai
Sáng thứ hai mới tinh mơ đã nghe tiếng trực thăng
bay phành phạch ở trên đầu, xịt pháo hiệu xuống Hải
Dương nhưng chưa thấy đổ quân. Có thể chúng nghi
binh nhưng ai nấy đều sẵn sàng chống càn.
Tôi xin chiếc áo cũ của chị chủ nhà khoác vào, búi
tóc cao, đội chiếc nón lá rách, tay cầm chơm, oi, ra ruộng
bắt vội vài con ốc cho có “vốn” ban đầu - rồi nhảy lên bờ
đến chỗ các cháu chăn bò hòa nhập cùng các cháu, nhìn
lên trời thấy trực thăng quần sát vùng Hải Dương, Hải
Thành, rồi kéo nhau xuống ruộng bắt ốc bỏ vào oi cho tôi,
24
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
tôi cũng xuống ruộng cầm cái chơm đi chụp, chụp cho ra
vẻ “sinh động” tự nhiên.
Ngày này Kỵ binh bay không đổ quân vùng này chỉ
có mấy chiếc rọ gáo (trực thăng) trinh sát quần miết tìm
không thấy mục tiêu gì nên chúng bay thẳng, chỉ có bác
sĩ Quyền, một người phẫu thuật giỏi ở Hà Nội mới vào
phân công phụ trách đội phẫu tiền phương bị “rọ” xúc bay
thẳng ra ngoài hạm đội. Bác sĩ Quyền đi công tác ra ngoài
Hải Khê đã cải trang áo dài đen, đầu khăn đóng, đi dù
đen, trong lưng có khẩu súng ngắn. Trực thăng quần miết
trên đầu gió mạnh lật tung vạt áo dài lên để lộ khẩu súng,
chúng liền hạ thấp, súng đại liên dí thẳng nòng xuống đất
và xúc anh Quyền đi mất. Còn một đồng chí cán bộ địa
phương cải trang bận quần áo tang trắng, đầu bịt khăn
tang, nhưng trong lưng đeo khẩu K54, trực thăng quần
phành phạch gió tung lên để lộ súng cũng bị xúc đi luôn.
Chiều nay anh Chính ở công an đến tìm tôi, thấy tôi
anh rất mừng vì không bị “rọ” xúc, anh bảo em chạy “nổi”
thì phải cải trang cho đạt, đóng kịch thì phải nhập vai!
Ngày thứ ba
Trong xã Hải Dương hiện có gần 100 thương binh
nặng chưa đưa lên căn cứ được vì bọn Mỹ - ngụy “chốt”
dọc vành đai vùng giáp ranh, y tá thiếu, bác sĩ thì bị “rọ”
xúc, thuốc thiếu, các vết thương lâu ngày chưa được thay
băng nên hôi thối, lại ở miết dưới hầm suốt ngày đêm, chỉ
25
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
chờ các mẹ, chị ở thôn nấu nước muối rửa vết thương, vận
động nhân dân góp gạo, nấu mỗi ngày có trăm nắm cơm,
gói trong mảnh dù pháo sáng để phục vụ thương binh.
Sáng nay các chị thiếu người, nên nhờ tôi đưa
thương binh ra giấu ngoài ruộng, rồi dẫn ghe đi dọc kênh
mương. Trên ghe có ba thương binh nằm, trên phủ rơm,
tôi lội dưới nước hai tay đẩy ghe, trên trời thì trực thăng
liệng rà sát, hai tên lính cầm đại liên cứ chăm chăm nhìn
xuống ghe. Tôi ngẩng đầu lên trời cười với chúng để tỏ
ra đây là dân “Quốc gia Sài Gòn” đi gặt lúa. Tôi nhớ còn
chiếc đồng hồ đeo ở tay bất hợp lý, vội lôi ra cầm ở mép
mạn ghe và nói khẽ: “Các đồng chí nằm yên, không thở
mạnh sợ rơm đắp lên người bị rung lên thì nguy”. Hai
chiếc trực thăng lên phía Hải Thành, ghe đi thông suốt
đã ra đến ngoài ruộng sâu.
Thấy giữa từng thửa ruộng có từng ụ đất cao, to
như ngôi mộ tổ. Trong những “ụ đất” ấy đào sâu chứa
đủ bốn người. Đây là hầm nhân dân đắp để cho thương
binh nặng, tôi cảm động với lòng dân bao la như biển cả,
có dân là có tất cả! “Dễ trăm lần không dân cũng chịu,
khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Trưa hôm ấy tôi ăn cơm vắt cùng với ba thương binh,
tôi nói:
- Các đồng chí ở Bắc vào đổ xương máu để bảo vệ
nhân dân miền Nam, ở đâu sống chết đều có nhân dân
che chở đùm bọc. Những ngày này, các mẹ, chị phân công
26
https://thuviensach.vn
Một vùng đất lửa
nhau từng tổ bảo vệ, chăm sóc thương binh - hầm bí mật
từ trong lòng dân, từ trong lòng đất! Có anh rưng rưng
nước mắt, hôn lên bàn tay tôi nói:
- Con gái Quảng Trị ngoan cường lắm, bọn anh trông
vết thương chóng lành tìm đơn vị chiến đấu cho đến ngày
giải phóng miền Nam.
Ngày thứ tư
Lặng tiếng súng “hòa bình” được một ngày, tôi đi các
thôn tìm gặp anh Bá Cầm để bàn công tác. Gặp tôi, anh
Bá Cầm bắt tay cười:
- Chà mấy ngày này “vạn sự bình an” chứ o? Tình hình
ở lại vùng sâu chưa làm được chi, để tôi bắt liên lạc đường
dây giao liên gửi o về căn cứ kẻo ở đây tổn thất vô ích.
Ngày thứ năm
Lại có tiếng máy bay L19 và phản lực nhào lộn trên
không rồi ném bom ở phía vùng giáp ranh. L19 thì chiêu hồi
“cộng quân” trở về với “quốc gia”. Độ 10 giờ thì Kỵ binh bay
đổ quân càn quét ba mặt: Kim Long, Kim Giao tiến lên
Diên Khánh. Một cánh từ động cát Hải Khê thọc qua thôn
Đồng Dương dọc lên ngoài Bàn Trũng (ven bìa làng).
Tranh thủ lúc sương tan, tôi và anh Tâm ở giáo dục,
em Hồng, du kích thôn, con của bà chủ nhà tôi đang ở, ba
người nhảy xuống ghe nan chống đi. Ra ngoài kênh lạch
sát vạn đò ngã ba sông Vĩnh Định, tôi nhảy lên một chiếc
27
https://thuviensach.vn
Nguyễn Thị Thúy Liên
thuyền lớn, còn Hồng và Tâm chèo ghe đi lánh ở bờ kênh
giả câu cá. Tôi nhìn trong thuyền của bác chủ đò có treo
cái khăn tang. Tôi nói với bác chủ đò:
- Tôi là cán bộ ở chiến khu về còn lạ đường, bác cho
tôi mượn cái khăn tang chít lên đầu và bồng đứa con nhỏ
này. Nếu Mỹ - ngụy có càn ra vùng sông nước này, nó có
hỏi thì tôi nhận là dâu của bác, chồng tôi đi quân dịch cho
chính quyền Sài Gòn bị chết trận, nếu chúng có hỏi ở hòm
thư nào, thì tôi nói KBC 1312, bác yên tâm và bình tĩnh
là được. Còn khẩu súng ngắn thì bác giấu dưới thuyền.
Bác vội gọi hai đứa nhỏ con bác, lấy nilon bọc khẩu
súng lại, nhét dưới đống chài lưới rách, hai đứa trẻ làm
xong nhiệm vụ vẻ hoan hỉ. Tôi đoán nó nhỏ mà đã góp
vào một việc thiện, chính nghĩa nên rất vui. Suốt sáng
ấy ba đứa nhỏ cứ ngồi quanh tôi, tôi tập cho ba cháu bài
hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng”.
Bác chủ đò thì cắm sào nhìn vào phía Hải Dương để canh
chừng địch có ra vùng sông nước hay không.
Độ một giờ chiều chị vợ của bác đi chợ bán cá về thấy
trong thuyền có “khách lạ”; người chồng kể cho chị vợ
nghe. Chị vui vẻ đi nấu cơm mời tôi ăn, rồi năm giờ chiều
bác tìm ghe chở tôi vào thôn Xuân Viên.
Mới vào đến nhà, thấy bà con lối xóm khóc lóc,
người bị bắt con, bắt chồng đánh đập, người bị mất lợn,
gà. Mấy tên lính thủy quân lục chiến tay lăm lăm súng
dí vào người quát tháo rồi chạy đi...
 





