Lich su Viet Nam bang tranh tap 5 Nha Tran thang giac Nguyen Mong

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:16' 20-08-2025
Dung lượng: 19.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:16' 20-08-2025
Dung lượng: 19.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lê Phi Hùng
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nhà Trần thắng giặc Nguyên Mông / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh
Trân biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa ... [và nh.ng. khác]. - Tái bản lần 1. - T.P. Hồ Chí
Minh : Trẻ, 2015.
316 tr. : minh họa ; 24 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.5).
1. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Trần, 1225-1400 -- Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam -- History -- Trần dynasty, 1225-1400 -- Pictorical works.
959.7024 -- dc 22
N577
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục
đích giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động,
có hệ thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người
và đất nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không
gian, văn hóa, y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng
triều đại cụ thể.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên
suốt từ thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến
thời kỳ tự chủ của các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê,
Nguyễn và cuối cùng là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời
kỳ hay một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi
tập có cấu trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể
chung là Lịch sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác
giả còn chú ý thể hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục
tập quán tiêu biểu của từng thời kỳ lịch sử.
Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên
cứu của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà
xuất bản Trẻ.
Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực
hiện với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình
biên soạn và thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban
biên soạn, họa sĩ và Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp
ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
3
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Vào cuối triều Lý, Đại Việt bước vào suy thoái. Trong nước
thì loạn lạc bởi vua Lý Huệ Tông thường xuyên đau yếu, hơn nữa
tính tình lại nhu nhược nên không coi trọng việc triều chính. Bên
ngoài, các nước phía nam là Chiêm Thành, Chân Lạp thường đem
quân sang quấy nhiễu. Còn ở phương bắc, đế quốc Mông Cổ ngày
một lớn mạnh và bành trướng từ khắp Âu sang Á, trở thành mối đe
dọa cho các nước ở phương Nam trong đó có nước Tống (Trung
Quốc), Đại Lý (Vân Nam, nay thuộc Trung Quốc) và Đại Việt.
5
https://thuviensach.vn
Lúc này, họ Trần đã nắm giữ mọi chức vụ trọng yếu trong triều.
Đến năm 1224, vua Lý Huệ Tông đi tu, nhường ngôi lại cho người
con gái mới bảy tuổi là Lý Phật Kim tức vua Lý Chiêu Hoàng, vua
cuối cùng của nhà Lý. Ngay sau đó, quan Điện tiền Chỉ huy sứ là
Trần Thủ Độ đã thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lấy cháu mình là
Trần Cảnh - lúc đó cũng mới bảy tuổi. Năm sau (1225), Thủ Độ
dàn cảnh để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho Trần Cảnh. Như
vậy, triều Lý chấm dứt sau 9 đời vua, kéo dài 126 năm (1009-1225).
6
https://thuviensach.vn
Trần Cảnh lên ngôi tức Trần Thái Tông. Chiêu Hoàng được
phong làm Hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh. Còn Trần Thủ Độ được
phong làm Thái sư. Vua Trần Thái Tông (1218-1277) rất khôi ngô,
tuấn tú, mũi cao, nét uy nghi, dáng đi đường bệ. Tư chất vua lại
thông minh còn tính tình thì gan dạ. Dù là vua đầu tiên của triều
đại mới nhưng Trần Cảnh không có miếu hiệu là Thái Tổ mà chỉ
là Thái Tông vì cha của Trần Cảnh là Trần Thừa vẫn còn sống và
đang giữ chức Phụ quốc Thái úy trong triều.
7
https://thuviensach.vn
Khi Trần Cảnh lên ngôi, Trần Thừa được tôn làm thượng hoàng.
Do vua còn nhỏ tuổi, chưa tự điều hành đất nước, Thượng hoàng
Trần Thừa có quyền quyết định đối với những việc lớn của đất
nước. Ông có cung riêng, được gọi là cung Phụng Thiên. Trong
thời gian Trần Thừa còn sống, ông lo giúp đỡ vua nhỏ trong việc
triều chính, còn Trần Thủ Độ lo việc dẹp các cuộc nổi loạn đang
xảy ra ở nhiều nơi trong nước.
8
https://thuviensach.vn
Trần Thừa nhiếp chính được 9 năm thì mất (1234), chỉ còn một
mình Trần Thủ Độ quyết đoán mọi việc cho đến khi vua trưởng
thành. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rằng: “Trần Thủ Độ
tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người”. Ông đã củng cố
thế lực nhà Trần bằng những biện pháp cứng rắn, bởi ông hiểu dù
nhà Trần đã lên ngôi báu nhưng vẫn nhiều người thương tiếc triều
Lý, mong phục hồi triều Lý.
9
https://thuviensach.vn
Đầu tiên, Trần Thủ Độ tìm mọi cách loại bỏ ảnh hưởng của
nhà Lý trong xã hội. Vua Huệ Tông tuy đã đi tu nhưng thường ra
chợ chơi, có nhiều người đón gặp, khóc thương. Trần Thủ Độ biết
chuyện bèn ép Lý Huệ Tông vào tù ở chùa Chân Giáo nằm sâu
trong hoàng cung, nhằm tách biệt vua cũ với dân chúng. Ít lâu sau
Thủ Độ bức ông phải tự tử. Hoàng hậu vua Lý là Trần Thị Dung
bị giáng làm Thiên Cực Công chúa (sau trở thành vợ Trần Thủ
Độ, được phong làm Linh Từ Quốc mẫu).
10
https://thuviensach.vn
Các tướng lĩnh trung thành với nhà Lý cũng bị Trần
Thủ Độ tìm cách tiêu diệt. Ai may mắn trốn thoát thì
thay tên đổi họ, sống mai danh ẩn tích. Đặc biệt có hoàng
tử Lý Long Tường cùng gia quyến mang binh thuyền
vượt biển để tránh sự truy bức. Sau bao nhiêu ngày,
thuyền cập xứ Cao Ly (Triều Tiên ngày nay). Trần Thủ
Độ còn lấy cớ rằng chữ Lý đã phạm húy vì tên ông nội
vua Trần Cảnh là Trần Lý mà buộc những người mang
họ Lý, dù không phải hoàng thân quốc thích cũng phải
đổi thành họ Nguyễn.
11
https://thuviensach.vn
Nhưng trên tổng thể, Trần Thủ Độ có công trong việc dẹp loạn
và chấn hưng đất nước. Bấy giờ, các thế lực ở một số địa phương
nổi lên cát cứ, đặc biệt có Đoàn Thượng ở Hồng châu (Hải Dương)
và Nguyễn Nộn ở Bắc Giang là hùng mạnh nhất. Thủ Độ điều động
quân lính đi đánh dẹp. Thấy hai lực lượng này còn mạnh, ông thay
đổi chiến lược, không dùng quân sự để đàn áp mà thực hiện chính
sách chiêu dụ và chia rẽ.
12
https://thuviensach.vn
Trần Thủ Độ xin vua phong cho Nguyễn Nộn làm Hoài Đạo
vương, cho cai quản một số huyện ở Bắc Giang đồng thời cũng
phong tước cho Đoàn Thượng và định ngày làm lễ thề chung. Tuy
thế, vào ngày định ước, Thượng không đến dự, lại còn xây thành
đắp lũy, đào hào, bắt dân làm lính, tự mình làm chủ một cõi Hồng
châu. Nguyễn Nộn đem quân đến đánh, giết chết Đoàn Thượng.
Con của Thượng chống đỡ không nổi, phải quy hàng. Từ đấy thanh
thế của Nguyễn Nộn ngày càng lớn.
13
https://thuviensach.vn
14
https://thuviensach.vn
Lấy cớ Nguyễn Nộn giết được Đoàn Thượng,
Trần Thủ Độ cho người mang thư đến mừng, lại
đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho Nộn với mục
đích dùng nàng để dò la binh tình. Dường như biết
được ý định ấy, Nguyễn Nộn sai lính dựng cho công
chúa một cung riêng biệt để ở. Vì vậy Ngoạn Thiềm
cũng không nghe ngóng được chuyện gì.
15
https://thuviensach.vn
Đắc thắng, Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng vương và mặc
sức ăn chơi. Tuy thế, Nộn cũng biết là phải phục tùng nhà Trần
nên xin hẹn ngày vào bái kiến vua Thái Tông. Nhưng hôm ấy Nộn
lại lâm bệnh nặng, không thể vào chầu được. Trần Thủ Độ cho
người đến thăm. Nguyễn Nộn giấu bệnh, cố gượng dậy ăn cơm
và phi ngựa trước mặt sứ giả để tỏ ra mình vẫn khỏe mạnh nhưng
mấy ngày sau thì chết.
16
https://thuviensach.vn
Từ đấy trong nước hết loạn lạc, Trần Thủ Độ tập trung sức lực
xây dựng cơ đồ, ổn định việc nội trị. Để kiểm soát số dân trong
nước, ông đặt ra lệ ghi chép danh sách các hộ dân tại các thôn xã
vào sổ. Sử cũ ghi rằng ông là người rất công bằng, trong một lần
duyệt hộ khẩu, bà Linh Từ, vợ của Trần Thủ Độ, muốn xin cho
người quen của mình làm một chức trong xã. Ông bèn ghi tên họ,
quê quán của người ấy và cho gọi đến.
17
https://thuviensach.vn
Khi người quen của bà Linh Từ hớn hở đến trình diện, Trần Thủ
Độ bảo: “Ngươi vì có công chúa (tức bà Linh Từ) xin cho làm Câu
đương(*), thế thì không thể xem ngươi như những Câu đương khác.
Do đó phải chặt một ngón chân của ngươi để phân biệt”. Người ấy
hoảng hồn, van xin không nhận chức để khỏi bị chặt ngón chân.
Từ đó, không ai dám nhờ ông ưu ái cho những việc riêng tư nữa.
* Một chức dịch nhỏ về trật tự an ninh ở trong xã.
18
https://thuviensach.vn
Thái sư Trần Thủ Độ rất đề cao trật tự, pháp luật trong nước
và chính ông cũng rất gương mẫu thực hiện. Có lần bà Linh Từ
ngồi kiệu định đi qua chỗ cấm thì bị một người quân hiệu(*) chặn
lại. Rất tức giận nhưng không làm gì được, bà đành phải về nhà
than vãn với chồng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu lại
dám khinh nhờn như thế ư?”. Thái sư cho bắt người quân hiệu ấy
xét hỏi. Nhưng khi biết sự thật, ông nói: “Ngươi ở chức thấp mà
còn biết giữ phép nước như thế, ta trách sao được” rồi thưởng bạc
cho người ấy.
* Người lính có nhiệm vụ gác cổng.
19
https://thuviensach.vn
Việc làm của Trần Thủ Độ khiến nhiều người nể phục, vì thế
luật lệ, phép tắc trong triều được nghiêm minh. Nhưng cũng có
người thấy quyền lực của Thủ Độ quá lớn nên lo lắng tâu với vua
Trần Thái Tông: - “Nay Bệ hạ đang tuổi nhỏ mà Trần Thủ Độ
lại chuyên quyền thì việc xã tắc tính thế nào?”. Nghe vua kể lại,
Trần Thủ Độ tâu: - “Kẻ kia nói đúng, thần quả có chuyên quyền.
Nhưng các quan đều giả câm, chỉ có kẻ kia là dám nói thật. Muốn
xã tắc hưng thịnh thì phải khuyến khích người ta nói thẳng, nói
thật”. Rồi ông xin vua thưởng vàng bạc cho người ấy.
20
https://thuviensach.vn
Nhưng đôi khi, vì quyền lợi của dòng họ, Trần Thủ Độ cũng
có những việc làm thái quá. Đó là vào năm Đinh Dậu (1237), vua
Thái Tông đã 20 tuổi mà hoàng hậu vẫn chưa có con. Việc nhà vua
không có con đe dọa đến sự bền vững của ngai vàng. Bởi vậy, Trần
Thủ Độ ép vua phải phế Chiêu Thánh, rước vợ của Trần Liễu là
Thuận Thiên (Thuận Thiên là chị ruột của Chiêu Thánh) khi ấy đã
có mang ba tháng, về lập làm Hoàng hậu để vua có người nối dõi.
21
https://thuviensach.vn
Trần Liễu bèn tụ tập quân lính nổi loạn ở sông Cái (sông Hồng)
còn vua Trần Thái Tông thì bất bình, đang đêm một mình một
ngựa lẻn trốn khỏi thành, nhắm núi Yên Tử mà đến. Khi tới Phả
Lại, con ngựa đuối sức, nhà vua liền bỏ ngựa, đi bộ. Mấy ngày sau
mới lên được chùa Phù Vân trên núi Yên Tử. Sư trụ trì chùa vốn
là bạn cũ của nhà vua, nên vua ở lại đấy.
22
https://thuviensach.vn
Trần Thủ Độ biết tin, đem quần thần đi đón.
Vua không chịu về, bảo: “Trẫm còn nhỏ dại, phụ
hoàng đã vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, không
dám ở ngôi vua để làm nhục xã tắc”. Cố nài hai,
ba lần, nhà vua vẫn không chịu về, Thái sư bèn
bảo mọi người: “Xa giá ở đâu là triều đình ở đấy”.
Rồi sai cắm mốc, chia địa hình trong núi mà cho
xây dựng cung điện. Sư trụ trì thấy vậy, tâu: “Bệ
hạ nên hồi cung, chớ để người ta làm hại núi rừng
của đệ tử”. Vua Thái Tông nghe theo, buộc phải
hồi cung.
23
https://thuviensach.vn
Trần Liễu cũng biết sức mình thế cô, không chống chọi được
với người chú họ mưu lược và quyết đoán nên một hôm nhân lúc
nhà vua đi chơi thuyền ở ngoài sông, ông giả dạng làm người đánh
cá, đi thuyền độc mộc đến xin hàng. Trần Thủ Độ nghe tin, vội
kéo quân đến vây thuyền rồng, rút gươm quát lớn:
- Giết chết tên giặc Liễu!
24
https://thuviensach.vn
Nhà vua vội đưa thân mình ra che chở cho anh trai và phân trần:
- Phụng Càn vương (tên hiệu của Trần Liễu) đến hàng đó thôi!
Trần Thủ Độ tức lắm nhưng cũng không dám làm gì đành ném
gươm xuống sông, thốt lên:
- Thủ Độ này chỉ là con chó săn thôi, biết đâu sự thuận nghịch
của anh em nhà ngươi!
25
https://thuviensach.vn
Sau khi thuyết phục Trần Thủ Độ bãi binh, vua Thái Tông cấp
cho Trần Liễu vùng đất An Sinh (nằm ở hai huyện Đông Triều và
Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay) làm thái ấp và phong ông
làm An Sinh vương. Tuy vậy Trần Liễu vẫn mang nỗi oán hận
trong lòng. Mâu thuẫn này khiến trong hoàng tộc có nhiều chia
rẽ và phải đến đời con Trần Liễu là Hưng Đạo vương Trần Quốc
Tuấn mới được cởi bỏ.
26
https://thuviensach.vn
Lúc này, vua Trần Thái Tông đã đảm đương được việc triều
chính và có những quyết định sáng suốt. Nhà vua còn là người rất
gan dạ. Vào mùa đông năm Tân Sửu (1241), vua thân chinh đi
tuần ở biên giới bằng đường thủy. Đến địa giới của nhà Tống, vua
bỏ thuyền lớn dùng ba thuyền nhỏ là Kim Phượng, Nhật Quang,
Nguyệt Quang để đi vào đất Tống, đến tận châu Liêm, châu Khâm.
Khi bị dân địa phương phát hiện và chăng dây xích ngang sông để
cản đường, vua bình thản cho quân lên bờ tháo xích rồi ung dung
theo đường cũ mà về.
27
https://thuviensach.vn
Trần Thủ Độ vẫn hết mình giúp đỡ vua Thái Tông trong việc
điều hành đất nước. Nhờ vua tôi một lòng mà Đại Việt đã dần ổn
định và ngày một hưng thịnh. Nhà Trần vẫn giữ lệ cử hành lễ thề
Đồng Cổ vào ngày mồng 4 tháng tư âm lịch hàng năm như dưới
triều Lý để buộc các quan phải trung thành với triều đình. Hôm
ấy, trăm quan ăn mặc chỉnh tề, chực ngoài cửa thành từ lúc gà gáy
cho đến mờ sáng thì tiến vào triều. Vua thì ngự sẵn ở điện Đại
Minh. Trăm quan vào lậy mừng rồi cùng nhau rầm rộ tiến ra cửa
tây kinh thành để đến đền Đồng Cổ.
28
https://thuviensach.vn
Khi tất cả đã quỳ trước đài thờ,
quan Trung thư Kiểm chính đọc lời
thề: “Làm tôi phải tận trung, làm
quan phải thanh bạch; ai trái lời thề
thì thần linh trừng phạt”. Lời thề đọc
xong, quan Tể tướng sai đóng cửa
lại để điểm danh. Người nào vắng
mặt thì phạt 5 quan tiền(*). Ngày hôm
ấy, con trai con gái từ khắp nơi kéo
về kinh đô để xem lễ thề, để chiêm
ngưỡng trăm quan và cũng để vui
chơi hội hè. Dần dà, lễ thề Đồng Cổ
cũng là ngày hội của dân chúng.
_________
* Dưới thời Lý thì phạt đánh 50 trượng.
29
https://thuviensach.vn
Nhà Trần đặc biệt ưu đãi giới quý tộc họ Trần. Chỉ có người
họ Trần mới được giữ những chức vụ quan trọng. Giới quý tộc họ
Trần đóng vai trò quyết định trong bộ máy quan lại và quân đội.
Họ còn được cấp đất để lập những thái ấp rộng lớn và được nuôi
rất nhiều gia nô trong thái ấp của mình.
30
https://thuviensach.vn
HỆ THỐNG QUAN LẠI NHÀ TRẦN
(1226 - 1400)
Các quan lại khác đều có lương và ruộng đất, nhưng ruộng đất
của quan lại thì nhỏ hơn thái ấp hoàng tộc. Hệ thống quan lại được
định chế rõ ràng. Cấp quan cao nhất là Tam công, Tam thiếu, Thái
úy, Tư mã, Tư đồ, Tư không. Ở dưới là các quan văn võ chia làm
hai: quan nội chức làm ở các bộ tại triều và quan ngoại chức làm
việc tại các địa phương. Cứ 15 năm thì quan được lên chức một lần.
31
https://thuviensach.vn
Từ năm 1242, nước Đại Việt được chia làm 12 lộ(*). Mỗi lộ có
quan cai trị là An phủ sứ. Giúp việc cho An phủ sứ là Chánh phủ
sứ và Phó phủ sứ. Dưới lộ là phủ, châu, huyện do các quan Đại tư
xã hay Tiểu tư xã trông coi. Quan Đại tư xã phải từ ngũ phẩm trở
lên, còn quan Tiểu tư xã thì lục phẩm trở xuống. Đơn vị dưới cùng
là làng xã do Xã quan quản lý, gồm Xã chính, Xã sử và Xã giám.
* Tương đương với tỉnh này nay.
32
https://thuviensach.vn
Tổ chức quân đội thời Trần có một bước tiến đáng kể so với
trước. Đặc biệt số lượng quân thường trực khá lớn, có thể lên đến
20.000 người. Quân triều đình gồm Cấm quân và các quân địa
phương (quân các lộ). Giống như các thời Đinh, Lý trước, Cấm
quân (quân cấm vệ) thời Trần có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều
đình. Binh lính trong Cấm quân được tuyển chọn cẩn thận từ các
hương ấp quê hương họ Trần nên hết sức trung thành.
33
https://thuviensach.vn
Quân địa phương có nhiệm vụ bảo vệ các lộ và tham gia chiến
trận khi có chiến tranh. Ngoài Cấm quân và quân các lộ, nhà Trần
còn có lực lượng vũ trang của các nhà vương hầu để bảo vệ điền
trang thái ấp và tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước khi cần. Đáng
chú ý là một vương hầu có thể có hàng ngàn quân.
34
https://thuviensach.vn
Như triều Lý, nhà Trần cũng thi hành chính sách “ngụ binh ư
nông”. Tất cả dân tráng trong nước đều phải đi lính. Số quân đi
binh dịch này được phiên chế thành đô, ngũ(*) để luyện tập, hết hạn
lại trở về làm ruộng, khi nào có việc thì mới điều động.
* Một ngũ gồm 5 người, 10 ngũ là một đô.
35
https://thuviensach.vn
Quân đội nhà Trần đã bắt đầu có sự phân biệt giữa quân thủy
và quân bộ. Ngoài ra còn có cả đội tượng binh và kỵ binh. Binh
lính được tập luyện kỹ lưỡng, có kỷ luật và quyết tâm cao còn các
tướng thì không chỉ tinh thông võ nghệ mà còn giỏi cả binh pháp.
Chính vì vậy, quân đội nhà Trần không chỉ có lực lượng mạnh mà
còn có kĩ thuật chiến đấu khá cao.
36
https://thuviensach.vn
Bên cạnh việc xây dựng quân đội, nhà Trần rất chú trọng đến
nông nghiệp - sức mạnh kinh tế chủ yếu thời ấy. Ruộng có hai loại
là ruộng công và ruộng tư. Giống như thời Lý, ruộng công thuộc
về nhà nước phần lớn là ruộng quốc khố do nông nô, binh lính và
tù nhân cày cấy để thu lợi tức cho triều đình. Ngoài ra còn có một
phần dành cho việc thờ cúng các vị vua khởi nghiệp và công thần
(ruộng Sơn Lăng) và một số ít để vua cày tịch điền hàng năm.
37
https://thuviensach.vn
Còn ruộng công ở các làng xã gọi là quan điền (công điền) hay
quan điền bản xã do làng xã quản lý. Nông dân các làng xã chia
nhau cày cấy và đóng tô cho nhà nước. Nhà vua có quyền lấy số
ruộng của các làng xã phong cho quý tộc làm thái ấp hoặc ban
phong cho các công thần làm bổng lộc. Khi đó, ruộng này vẫn do
nông dân ở đó cày cấy nhưng tô thuế không nộp cho nhà nước mà
nộp cho người được cấp ruộng.
38
https://thuviensach.vn
Ruộng tư đã có từ thời Lý, sang thời Trần thì phát triển hơn do
từ năm 1254, vua Thái Tông cho phép bán quan điền (ruộng công
làng xã) cho dân. Mỗi diện(*) được bán với giá 5 quan. Do đó, tầng
lớp nông dân tư hữu cũng nhiều hơn trước. Ai có ruộng thì tùy theo
số lượng mà đánh thuế bằng thóc. Ngoài ra, nhà vua còn định ra
những luật lệ nghiêm khắc trong việc tranh chấp ruộng đất.
* Như mẫu bây giờ.
39
https://thuviensach.vn
Để bảo vệ nông nghiệp, vua Thái Tông cho lập cơ quan Hà đê
trông coi việc đê điều, đứng đầu là Hà đê chánh sứ và Hà đê phó
sứ. Hằng năm, vào tháng giêng, quan Hà đê phải thân hành đi đốc
thúc dân đinh tu bổ lại hệ thống đê điều đã có từ trước. Đây được
xem như một việc chung, dù giàu hay nghèo, cao sang hay thấp
hèn đều phải tham gia. Công việc này được tiến hành cho đến đầu
mùa hạ phải xong. Đến khi nước sông dâng cao lại phải tuần tra,
canh gác để kịp thời sửa chữa những chỗ sạt lở.
40
https://thuviensach.vn
Vào tháng 3 năm Mậu Thân (1248), nhà vua huy động tất cả
các quan dân ở các lộ ven sông Cái (sông Hồng) đắp một con đê
rất lớn gọi là Đỉnh Nhĩ (tức đê Quai Vạc). Đê chạy dài ven hai
bên bờ sông, bắt đầu từ thượng nguồn cho đến biển. Nếu chỗ đê
nào lấn vào ruộng đất của dân thì nhà nước chiếu theo giá ruộng
đất mà bồi thường. Đê sông Hồng được các đời sau tu bổ, đến nay
vẫn là công trình phòng chống lũ lụt rất hiệu quả.
41
https://thuviensach.vn
Đi đôi với đắp đê là đào sông, tháng giêng năm Tân Mão (1231),
vua Thái Tông cho đào kênh Trầm, kênh Hào từ phủ Thanh Hóa
đến Diễn châu (Nghệ An). Năm 1248, vua lại cho đào sông Mã,
sông Lễ và đào kênh xuyên qua núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa.
Năm 1256, triều đình cho vét sâu sông Tô Lịch để đảm bảo giao
thông và phòng thủ kinh thành.
42
https://thuviensach.vn
Công thương nghiệp đời Trần có những bước phát triển mới.
Các phường thủ công mở rộng hơn trước, hình thành thêm một số
làng nghề chuyên môn. Đặc biệt, nghề gốm rất phát triển với các
loại sản phẩm như gạch, ngói, thạp, hũ, bát,... được buôn bán rộng
rãi trong cả nước. Hàng gốm cao cấp không chỉ được dùng trong
cung điện, các phủ đệ mà còn làm cống phẩm bang giao và buôn
bán với nước ngoài.
43
https://thuviensach.vn
Kinh thành Thăng Long được tu bổ và mỏ rộng, có chợ búa,
phố xá,... Người qua lại buôn bán đông đúc. Vùng phụ cận xung
quanh kinh thành đã được khai phá và lập thành “thập tam trại” từ
thời Lý, nay càng mở rộng và trở thành những vùng chuyên canh
nông nghiệp ổn định.
44
https://thuviensach.vn
45
https://thuviensach.vn
Buôn bán trao đổi với các nước khác được mở rộng. Hải cảng
chính cho tàu buôn nước ngoài đến là bến Vân Đồn bên ngoài vịnh
Hạ Long (Quảng Ninh). Các tàu buôn từ Trung Quốc và các nước
quanh vùng tấp nập ra vào thương cảng này. Ngày nay, qua khai
quật, người ta còn thấy phế tích thương cảng này ở các đảo Vân
Đồn, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây,...
46
https://thuviensach.vn
Vua Trần Thái Tông còn định lại thuế lệ và pháp luật. Người
trong nước được phân ra từng hạng(*). Thuế thân phải đóng bằng
tiền chứ không phải đóng bằng thóc như thuế ruộng. Nếu không
có ruộng thì được miễn. Các giấy tờ, đơn từ, khế ước đều dùng
lệ điểm chỉ - in nửa ngón tay vào tờ giấy - để làm bằng. Nhờ thế,
công việc hành chính tiến hành khá kỉ cương. Tuy nhiên, hình luật
lại khá nặng, người phạm tội trộm cắp phải bị chặt chân hoặc chặt
tay, thậm chí còn bị cho voi giày.
* Con trai từ 18 tuổi gọi là tiểu hoàng nam, trên 20 tuổi gọi là đại hoàng nam,
trên 60 tuổi là lão, còn già lắm thì được gọi là long lão (người già mỏi mệt).
47
https://thuviensach.vn
Đối với quý tộc và quan lại, vua Trần Thái Tông cũng định ra
quy chế để phân biệt thứ bậc. Từ ngũ phẩm trở lên đều được đi
kiệu, ngựa và võng. Kiệu của quý tộc có đầu đòn chạm con chim
phượng và sơn son đỏ. Nếu là quan tướng quốc thì đầu đòn chạm
chim phượng và sơn đen, lọng màu tía. Từ tam phẩm trở lên dùng
kiệu đầu đòn chạm mây, lọng xanh. Quan tứ phẩm, ngũ phẩm dùng
kiệu bằng đầu và cũng lọng xanh. Riêng các quan lục thất phẩm
dùng lọng màu đen...
48
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lê Phi Hùng
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nhà Trần thắng giặc Nguyên Mông / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh
Trân biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa ... [và nh.ng. khác]. - Tái bản lần 1. - T.P. Hồ Chí
Minh : Trẻ, 2015.
316 tr. : minh họa ; 24 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.5).
1. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Trần, 1225-1400 -- Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam -- History -- Trần dynasty, 1225-1400 -- Pictorical works.
959.7024 -- dc 22
N577
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục
đích giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động,
có hệ thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người
và đất nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không
gian, văn hóa, y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng
triều đại cụ thể.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên
suốt từ thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến
thời kỳ tự chủ của các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê,
Nguyễn và cuối cùng là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời
kỳ hay một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi
tập có cấu trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể
chung là Lịch sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác
giả còn chú ý thể hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục
tập quán tiêu biểu của từng thời kỳ lịch sử.
Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên
cứu của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà
xuất bản Trẻ.
Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực
hiện với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình
biên soạn và thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban
biên soạn, họa sĩ và Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp
ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
3
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Vào cuối triều Lý, Đại Việt bước vào suy thoái. Trong nước
thì loạn lạc bởi vua Lý Huệ Tông thường xuyên đau yếu, hơn nữa
tính tình lại nhu nhược nên không coi trọng việc triều chính. Bên
ngoài, các nước phía nam là Chiêm Thành, Chân Lạp thường đem
quân sang quấy nhiễu. Còn ở phương bắc, đế quốc Mông Cổ ngày
một lớn mạnh và bành trướng từ khắp Âu sang Á, trở thành mối đe
dọa cho các nước ở phương Nam trong đó có nước Tống (Trung
Quốc), Đại Lý (Vân Nam, nay thuộc Trung Quốc) và Đại Việt.
5
https://thuviensach.vn
Lúc này, họ Trần đã nắm giữ mọi chức vụ trọng yếu trong triều.
Đến năm 1224, vua Lý Huệ Tông đi tu, nhường ngôi lại cho người
con gái mới bảy tuổi là Lý Phật Kim tức vua Lý Chiêu Hoàng, vua
cuối cùng của nhà Lý. Ngay sau đó, quan Điện tiền Chỉ huy sứ là
Trần Thủ Độ đã thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lấy cháu mình là
Trần Cảnh - lúc đó cũng mới bảy tuổi. Năm sau (1225), Thủ Độ
dàn cảnh để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho Trần Cảnh. Như
vậy, triều Lý chấm dứt sau 9 đời vua, kéo dài 126 năm (1009-1225).
6
https://thuviensach.vn
Trần Cảnh lên ngôi tức Trần Thái Tông. Chiêu Hoàng được
phong làm Hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh. Còn Trần Thủ Độ được
phong làm Thái sư. Vua Trần Thái Tông (1218-1277) rất khôi ngô,
tuấn tú, mũi cao, nét uy nghi, dáng đi đường bệ. Tư chất vua lại
thông minh còn tính tình thì gan dạ. Dù là vua đầu tiên của triều
đại mới nhưng Trần Cảnh không có miếu hiệu là Thái Tổ mà chỉ
là Thái Tông vì cha của Trần Cảnh là Trần Thừa vẫn còn sống và
đang giữ chức Phụ quốc Thái úy trong triều.
7
https://thuviensach.vn
Khi Trần Cảnh lên ngôi, Trần Thừa được tôn làm thượng hoàng.
Do vua còn nhỏ tuổi, chưa tự điều hành đất nước, Thượng hoàng
Trần Thừa có quyền quyết định đối với những việc lớn của đất
nước. Ông có cung riêng, được gọi là cung Phụng Thiên. Trong
thời gian Trần Thừa còn sống, ông lo giúp đỡ vua nhỏ trong việc
triều chính, còn Trần Thủ Độ lo việc dẹp các cuộc nổi loạn đang
xảy ra ở nhiều nơi trong nước.
8
https://thuviensach.vn
Trần Thừa nhiếp chính được 9 năm thì mất (1234), chỉ còn một
mình Trần Thủ Độ quyết đoán mọi việc cho đến khi vua trưởng
thành. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rằng: “Trần Thủ Độ
tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người”. Ông đã củng cố
thế lực nhà Trần bằng những biện pháp cứng rắn, bởi ông hiểu dù
nhà Trần đã lên ngôi báu nhưng vẫn nhiều người thương tiếc triều
Lý, mong phục hồi triều Lý.
9
https://thuviensach.vn
Đầu tiên, Trần Thủ Độ tìm mọi cách loại bỏ ảnh hưởng của
nhà Lý trong xã hội. Vua Huệ Tông tuy đã đi tu nhưng thường ra
chợ chơi, có nhiều người đón gặp, khóc thương. Trần Thủ Độ biết
chuyện bèn ép Lý Huệ Tông vào tù ở chùa Chân Giáo nằm sâu
trong hoàng cung, nhằm tách biệt vua cũ với dân chúng. Ít lâu sau
Thủ Độ bức ông phải tự tử. Hoàng hậu vua Lý là Trần Thị Dung
bị giáng làm Thiên Cực Công chúa (sau trở thành vợ Trần Thủ
Độ, được phong làm Linh Từ Quốc mẫu).
10
https://thuviensach.vn
Các tướng lĩnh trung thành với nhà Lý cũng bị Trần
Thủ Độ tìm cách tiêu diệt. Ai may mắn trốn thoát thì
thay tên đổi họ, sống mai danh ẩn tích. Đặc biệt có hoàng
tử Lý Long Tường cùng gia quyến mang binh thuyền
vượt biển để tránh sự truy bức. Sau bao nhiêu ngày,
thuyền cập xứ Cao Ly (Triều Tiên ngày nay). Trần Thủ
Độ còn lấy cớ rằng chữ Lý đã phạm húy vì tên ông nội
vua Trần Cảnh là Trần Lý mà buộc những người mang
họ Lý, dù không phải hoàng thân quốc thích cũng phải
đổi thành họ Nguyễn.
11
https://thuviensach.vn
Nhưng trên tổng thể, Trần Thủ Độ có công trong việc dẹp loạn
và chấn hưng đất nước. Bấy giờ, các thế lực ở một số địa phương
nổi lên cát cứ, đặc biệt có Đoàn Thượng ở Hồng châu (Hải Dương)
và Nguyễn Nộn ở Bắc Giang là hùng mạnh nhất. Thủ Độ điều động
quân lính đi đánh dẹp. Thấy hai lực lượng này còn mạnh, ông thay
đổi chiến lược, không dùng quân sự để đàn áp mà thực hiện chính
sách chiêu dụ và chia rẽ.
12
https://thuviensach.vn
Trần Thủ Độ xin vua phong cho Nguyễn Nộn làm Hoài Đạo
vương, cho cai quản một số huyện ở Bắc Giang đồng thời cũng
phong tước cho Đoàn Thượng và định ngày làm lễ thề chung. Tuy
thế, vào ngày định ước, Thượng không đến dự, lại còn xây thành
đắp lũy, đào hào, bắt dân làm lính, tự mình làm chủ một cõi Hồng
châu. Nguyễn Nộn đem quân đến đánh, giết chết Đoàn Thượng.
Con của Thượng chống đỡ không nổi, phải quy hàng. Từ đấy thanh
thế của Nguyễn Nộn ngày càng lớn.
13
https://thuviensach.vn
14
https://thuviensach.vn
Lấy cớ Nguyễn Nộn giết được Đoàn Thượng,
Trần Thủ Độ cho người mang thư đến mừng, lại
đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho Nộn với mục
đích dùng nàng để dò la binh tình. Dường như biết
được ý định ấy, Nguyễn Nộn sai lính dựng cho công
chúa một cung riêng biệt để ở. Vì vậy Ngoạn Thiềm
cũng không nghe ngóng được chuyện gì.
15
https://thuviensach.vn
Đắc thắng, Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng vương và mặc
sức ăn chơi. Tuy thế, Nộn cũng biết là phải phục tùng nhà Trần
nên xin hẹn ngày vào bái kiến vua Thái Tông. Nhưng hôm ấy Nộn
lại lâm bệnh nặng, không thể vào chầu được. Trần Thủ Độ cho
người đến thăm. Nguyễn Nộn giấu bệnh, cố gượng dậy ăn cơm
và phi ngựa trước mặt sứ giả để tỏ ra mình vẫn khỏe mạnh nhưng
mấy ngày sau thì chết.
16
https://thuviensach.vn
Từ đấy trong nước hết loạn lạc, Trần Thủ Độ tập trung sức lực
xây dựng cơ đồ, ổn định việc nội trị. Để kiểm soát số dân trong
nước, ông đặt ra lệ ghi chép danh sách các hộ dân tại các thôn xã
vào sổ. Sử cũ ghi rằng ông là người rất công bằng, trong một lần
duyệt hộ khẩu, bà Linh Từ, vợ của Trần Thủ Độ, muốn xin cho
người quen của mình làm một chức trong xã. Ông bèn ghi tên họ,
quê quán của người ấy và cho gọi đến.
17
https://thuviensach.vn
Khi người quen của bà Linh Từ hớn hở đến trình diện, Trần Thủ
Độ bảo: “Ngươi vì có công chúa (tức bà Linh Từ) xin cho làm Câu
đương(*), thế thì không thể xem ngươi như những Câu đương khác.
Do đó phải chặt một ngón chân của ngươi để phân biệt”. Người ấy
hoảng hồn, van xin không nhận chức để khỏi bị chặt ngón chân.
Từ đó, không ai dám nhờ ông ưu ái cho những việc riêng tư nữa.
* Một chức dịch nhỏ về trật tự an ninh ở trong xã.
18
https://thuviensach.vn
Thái sư Trần Thủ Độ rất đề cao trật tự, pháp luật trong nước
và chính ông cũng rất gương mẫu thực hiện. Có lần bà Linh Từ
ngồi kiệu định đi qua chỗ cấm thì bị một người quân hiệu(*) chặn
lại. Rất tức giận nhưng không làm gì được, bà đành phải về nhà
than vãn với chồng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu lại
dám khinh nhờn như thế ư?”. Thái sư cho bắt người quân hiệu ấy
xét hỏi. Nhưng khi biết sự thật, ông nói: “Ngươi ở chức thấp mà
còn biết giữ phép nước như thế, ta trách sao được” rồi thưởng bạc
cho người ấy.
* Người lính có nhiệm vụ gác cổng.
19
https://thuviensach.vn
Việc làm của Trần Thủ Độ khiến nhiều người nể phục, vì thế
luật lệ, phép tắc trong triều được nghiêm minh. Nhưng cũng có
người thấy quyền lực của Thủ Độ quá lớn nên lo lắng tâu với vua
Trần Thái Tông: - “Nay Bệ hạ đang tuổi nhỏ mà Trần Thủ Độ
lại chuyên quyền thì việc xã tắc tính thế nào?”. Nghe vua kể lại,
Trần Thủ Độ tâu: - “Kẻ kia nói đúng, thần quả có chuyên quyền.
Nhưng các quan đều giả câm, chỉ có kẻ kia là dám nói thật. Muốn
xã tắc hưng thịnh thì phải khuyến khích người ta nói thẳng, nói
thật”. Rồi ông xin vua thưởng vàng bạc cho người ấy.
20
https://thuviensach.vn
Nhưng đôi khi, vì quyền lợi của dòng họ, Trần Thủ Độ cũng
có những việc làm thái quá. Đó là vào năm Đinh Dậu (1237), vua
Thái Tông đã 20 tuổi mà hoàng hậu vẫn chưa có con. Việc nhà vua
không có con đe dọa đến sự bền vững của ngai vàng. Bởi vậy, Trần
Thủ Độ ép vua phải phế Chiêu Thánh, rước vợ của Trần Liễu là
Thuận Thiên (Thuận Thiên là chị ruột của Chiêu Thánh) khi ấy đã
có mang ba tháng, về lập làm Hoàng hậu để vua có người nối dõi.
21
https://thuviensach.vn
Trần Liễu bèn tụ tập quân lính nổi loạn ở sông Cái (sông Hồng)
còn vua Trần Thái Tông thì bất bình, đang đêm một mình một
ngựa lẻn trốn khỏi thành, nhắm núi Yên Tử mà đến. Khi tới Phả
Lại, con ngựa đuối sức, nhà vua liền bỏ ngựa, đi bộ. Mấy ngày sau
mới lên được chùa Phù Vân trên núi Yên Tử. Sư trụ trì chùa vốn
là bạn cũ của nhà vua, nên vua ở lại đấy.
22
https://thuviensach.vn
Trần Thủ Độ biết tin, đem quần thần đi đón.
Vua không chịu về, bảo: “Trẫm còn nhỏ dại, phụ
hoàng đã vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, không
dám ở ngôi vua để làm nhục xã tắc”. Cố nài hai,
ba lần, nhà vua vẫn không chịu về, Thái sư bèn
bảo mọi người: “Xa giá ở đâu là triều đình ở đấy”.
Rồi sai cắm mốc, chia địa hình trong núi mà cho
xây dựng cung điện. Sư trụ trì thấy vậy, tâu: “Bệ
hạ nên hồi cung, chớ để người ta làm hại núi rừng
của đệ tử”. Vua Thái Tông nghe theo, buộc phải
hồi cung.
23
https://thuviensach.vn
Trần Liễu cũng biết sức mình thế cô, không chống chọi được
với người chú họ mưu lược và quyết đoán nên một hôm nhân lúc
nhà vua đi chơi thuyền ở ngoài sông, ông giả dạng làm người đánh
cá, đi thuyền độc mộc đến xin hàng. Trần Thủ Độ nghe tin, vội
kéo quân đến vây thuyền rồng, rút gươm quát lớn:
- Giết chết tên giặc Liễu!
24
https://thuviensach.vn
Nhà vua vội đưa thân mình ra che chở cho anh trai và phân trần:
- Phụng Càn vương (tên hiệu của Trần Liễu) đến hàng đó thôi!
Trần Thủ Độ tức lắm nhưng cũng không dám làm gì đành ném
gươm xuống sông, thốt lên:
- Thủ Độ này chỉ là con chó săn thôi, biết đâu sự thuận nghịch
của anh em nhà ngươi!
25
https://thuviensach.vn
Sau khi thuyết phục Trần Thủ Độ bãi binh, vua Thái Tông cấp
cho Trần Liễu vùng đất An Sinh (nằm ở hai huyện Đông Triều và
Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay) làm thái ấp và phong ông
làm An Sinh vương. Tuy vậy Trần Liễu vẫn mang nỗi oán hận
trong lòng. Mâu thuẫn này khiến trong hoàng tộc có nhiều chia
rẽ và phải đến đời con Trần Liễu là Hưng Đạo vương Trần Quốc
Tuấn mới được cởi bỏ.
26
https://thuviensach.vn
Lúc này, vua Trần Thái Tông đã đảm đương được việc triều
chính và có những quyết định sáng suốt. Nhà vua còn là người rất
gan dạ. Vào mùa đông năm Tân Sửu (1241), vua thân chinh đi
tuần ở biên giới bằng đường thủy. Đến địa giới của nhà Tống, vua
bỏ thuyền lớn dùng ba thuyền nhỏ là Kim Phượng, Nhật Quang,
Nguyệt Quang để đi vào đất Tống, đến tận châu Liêm, châu Khâm.
Khi bị dân địa phương phát hiện và chăng dây xích ngang sông để
cản đường, vua bình thản cho quân lên bờ tháo xích rồi ung dung
theo đường cũ mà về.
27
https://thuviensach.vn
Trần Thủ Độ vẫn hết mình giúp đỡ vua Thái Tông trong việc
điều hành đất nước. Nhờ vua tôi một lòng mà Đại Việt đã dần ổn
định và ngày một hưng thịnh. Nhà Trần vẫn giữ lệ cử hành lễ thề
Đồng Cổ vào ngày mồng 4 tháng tư âm lịch hàng năm như dưới
triều Lý để buộc các quan phải trung thành với triều đình. Hôm
ấy, trăm quan ăn mặc chỉnh tề, chực ngoài cửa thành từ lúc gà gáy
cho đến mờ sáng thì tiến vào triều. Vua thì ngự sẵn ở điện Đại
Minh. Trăm quan vào lậy mừng rồi cùng nhau rầm rộ tiến ra cửa
tây kinh thành để đến đền Đồng Cổ.
28
https://thuviensach.vn
Khi tất cả đã quỳ trước đài thờ,
quan Trung thư Kiểm chính đọc lời
thề: “Làm tôi phải tận trung, làm
quan phải thanh bạch; ai trái lời thề
thì thần linh trừng phạt”. Lời thề đọc
xong, quan Tể tướng sai đóng cửa
lại để điểm danh. Người nào vắng
mặt thì phạt 5 quan tiền(*). Ngày hôm
ấy, con trai con gái từ khắp nơi kéo
về kinh đô để xem lễ thề, để chiêm
ngưỡng trăm quan và cũng để vui
chơi hội hè. Dần dà, lễ thề Đồng Cổ
cũng là ngày hội của dân chúng.
_________
* Dưới thời Lý thì phạt đánh 50 trượng.
29
https://thuviensach.vn
Nhà Trần đặc biệt ưu đãi giới quý tộc họ Trần. Chỉ có người
họ Trần mới được giữ những chức vụ quan trọng. Giới quý tộc họ
Trần đóng vai trò quyết định trong bộ máy quan lại và quân đội.
Họ còn được cấp đất để lập những thái ấp rộng lớn và được nuôi
rất nhiều gia nô trong thái ấp của mình.
30
https://thuviensach.vn
HỆ THỐNG QUAN LẠI NHÀ TRẦN
(1226 - 1400)
Các quan lại khác đều có lương và ruộng đất, nhưng ruộng đất
của quan lại thì nhỏ hơn thái ấp hoàng tộc. Hệ thống quan lại được
định chế rõ ràng. Cấp quan cao nhất là Tam công, Tam thiếu, Thái
úy, Tư mã, Tư đồ, Tư không. Ở dưới là các quan văn võ chia làm
hai: quan nội chức làm ở các bộ tại triều và quan ngoại chức làm
việc tại các địa phương. Cứ 15 năm thì quan được lên chức một lần.
31
https://thuviensach.vn
Từ năm 1242, nước Đại Việt được chia làm 12 lộ(*). Mỗi lộ có
quan cai trị là An phủ sứ. Giúp việc cho An phủ sứ là Chánh phủ
sứ và Phó phủ sứ. Dưới lộ là phủ, châu, huyện do các quan Đại tư
xã hay Tiểu tư xã trông coi. Quan Đại tư xã phải từ ngũ phẩm trở
lên, còn quan Tiểu tư xã thì lục phẩm trở xuống. Đơn vị dưới cùng
là làng xã do Xã quan quản lý, gồm Xã chính, Xã sử và Xã giám.
* Tương đương với tỉnh này nay.
32
https://thuviensach.vn
Tổ chức quân đội thời Trần có một bước tiến đáng kể so với
trước. Đặc biệt số lượng quân thường trực khá lớn, có thể lên đến
20.000 người. Quân triều đình gồm Cấm quân và các quân địa
phương (quân các lộ). Giống như các thời Đinh, Lý trước, Cấm
quân (quân cấm vệ) thời Trần có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều
đình. Binh lính trong Cấm quân được tuyển chọn cẩn thận từ các
hương ấp quê hương họ Trần nên hết sức trung thành.
33
https://thuviensach.vn
Quân địa phương có nhiệm vụ bảo vệ các lộ và tham gia chiến
trận khi có chiến tranh. Ngoài Cấm quân và quân các lộ, nhà Trần
còn có lực lượng vũ trang của các nhà vương hầu để bảo vệ điền
trang thái ấp và tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước khi cần. Đáng
chú ý là một vương hầu có thể có hàng ngàn quân.
34
https://thuviensach.vn
Như triều Lý, nhà Trần cũng thi hành chính sách “ngụ binh ư
nông”. Tất cả dân tráng trong nước đều phải đi lính. Số quân đi
binh dịch này được phiên chế thành đô, ngũ(*) để luyện tập, hết hạn
lại trở về làm ruộng, khi nào có việc thì mới điều động.
* Một ngũ gồm 5 người, 10 ngũ là một đô.
35
https://thuviensach.vn
Quân đội nhà Trần đã bắt đầu có sự phân biệt giữa quân thủy
và quân bộ. Ngoài ra còn có cả đội tượng binh và kỵ binh. Binh
lính được tập luyện kỹ lưỡng, có kỷ luật và quyết tâm cao còn các
tướng thì không chỉ tinh thông võ nghệ mà còn giỏi cả binh pháp.
Chính vì vậy, quân đội nhà Trần không chỉ có lực lượng mạnh mà
còn có kĩ thuật chiến đấu khá cao.
36
https://thuviensach.vn
Bên cạnh việc xây dựng quân đội, nhà Trần rất chú trọng đến
nông nghiệp - sức mạnh kinh tế chủ yếu thời ấy. Ruộng có hai loại
là ruộng công và ruộng tư. Giống như thời Lý, ruộng công thuộc
về nhà nước phần lớn là ruộng quốc khố do nông nô, binh lính và
tù nhân cày cấy để thu lợi tức cho triều đình. Ngoài ra còn có một
phần dành cho việc thờ cúng các vị vua khởi nghiệp và công thần
(ruộng Sơn Lăng) và một số ít để vua cày tịch điền hàng năm.
37
https://thuviensach.vn
Còn ruộng công ở các làng xã gọi là quan điền (công điền) hay
quan điền bản xã do làng xã quản lý. Nông dân các làng xã chia
nhau cày cấy và đóng tô cho nhà nước. Nhà vua có quyền lấy số
ruộng của các làng xã phong cho quý tộc làm thái ấp hoặc ban
phong cho các công thần làm bổng lộc. Khi đó, ruộng này vẫn do
nông dân ở đó cày cấy nhưng tô thuế không nộp cho nhà nước mà
nộp cho người được cấp ruộng.
38
https://thuviensach.vn
Ruộng tư đã có từ thời Lý, sang thời Trần thì phát triển hơn do
từ năm 1254, vua Thái Tông cho phép bán quan điền (ruộng công
làng xã) cho dân. Mỗi diện(*) được bán với giá 5 quan. Do đó, tầng
lớp nông dân tư hữu cũng nhiều hơn trước. Ai có ruộng thì tùy theo
số lượng mà đánh thuế bằng thóc. Ngoài ra, nhà vua còn định ra
những luật lệ nghiêm khắc trong việc tranh chấp ruộng đất.
* Như mẫu bây giờ.
39
https://thuviensach.vn
Để bảo vệ nông nghiệp, vua Thái Tông cho lập cơ quan Hà đê
trông coi việc đê điều, đứng đầu là Hà đê chánh sứ và Hà đê phó
sứ. Hằng năm, vào tháng giêng, quan Hà đê phải thân hành đi đốc
thúc dân đinh tu bổ lại hệ thống đê điều đã có từ trước. Đây được
xem như một việc chung, dù giàu hay nghèo, cao sang hay thấp
hèn đều phải tham gia. Công việc này được tiến hành cho đến đầu
mùa hạ phải xong. Đến khi nước sông dâng cao lại phải tuần tra,
canh gác để kịp thời sửa chữa những chỗ sạt lở.
40
https://thuviensach.vn
Vào tháng 3 năm Mậu Thân (1248), nhà vua huy động tất cả
các quan dân ở các lộ ven sông Cái (sông Hồng) đắp một con đê
rất lớn gọi là Đỉnh Nhĩ (tức đê Quai Vạc). Đê chạy dài ven hai
bên bờ sông, bắt đầu từ thượng nguồn cho đến biển. Nếu chỗ đê
nào lấn vào ruộng đất của dân thì nhà nước chiếu theo giá ruộng
đất mà bồi thường. Đê sông Hồng được các đời sau tu bổ, đến nay
vẫn là công trình phòng chống lũ lụt rất hiệu quả.
41
https://thuviensach.vn
Đi đôi với đắp đê là đào sông, tháng giêng năm Tân Mão (1231),
vua Thái Tông cho đào kênh Trầm, kênh Hào từ phủ Thanh Hóa
đến Diễn châu (Nghệ An). Năm 1248, vua lại cho đào sông Mã,
sông Lễ và đào kênh xuyên qua núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa.
Năm 1256, triều đình cho vét sâu sông Tô Lịch để đảm bảo giao
thông và phòng thủ kinh thành.
42
https://thuviensach.vn
Công thương nghiệp đời Trần có những bước phát triển mới.
Các phường thủ công mở rộng hơn trước, hình thành thêm một số
làng nghề chuyên môn. Đặc biệt, nghề gốm rất phát triển với các
loại sản phẩm như gạch, ngói, thạp, hũ, bát,... được buôn bán rộng
rãi trong cả nước. Hàng gốm cao cấp không chỉ được dùng trong
cung điện, các phủ đệ mà còn làm cống phẩm bang giao và buôn
bán với nước ngoài.
43
https://thuviensach.vn
Kinh thành Thăng Long được tu bổ và mỏ rộng, có chợ búa,
phố xá,... Người qua lại buôn bán đông đúc. Vùng phụ cận xung
quanh kinh thành đã được khai phá và lập thành “thập tam trại” từ
thời Lý, nay càng mở rộng và trở thành những vùng chuyên canh
nông nghiệp ổn định.
44
https://thuviensach.vn
45
https://thuviensach.vn
Buôn bán trao đổi với các nước khác được mở rộng. Hải cảng
chính cho tàu buôn nước ngoài đến là bến Vân Đồn bên ngoài vịnh
Hạ Long (Quảng Ninh). Các tàu buôn từ Trung Quốc và các nước
quanh vùng tấp nập ra vào thương cảng này. Ngày nay, qua khai
quật, người ta còn thấy phế tích thương cảng này ở các đảo Vân
Đồn, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây,...
46
https://thuviensach.vn
Vua Trần Thái Tông còn định lại thuế lệ và pháp luật. Người
trong nước được phân ra từng hạng(*). Thuế thân phải đóng bằng
tiền chứ không phải đóng bằng thóc như thuế ruộng. Nếu không
có ruộng thì được miễn. Các giấy tờ, đơn từ, khế ước đều dùng
lệ điểm chỉ - in nửa ngón tay vào tờ giấy - để làm bằng. Nhờ thế,
công việc hành chính tiến hành khá kỉ cương. Tuy nhiên, hình luật
lại khá nặng, người phạm tội trộm cắp phải bị chặt chân hoặc chặt
tay, thậm chí còn bị cho voi giày.
* Con trai từ 18 tuổi gọi là tiểu hoàng nam, trên 20 tuổi gọi là đại hoàng nam,
trên 60 tuổi là lão, còn già lắm thì được gọi là long lão (người già mỏi mệt).
47
https://thuviensach.vn
Đối với quý tộc và quan lại, vua Trần Thái Tông cũng định ra
quy chế để phân biệt thứ bậc. Từ ngũ phẩm trở lên đều được đi
kiệu, ngựa và võng. Kiệu của quý tộc có đầu đòn chạm con chim
phượng và sơn son đỏ. Nếu là quan tướng quốc thì đầu đòn chạm
chim phượng và sơn đen, lọng màu tía. Từ tam phẩm trở lên dùng
kiệu đầu đòn chạm mây, lọng xanh. Quan tứ phẩm, ngũ phẩm dùng
kiệu bằng đầu và cũng lọng xanh. Riêng các quan lục thất phẩm
dùng lọng màu đen...
48
https://thuviensach.vn
 





