Lich su Viet Nam bang tranh 24 Chien thang quan Mong lan thu ba

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:07' 20-08-2025
Dung lượng: 6.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Oanh
Ngày gửi: 17h:07' 20-08-2025
Dung lượng: 6.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
khôi
Tái bản lần thứ tư
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Huy Khôi
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Chiến thắng giặc Nguyên Mông lần thứ ba / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh
Trân biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Huy. - Tái bản lần thứ 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
112 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.24).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Tran dynasty, 1225-1400 — Pictorical works.
959.7024 — dc 22
C533
Lời giới thiệu
Dù đã hai lần thảm bại nhưng Nguyên Mông vẫn chưa
bao giờ nguôi ý định xâm lăng Đại Việt để báo thù cho những
những nhục nhã trong hai lần xâm lược trước. Nhà Nguyên
huy động hơn 50 vạn quân thủy, bộ cho việc báo thù này.
Dù có sự chuẩn bị chu đáo, nhưng một lần nữa nhà Trần
vẫn đẩy lùi cuộc xâm lược quy mô của nhà Nguyên, giữ vững
bờ cõi và nền độc lập, tự chủ. Trận Bạch Đằng cũng được
ghi nhận là một trong những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử
nước ta. Giải thích cho thất bại của quân Nguyên cũng như
chiến thắng của Đại Việt, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
đã nói rằng: “Vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước nhà
góp sức”. Đấy cũng chính là nguyên nhân thắng lợi của cả ba
cuộc kháng chiến chống Nguyên trong thế kỷ 13 của nước ta.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 24 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chiến thắng giặc Nguyên
Mông lần ba” phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn,
phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 24 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Tuy hai lần thất bại nhưng nhà Nguyên vẫn chưa
nguôi tham vọng xâm chiếm Đại Việt. Nhà Nguyên chuẩn
bị quân hùng tướng mãnh tiến vào Đại Việt thế mà khi
tàn cuộc, lớp thì chạy trốn, lớp thì mất mạng, lớp thì bị
bắt sống.
Quân dân Đại Việt với sự lãnh đạo của bậc minh quân
cùng tài năng của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã
kiên cường, dũng cảm đây lui cuộc xâm lược thứ ba của
Nguyên Mông, giữ vẹn độc lập, bờ cõi nước nhà.
4
Sau chiến thắng quân Nguyên vào năm 1285, nhà Trần chú
trọng đến việc củng cố đất nước. Thượng hoàng Thánh Tông và
vua Trần Nhân Tông tuyên phong cho những người có công như
Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Quốc
Toản, Trần Bình Trọng, Trần Khánh Dư... Đồng thời nhà vua trị
tội những người đã hèn nhát quy hàng theo giặc. Riêng Trần Ích
Tắc và Trần Kiện chạy sang Nguyên, nhà vua cho gọi một cách
giễu cợt là Ả Trần và Mai Kiện.
5
Tất cả số dân trong nước được kiểm tra để xác định lại số trai
tráng đi lính phòng khi lại xảy ra chiến tranh. Qua năm sau, vua
Trần cho tha tất cả tù binh Nguyên gồm 50 ngàn tên. Để phòng
chúng lại trở lại đánh Đại Việt, nhà vua cho khắc chữ lên mặt
để làm dấu và răn đe nếu kẻ nào lại sang thì sẽ bị chém đầu chứ
không được tha nữa.
6
Lúc ấy chúa Nguyên là Hốt Tất Liệt đang mở chiến dịch xâm
lăng quần đảo Nhật Bản. Đạo quân của hắn vượt đại dương gặp
bão nên bị đắm nhiều thuyền chiến. Khi đổ bộ lên đất Nhật, số
quân còn lại bị người Nhật đánh cho tơi bời, chỉ còn ba tên trốn
thoát về cấp báo tình hình khốn đốn. Hốt Tất Liệt chuẩn bị điều
tiếp quân qua hỗ trợ. Nhưng thất bại ở Đại Việt làm cho hắn
lúng túng.
7
Thấy con trai phải chui ống đồng cùng đám tàn quân lếch thếch
kéo về, chúa Nguyên hết sức tức tối. Hắn quyết định đình lại việc
xâm lăng Nhật Bản và dồn thuyền chiến, chuẩn bị tiến đánh Đại
Việt lần nữa để phục thù. Hắn tiếp tục sai sứ sang Đại Việt dò xét
tình hình. Triều đình nhà Trần không muốn gây căng thẳng, đành
phải tiếp đón như trước.
8
Tháng Giêng năm Bính Tuất (1286) Hốt Tất Liệt cùng triều
đình nhà Nguyên hội bàn kế hoạch đánh chiếm Đại Việt. Thoát
Hoan (*) vẫn thống lĩnh toàn quân. A Lý Hải Nha (**) được phong
làm An Nam Tả Thừa tướng, Ô Mã Nhi (***) làm Tham tri. Ngoài
ra còn có một số tướng lão luyện khác như Ái Lỗ (****), các tướng
người Hán Phàn Tiếp, Trình Bằng Phi,...
(*) tên Mông Cổ là Toghan.
(**) là Ariq Quaya, tên này mấy tháng sau chết bệnh, thay bằng Áo Lỗ Xích
(Auruyvci), một tên tướng thông thạo cả kỵ binh và thủy binh.
(***) tên Mông Cổ là Omar Batur
(****) tên Mông Cổ là Aruq
9
Rút kinh nghiệm hai lần đánh Đại Việt trước, lần này Hốt Tất Liệt
chú trọng đến việc xây dựng một lực lượng thủy quân hùng hậu.
Hắn ra lệnh cho tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền chiến, hẹn đến
tháng 8 phải xong và tập trung ở châu Khâm (Quảng Đông - Trung
Quốc). Ngoài ra hắn còn sử dụng bọn cướp biển để sung vào đội quân
thủy với hy vọng bọn này đi lại thành thạo trên biển lại khỏe mạnh,
hung tợn, sẽ trở thành những tên lính thủy thiện chiến.
10
Để có danh nghĩa đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt lại lập một triều
đình bù nhìn. Hắn phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương,
cho nhận phù ấn. Con trưởng của Ích Tắc được nhận chức An Phủ
sứ lộ Đà Giang, Trần Văn Lộng làm Tuyên Phủ sứ lộ Quy Hóa...
Sau đó, hắn gửi thư sang Đại Việt kể tội vua Trần đã giết Di Ái
nên hắn phải đem Trần Ích Tắc về thế chỗ.
11
Tháng hai năm Đinh Hợi (1287), chúa Nguyên xuống chiếu
cho các tỉnh sát biên giới Đại Việt là Giang Tây, Hồ Quảng, Hải
Nam... mộ quân và sắm sửa lương thực, khí giới. Những vùng
này sau nhiều năm phục dịch cho các cuộc xâm lược liên tiếp
của quân Nguyên khiến dân tình xơ xác, đói khổ. Quan lại ở Hồ
Quảng cũng đã phải kêu: “Người nghèo phải bỏ con để cầu sống,
kẻ giàu cũng phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị
treo ngược, mỗi ngày một tăng...”.
12
Nhưng còn một điều khiến Hốt Tất Liệt lo nghĩ. Với số quân
vài chục vạn, nhà Nguyên phải huy động một lượng lương thực
khổng lồ đem theo. Trong cánh hành binh, thường lương thực phải
đi cùng với quân lính. Bởi vậy, hai lần đánh Đại Việt trước đây,
quân Nguyên lập các trạm ở dọc đường rồi cho phu vận lương
bằng đường bộ. Nay với 17 vạn thạch, nếu đi đường bộ thì phải
cần số phu khuân vác gần tương đương với số quân lính. Như vậy
thì số lương này chỉ vừa đủ để nuôi phu.
13
Cuối cùng, sau nhiều ngày suy tính, Hốt Tất Liệt chỉ để lại một
số lương vừa đủ ăn cho cuộc hành quân với hy vọng vừa đánh vừa
cướp thêm thóc gạo của dân Đại Việt. Còn lại phần lớn, hắn đành
liều lĩnh chọn phương án tải lương bằng đường thủy, tức là giao
phó nồi cơm của cả đại quân trên bộ cho biển cả mênh mông. Để
yên tâm hơn, hắn cử Trương Văn Hổ, con trai một tên cướp biển
người Tống (Trung Quốc) giữ chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ,
có nhiệm vụ áp tải 70 thuyền lương bám theo đoàn thuyền chiến.
14
Sau khi chuẩn bị đầy đủ, vào cuối
năm Đinh Hợi (1287), quân Nguyên
xuất phát từ Ngạc Châu (Hồ Bắc),
khi đến Lai Tân thì chia đường đi
các ngả. Hướng tiến quân trên bộ
của quân Nguyên lần này cũng
giống như các lần trước. Tháng 11
năm ấy, một đạo quân mấy vạn tên
do Ái Lỗ chỉ huy tiến theo hướng
Vân Nam để vào Đại Việt theo ngả
sông Thao.
15
Trong khi đó, đại quân của Thoát Hoan rầm rầm rộ rộ kéo đến
Tư Minh, một điểm gần biên giới Đại Việt. Hắn đóng quân lại
đây một thời gian ngắn để điểm binh và điều quân. Sau đó, Thoát
Hoan sai Trình Bằng Phi dẫn một vạn quân tiến vào nước ta theo
ngả phía tây; còn hắn dẫn số quân còn lại, trong đó có mặt vạn
quân tiên phong của A Ba Tri (*), tiến vào theo ngả phía đông.
Lếch thếch theo sát phía sau quân Nguyên là đám triều đình bù
nhìn Trần Ích Tắc, tuy vô cùng sợ hãi nhưng lòng cũng tràn trề
biết bao hy vọng.
(*): tên Mông Cổ là Abaci
16
Riêng đạo quân thủy có khác lần trước, được chuẩn bị chu
đáo, gồm khoảng 1 vạn 8 ngàn tên với 500 thuyền chiến do Ô
Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy cùng 70 thuyền vận
tải lương do đám cướp biển Trương Văn Hổ áp
tải. Đạo quân này tập trung ở châu Khâm và
châu Liêm, xuất phát theo đường biển
sớm hơn quân bộ khoảng nửa tháng
để xâm nhập Đại Việt qua cửa sông
Bạch Đằng.
17
Tin tức về việc chuẩn bị của quân Nguyên đã được các tỉnh biên
giới cấp báo về cho vua Trần từ rất sớm. Thượng hoàng Thánh
Tông và vua Nhân Tông đã lệnh cho các vương hầu chỉnh đốn
binh ngũ để ngày đêm tập luyện; đồng thời chuẩn bị lương thực,
vũ khí, đóng thêm tàu thuyền... Biết rõ dã tâm của giặc, nhà vua
không khỏi lo nghĩ. Trong một buổi luận bàn cùng Hưng Đạo
Vương, ngài hỏi:
- Thế giặc năm nay thế nào?
18
Hưng Đạo Vương cân nhắc cẩn thận rồi trả lời:
- Lần trước, nước ta do sống thái bình lâu năm, dân chưa quen
việc binh, cho nên khi quân Nguyên xâm lấn, ta gặp nhiều lúng
túng, hoặc có người đầu hàng trốn lánh. Nay chúng lại sang thì
quân ta đã quen việc đánh dẹp, còn chúng thì phải đi xa, và đã từng
bị bại, không có lòng chiến đấu nữa. Cứ ý thần xem thì tất đánh
tan được.
19
Nhà vua nghe vậy, càng vững tâm. Các quan đề nghị cho chọn
trai tráng khỏe mạnh để sung thêm vào lính, nhưng Hưng Đạo
Vương không đồng ý, ông nói:
- Quân cần tinh chứ không cần nhiều. Dù có đến trăm vạn quan
mà không giỏi thì cũng bị thua mà thôi.
20
Vào tháng 10 năm Đinh Hợi (1287), Hưng Đạo Vương cho các
tướng đem quân đi đóng các nơi hiểm yếu. Việc phân công cũng
không có gì khác trước, vẫn là Trần Nhật Duật chốt giữ ở phía
Bạch Hạc sông Thao, Trần Hưng Đạo cùng các con chốt giữ phía
Bắc Giang, Lạng Sơn. Còn Trần Quang Khải lo phía nam và bảo
vệ hai vua khi cần rút chạy khỏi Thăng Long.
21
Riêng việc phòng vệ phía biển, lần trước đã giao cho Trần
Khánh Dư làm Phó tướng phụ trách Vân Đồn. Đây là một thương
cảng quan trọng nơi địa đầu đất nước, tàu bè các nước ra vào tấp
nập; nhưng cũng là một chốt tiền tiêu xung yếu. Vì vậy, để bảo
mật, Trần Khánh Dư cho xây rào gỗ quanh những nơi buôn bán
và quy định trang phục riêng cho dân chúng, phòng quân do thám
của giặc trà trộn.
22
Ngày 23 tháng 11 năm 1287, các cánh quân Nguyên gặp nhau
ở Lộc Bình, một núi kế cận với vùng Lạng Sơn của Đại Việt.
Hôm sau, chúng từ nhiều mũi ào ào tiến qua biên giới. Một vạn
tên do Trình Bằng Phi chỉ huy tiến qua ải Chi Lăng đến Thích
Trúc. Thích Trúc có nghĩa là cửa tre gai, nằm ở phía tây Lạng Sơn.
Ở đây có hai ngọn núi giao nhau, sườn núi vừa hẹp lại vừa mọc
đầy một loại tre có gai nhọn, rất khó vượt qua. Vì vậy, địa thế
nơi đây rất hiểm yếu.
23
Quân Đại Việt chốt giữ ở đây đã mai phục cả trên núi và dưới
núi chờ sẵn, hễ giặc tiến vào là bắn tên độc khiến chúng phải bật
ra. Với lực lượng đông và mạnh mà quân của Trình Bằng Phi
phải đánh đến 17 trận mới vượt qua được chốt này để tiến vào
sâu trong đất Đại Việt.
24
Cùng lúc đó, đại quân của Thoát Hoan do A Ba Tri làm tiên
phong cũng tiến qua ải Khả Lợi. Lần này, Hưng Đạo vương không
chủ ý chặn giặc lúc chúng đang sung sức nên không dàn trận đánh
nhau như hai lần trước mà chỉ cho quân đánh kìm giặc ở một số nơi
nhưng lại cho rút nhanh để bảo toàn lực lượng. Vì thế, chỉ trong
bốn ngày, đại quân của Thoát Hoan đã tiến xuống được Vạn Kiếp.
25
Cũng vào ngày 23 tháng
11, đạo quân của Ái Lỗ từ
hướng Vân Nam, tiến dọc
theo bờ sông Thao đến
Bạch Hạc (Phú Thọ). Hắn
bị quân Đại Việt do Chiêu Văn
vương Trần Nhật Duật chỉ huy,
chặn đánh dữ dội ở cửa sông Việt Trì.
Lúc này, quân Nguyên khí thế đang cao
nên quân Đại Việt không ngăn cản được phải
rút lui. Có hai tướng nhà Trần là Lê Thạch và
Hà Anh không may sa vào tay giặc.
26
Trong khi ấy, về phía biển, đạo quân thủy của Ô Mã Nhi và Phàn
Tiếp cũng đã vào cửa Vạn Ninh (thuộc Móng Cái hiện
nay). Quân Đại Việt do Nhân Đức hầu Trần Da chỉ
huy, phục binh Mũi Ngọc. Đây là một mỏm núi
nhô ra biển, tạo nên một cửa ải tự nhiên,
rất thuận tiện cho việc phòng thủ. Đợi
tiền quân giặc vượt qua, quân Trần
tập kích vào số thuyền đi sau. Ô
Mã Nhi phải quay lại ứng cứu.
Sau đó, chúng vây núi đánh phá
một chặp mới vượt qua được cửa
Ngọc Sơn...
27
Cuối cùng, đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi ồ ạt tiến vào vùng
biển Vân Đồn. Phó tướng Trần Khánh Dư đã chỉ huy thủy quân
Đại Việt chặn đánh quân Nguyên ở nhiều nơi nhưng không cản
được bước tiến của giặc, lại còn bị tổn thất, phải rút lui. Ô Mã Nhi
đắc thắng vượt qua cửa An Bang (tức cửa sông Chanh, Quảng
Yên), ngược theo sông Bạch Đằng tiến về Vạn Kiếp để kịp hội
quân với Thoát Hoan, bỏ mặc đoàn thuyền lương chở nặng đang
chậm chạp phía sau.
28
Biết tin Trần Khánh Dư không thực hiện được trọng trách đã
nhận lãnh trước triều đình, Thượng hoàng Thánh Tông nổi giận,
sai quan Trung sứ bắt ông về kinh đô để xử phạt. Trần Khánh Dư
phán đoán rằng sau khi Ô Mã Nhi đi qua thì
thuyền lương của giặc tất sẽ đến nên bảo:
- Lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội.
Nhưng xin Trung sứ hoãn cho vài ba ngày để
tôi lập công chuộc tội, sau đó sẽ chịu búa rìu
cũng chưa muộn.
29
Được quan Trung sứ chấp thuận, Trần Khánh Dư chỉnh đốn
lại quân ngũ và cho phục binh chờ đợi. Quả nhiên, vào đầu tháng
12 âm lịch, đoàn thuyền lương nặng nề của Trương Văn Hổ mới
ì ạch tiến vào vùng biển Vân Đồn. Trần Khánh Dư đốc thúc quân
lính tập kích thuyền giặc. Mọi người cố sức chiến đấu vì họ hiểu
rằng chỉ có chiến thắng mới cứu được chủ tướng của mình khỏi
tội với triều đình.
30
Những chiếc thuyền đầy lương
chậm chạp, lại không có quân hộ tống
nên không thể chống đỡ được trước sức
tấn công như vũ bão của quân Đại Việt.
Đội hình của chúng nhanh chóng bị rối
loạn. 70 thuyền giặc, số bị chìm, số bị
bắt, số còn lại ném gạo xuống sông để
dễ bề tẩu thoát. Có thuyền chạy tứ tán,
trôi dạt đến tận Chiêm Thành. Tướng
cướp Trương Văn Hổ cũng bỏ của chạy
lấy người, trốn một mạch về Hải Nam.
Có lẽ trong cuộc đời làm cướp biển,
hắn chưa bao giờ bị một phen khiếp
sợ đến như thế.
31
Quân Đại Việt thu được một số thuyền, còn lương thực thì
nhiều không kể xiết. Tin thắng trận lập tức được báo về triều.
Nhận thấy đây là một chiến thắng quyết định, sẽ có ảnh hưởng
to lớn đến thế và lực của quân giặc, Thượng hoàng và vua tha tội
cho Khánh Dư và bảo:
- Quân Nguyên chỉ nhờ về lương cỏ, khí giới. Nay ta đã bắt
được, sợ nó chưa biết còn hung hăng.
Vì vậy, ngài cho thả một số lính Nguyên để về cấp báo cho chủ.
32
Lúc này, Ô Mã Nhi đã hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp và
vẫn chưa hay biết gì về thuyền lương bị đánh. Để biến Vạn Kiếp
thành một căn cứ thủy bộ vững chắc cho quân mình, Thoát Hoan
ra lệnh dừng quân ở đây gần một tháng và cho hai vạn quân án
ngữ ở sông Lục Đầu để bảo vệ. Nghĩ rằng thuyền lương chỉ đến
chậm, hắn sai quân dựng sẵn trại gỗ hai núi Phả Lại và Chí Linh
để chứa lương và sai Ô Mã Nhi cướp thóc gạo của dân để giải
quyết bữa ăn trước mắt.
33
Thời gian này có một toán quân Nguyên khoảng 5000 tên còn
lại ở Tư Minh, dắt díu đám con cháu của những kẻ chiêu hàng
như Trần Dục - con Trần Ích Tắc, Nguyễn Lĩnh, Lê Án... tiếp tục
tiến vào nước ta. Tưởng rằng Đại Việt đã bị chiếm, chúng nghênh
ngang như vào chỗ không người. Vừa đến cửa Nội Bàng
(Lạng Sơn), chúng bị quân giữ ải chặn đánh quyết liệt. Bọn tàn
binh phải tìm đường tháo chạy.
34
Ngày 23 tháng 12, Thoát Hoan bắt đầu chia quân tiến về Thăng
Long. Ô Mã Nhi chỉ huy thủy quân, A Ba Tri chỉ huy quân kỵ bộ.
Phàn Tiếp đem quân hộ vệ Thoát Hoan đi theo sông Đuống. Trần
Hưng Đạo cho quân giữ cửa Đại Than (Gia Bình, Bắc Ninh) để
ngăn quân Nguyên vượt sông Hồng vào Thăng Long. Ngày 26,
tướng nhà Trần là Nguyễn Thức cho lấp cửa sông Đuống và dàn
thuyền cự giặc. Quân của Ô Mã Nhi vượt qua được, tiến đến Gia
Lâm và ra sông Hồng.
35
Khi ấy, cánh quân đi theo đường Vân Nam của Ái Lỗ cũng đang
trên đường tiến về Thăng Long để phối hợp cùng quân của Thoát
Hoan. Trên đường tiến quân, Ái Lỗ đã phải giao tranh với quân Đại
Việt gần 20 lần. Quân Đại Việt vừa đánh vừa rút với mục đích làm
tiêu hao sinh lực địch và bảo toàn lực lượng của mình. Cuối cùng,
Ái Lỗ cũng gặp được quân của Thoát Hoan ở sông Hồng.
36
Lúc này, quân Đại Việt vẫn tổ chức
những chốt chặn giặc để kìm bước chân của
quân Nguyên càng lâu càng tốt cho triều
đình rút được an toàn, vừa chủ động rút
dần để bảo toàn lực lượng. Trong lúc đó,
như những lần trước, Thượng hoàng và vua
xuống thuyền, xuôi theo hạ lưu sông Hồng
về Thiên Trường rồi từ đó theo đường biển
tỏa đi các căn cứ ở vùng ven biển Hải Đông.
37
Vì thế, khi Thoát Hoan vào được Thăng Long thì kinh thành
cũng như bao lần trước, đã vườn không nhà trống. Hắn lập tức sai
Ô Mã Nhi chỉ huy thuyền chiến gấp rút đuổi theo còn hắn dẫn đại
quân đuổi bằng đường bộ ở phía sau. Nhớ lại nỗi nhục nhã của
lần thất trận vừa rồi, Ô Mã Nhi bắn tin đe dọa nhà vua: “Ngươi
chạy lên trời ta theo lên trời, ngươi chạy xuống đất ta theo xuống
đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta
theo xuống nước...”.
38
Nhưng, tuy đã lùng sục khắp nơi, Ô Mã Nhi vẫn không thể
nào tìm ra được vua Trần. Hắn tức tối cho quân đốt phá làng mạc,
giết chóc không từ một ai và cướp bóc bất kỳ thứ gì. Ô Mã Nhi
còn hèn hạ kéo quân đến phủ Long Hưng (Thái Bình), tìm đến
Chiêu lăng (nơi chôn cất của tổ tiên nhà Trần) để khai quật mộ
vua Trần Thái Tông.
39
Ngày 4 tháng giêng năm 1288, sau chuyến đuổi theo vua Trần
thất bại, Thoát Hoan đem quân trở về Thăng Long. Vẫn chưa hay
biết chuyện thuyền lương đi sau đã tan tác, hắn một mặt sai Ô
Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ, một mặt cho quân lùng sục cướp
bóc lương thực của dân chúng. Nhưng dân quanh vùng đều đã cất
giấu lúa gạo và bỏ trốn nên quân Nguyên lâm vào cảnh thiếu đói.
40
Đã vậy, đêm nào quân Đại Việt cũng phối hợp cùng các dân binh
tập kích vào trại giặc khiến bọn lính Nguyên ngủ không yên giấc.
Vừa đói, vừa mệt, chúng không còn sức chiến đấu nữa. Trong lúc
đó, vua Trần cho Hưng Ninh vương Trần Tung đến trại Thoát Hoan
giả vờ hẹn hàng nhưng cứ lần lữa hết lần này đến lần khác khiến
quân Nguyên thấp thỏm chờ đợi mất hết cả nhuệ khí.
41
Thấy ở lại Thăng Long
không có lợi, ngày 2 tháng
2 năm ấy, Thoát Hoan quyết
định rút về Vạn Kiếp để mong
gặp lại các cánh quân khác.
Trên đường rút, chúng bị
quân Đại Việt đón đánh khắp
nơi. Những đồn trại mà quân
Nguyên chốt giữ ở những nơi
hiểm yếu hầu hết đều bị thất
thủ. Cố gắng lắm Thoát Hoan
mới về được đến Vạn Kiếp.
42
Trong khi đó, Ô Mã Nhi vâng mệnh Thoát Hoan đi đón thuyền
lương của Trương Văn Hổ cũng gian nan không kém. Ngày 8
tháng Giêng, đoàn quân thủy của Ô Mã Nhi đến cửa Đại Bàng
(Văn Úc), bị quân thủy Đại Việt chặn đánh. Chúng cố chống trả
và vượt qua được, nhưng đến Đồ Sơn lại bị tập kích, nên mãi mới
đến được An Bang.
43
Tại đây, Ô Mã Nhi cho quân sục sạo khắp nơi để tìm kiếm
nhưng chẳng thấy bóng dáng một chiếc thuyền lương nào. Mãi sau,
gặp bọn tàn quân do trước đây vua Trần thả ra để báo tin, hắn mới
biết chuyện Trương Văn Hổ thua trận và thuyền lương đã về tay
quân Đại Việt. Hoảng hốt, hắn vội quay trở lại Thăng Long. Sợ
Thoát Hoan trị tội, trên đường về hắn ra tay cướp bóc vơ vét bất
cứ thứ gì ăn được.
44
Tin thuyền lương bị tấn công càng khiến tinh thần quân Nguyên
sa sút một cách thảm hại. Đã vậy, lúc này, những đội cảm tử của
quân dân Đại Việt liên tục tập kích vào căn cứ Vạn Kiếp không chỉ
ban đêm mà cả ban ngày. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị tấn công
bất ngờ, quân Nguyên vô cùng hoang mang. Chúng không dám
làm gì ngoài việc ngồi chờ quân Trần đến đánh. Để phòng ngự,
chúng dựng thêm rào gỗ, tăng thêm quân tuần tra ở các đồn trại.
45
Không chỉ bọn lính hoang mang mà ngay cả bọn tướng Nguyên
cũng lo sợ, tên nào tên ấy đều khuyên Thoát Hoan nên rút về.
Chúng nói: “Ở Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có
lương thực để ăn mà thuyền lương của Trương Văn Hổ lại không
đến. Vả lại, khí trời đã nóng nực, sợ lương hết, quân mệt, không
lấy gì để chống giữ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên toàn
quân mà về thì hơn”.
46
Trước tình thế ấy, Thoát Hoan vô cùng phân vân. Sự thất bại
lần trước không cho phép hắn dễ dàng chấp nhận rút lui. Đường
đường là một đấng Thái tử của đất nước Đại Nguyên hùng mạnh,
đi đến đâu thiên hạ chỉ nghe danh cũng đã phải khiếp sợ, không
lẽ lại cứ thất bại mãi trước một đất nước bằng nắm tay này sao?
Nhưng tình thế tuyệt lương thực, quân sĩ bệnh hoạn buộc hắn
phải buồn rầu thừa nhận: “Ở đây nóng nực ẩm thấp, lương hết,
quân mệt...” và đồng ý rút quân về.
47
Việc thuyền lương bị tấn công khiến quân Nguyên lúc đầu định
hủy thuyền và rút tất cả về bằng đường bộ. Nhưng sau khi bàn đi
tính lại, Thoát Hoan quyết định rút quân bằng cả đường thủy lẫn
đường bộ. Để yên lòng quân thủy, hắn cho Ô Mã Nhi và Phàn
Tiếp đưa quân thủy đi trước và sai Trình Bằng Phi đem kỵ binh
men theo bờ sông hộ tống.
48
khôi
Tái bản lần thứ tư
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Huy Khôi
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Chiến thắng giặc Nguyên Mông lần thứ ba / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh
Trân biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Huy. - Tái bản lần thứ 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
112 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.24).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Tran dynasty, 1225-1400 — Pictorical works.
959.7024 — dc 22
C533
Lời giới thiệu
Dù đã hai lần thảm bại nhưng Nguyên Mông vẫn chưa
bao giờ nguôi ý định xâm lăng Đại Việt để báo thù cho những
những nhục nhã trong hai lần xâm lược trước. Nhà Nguyên
huy động hơn 50 vạn quân thủy, bộ cho việc báo thù này.
Dù có sự chuẩn bị chu đáo, nhưng một lần nữa nhà Trần
vẫn đẩy lùi cuộc xâm lược quy mô của nhà Nguyên, giữ vững
bờ cõi và nền độc lập, tự chủ. Trận Bạch Đằng cũng được
ghi nhận là một trong những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử
nước ta. Giải thích cho thất bại của quân Nguyên cũng như
chiến thắng của Đại Việt, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
đã nói rằng: “Vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước nhà
góp sức”. Đấy cũng chính là nguyên nhân thắng lợi của cả ba
cuộc kháng chiến chống Nguyên trong thế kỷ 13 của nước ta.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 24 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chiến thắng giặc Nguyên
Mông lần ba” phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn,
phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 24 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Tuy hai lần thất bại nhưng nhà Nguyên vẫn chưa
nguôi tham vọng xâm chiếm Đại Việt. Nhà Nguyên chuẩn
bị quân hùng tướng mãnh tiến vào Đại Việt thế mà khi
tàn cuộc, lớp thì chạy trốn, lớp thì mất mạng, lớp thì bị
bắt sống.
Quân dân Đại Việt với sự lãnh đạo của bậc minh quân
cùng tài năng của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã
kiên cường, dũng cảm đây lui cuộc xâm lược thứ ba của
Nguyên Mông, giữ vẹn độc lập, bờ cõi nước nhà.
4
Sau chiến thắng quân Nguyên vào năm 1285, nhà Trần chú
trọng đến việc củng cố đất nước. Thượng hoàng Thánh Tông và
vua Trần Nhân Tông tuyên phong cho những người có công như
Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Quốc
Toản, Trần Bình Trọng, Trần Khánh Dư... Đồng thời nhà vua trị
tội những người đã hèn nhát quy hàng theo giặc. Riêng Trần Ích
Tắc và Trần Kiện chạy sang Nguyên, nhà vua cho gọi một cách
giễu cợt là Ả Trần và Mai Kiện.
5
Tất cả số dân trong nước được kiểm tra để xác định lại số trai
tráng đi lính phòng khi lại xảy ra chiến tranh. Qua năm sau, vua
Trần cho tha tất cả tù binh Nguyên gồm 50 ngàn tên. Để phòng
chúng lại trở lại đánh Đại Việt, nhà vua cho khắc chữ lên mặt
để làm dấu và răn đe nếu kẻ nào lại sang thì sẽ bị chém đầu chứ
không được tha nữa.
6
Lúc ấy chúa Nguyên là Hốt Tất Liệt đang mở chiến dịch xâm
lăng quần đảo Nhật Bản. Đạo quân của hắn vượt đại dương gặp
bão nên bị đắm nhiều thuyền chiến. Khi đổ bộ lên đất Nhật, số
quân còn lại bị người Nhật đánh cho tơi bời, chỉ còn ba tên trốn
thoát về cấp báo tình hình khốn đốn. Hốt Tất Liệt chuẩn bị điều
tiếp quân qua hỗ trợ. Nhưng thất bại ở Đại Việt làm cho hắn
lúng túng.
7
Thấy con trai phải chui ống đồng cùng đám tàn quân lếch thếch
kéo về, chúa Nguyên hết sức tức tối. Hắn quyết định đình lại việc
xâm lăng Nhật Bản và dồn thuyền chiến, chuẩn bị tiến đánh Đại
Việt lần nữa để phục thù. Hắn tiếp tục sai sứ sang Đại Việt dò xét
tình hình. Triều đình nhà Trần không muốn gây căng thẳng, đành
phải tiếp đón như trước.
8
Tháng Giêng năm Bính Tuất (1286) Hốt Tất Liệt cùng triều
đình nhà Nguyên hội bàn kế hoạch đánh chiếm Đại Việt. Thoát
Hoan (*) vẫn thống lĩnh toàn quân. A Lý Hải Nha (**) được phong
làm An Nam Tả Thừa tướng, Ô Mã Nhi (***) làm Tham tri. Ngoài
ra còn có một số tướng lão luyện khác như Ái Lỗ (****), các tướng
người Hán Phàn Tiếp, Trình Bằng Phi,...
(*) tên Mông Cổ là Toghan.
(**) là Ariq Quaya, tên này mấy tháng sau chết bệnh, thay bằng Áo Lỗ Xích
(Auruyvci), một tên tướng thông thạo cả kỵ binh và thủy binh.
(***) tên Mông Cổ là Omar Batur
(****) tên Mông Cổ là Aruq
9
Rút kinh nghiệm hai lần đánh Đại Việt trước, lần này Hốt Tất Liệt
chú trọng đến việc xây dựng một lực lượng thủy quân hùng hậu.
Hắn ra lệnh cho tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền chiến, hẹn đến
tháng 8 phải xong và tập trung ở châu Khâm (Quảng Đông - Trung
Quốc). Ngoài ra hắn còn sử dụng bọn cướp biển để sung vào đội quân
thủy với hy vọng bọn này đi lại thành thạo trên biển lại khỏe mạnh,
hung tợn, sẽ trở thành những tên lính thủy thiện chiến.
10
Để có danh nghĩa đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt lại lập một triều
đình bù nhìn. Hắn phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương,
cho nhận phù ấn. Con trưởng của Ích Tắc được nhận chức An Phủ
sứ lộ Đà Giang, Trần Văn Lộng làm Tuyên Phủ sứ lộ Quy Hóa...
Sau đó, hắn gửi thư sang Đại Việt kể tội vua Trần đã giết Di Ái
nên hắn phải đem Trần Ích Tắc về thế chỗ.
11
Tháng hai năm Đinh Hợi (1287), chúa Nguyên xuống chiếu
cho các tỉnh sát biên giới Đại Việt là Giang Tây, Hồ Quảng, Hải
Nam... mộ quân và sắm sửa lương thực, khí giới. Những vùng
này sau nhiều năm phục dịch cho các cuộc xâm lược liên tiếp
của quân Nguyên khiến dân tình xơ xác, đói khổ. Quan lại ở Hồ
Quảng cũng đã phải kêu: “Người nghèo phải bỏ con để cầu sống,
kẻ giàu cũng phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị
treo ngược, mỗi ngày một tăng...”.
12
Nhưng còn một điều khiến Hốt Tất Liệt lo nghĩ. Với số quân
vài chục vạn, nhà Nguyên phải huy động một lượng lương thực
khổng lồ đem theo. Trong cánh hành binh, thường lương thực phải
đi cùng với quân lính. Bởi vậy, hai lần đánh Đại Việt trước đây,
quân Nguyên lập các trạm ở dọc đường rồi cho phu vận lương
bằng đường bộ. Nay với 17 vạn thạch, nếu đi đường bộ thì phải
cần số phu khuân vác gần tương đương với số quân lính. Như vậy
thì số lương này chỉ vừa đủ để nuôi phu.
13
Cuối cùng, sau nhiều ngày suy tính, Hốt Tất Liệt chỉ để lại một
số lương vừa đủ ăn cho cuộc hành quân với hy vọng vừa đánh vừa
cướp thêm thóc gạo của dân Đại Việt. Còn lại phần lớn, hắn đành
liều lĩnh chọn phương án tải lương bằng đường thủy, tức là giao
phó nồi cơm của cả đại quân trên bộ cho biển cả mênh mông. Để
yên tâm hơn, hắn cử Trương Văn Hổ, con trai một tên cướp biển
người Tống (Trung Quốc) giữ chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ,
có nhiệm vụ áp tải 70 thuyền lương bám theo đoàn thuyền chiến.
14
Sau khi chuẩn bị đầy đủ, vào cuối
năm Đinh Hợi (1287), quân Nguyên
xuất phát từ Ngạc Châu (Hồ Bắc),
khi đến Lai Tân thì chia đường đi
các ngả. Hướng tiến quân trên bộ
của quân Nguyên lần này cũng
giống như các lần trước. Tháng 11
năm ấy, một đạo quân mấy vạn tên
do Ái Lỗ chỉ huy tiến theo hướng
Vân Nam để vào Đại Việt theo ngả
sông Thao.
15
Trong khi đó, đại quân của Thoát Hoan rầm rầm rộ rộ kéo đến
Tư Minh, một điểm gần biên giới Đại Việt. Hắn đóng quân lại
đây một thời gian ngắn để điểm binh và điều quân. Sau đó, Thoát
Hoan sai Trình Bằng Phi dẫn một vạn quân tiến vào nước ta theo
ngả phía tây; còn hắn dẫn số quân còn lại, trong đó có mặt vạn
quân tiên phong của A Ba Tri (*), tiến vào theo ngả phía đông.
Lếch thếch theo sát phía sau quân Nguyên là đám triều đình bù
nhìn Trần Ích Tắc, tuy vô cùng sợ hãi nhưng lòng cũng tràn trề
biết bao hy vọng.
(*): tên Mông Cổ là Abaci
16
Riêng đạo quân thủy có khác lần trước, được chuẩn bị chu
đáo, gồm khoảng 1 vạn 8 ngàn tên với 500 thuyền chiến do Ô
Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy cùng 70 thuyền vận
tải lương do đám cướp biển Trương Văn Hổ áp
tải. Đạo quân này tập trung ở châu Khâm và
châu Liêm, xuất phát theo đường biển
sớm hơn quân bộ khoảng nửa tháng
để xâm nhập Đại Việt qua cửa sông
Bạch Đằng.
17
Tin tức về việc chuẩn bị của quân Nguyên đã được các tỉnh biên
giới cấp báo về cho vua Trần từ rất sớm. Thượng hoàng Thánh
Tông và vua Nhân Tông đã lệnh cho các vương hầu chỉnh đốn
binh ngũ để ngày đêm tập luyện; đồng thời chuẩn bị lương thực,
vũ khí, đóng thêm tàu thuyền... Biết rõ dã tâm của giặc, nhà vua
không khỏi lo nghĩ. Trong một buổi luận bàn cùng Hưng Đạo
Vương, ngài hỏi:
- Thế giặc năm nay thế nào?
18
Hưng Đạo Vương cân nhắc cẩn thận rồi trả lời:
- Lần trước, nước ta do sống thái bình lâu năm, dân chưa quen
việc binh, cho nên khi quân Nguyên xâm lấn, ta gặp nhiều lúng
túng, hoặc có người đầu hàng trốn lánh. Nay chúng lại sang thì
quân ta đã quen việc đánh dẹp, còn chúng thì phải đi xa, và đã từng
bị bại, không có lòng chiến đấu nữa. Cứ ý thần xem thì tất đánh
tan được.
19
Nhà vua nghe vậy, càng vững tâm. Các quan đề nghị cho chọn
trai tráng khỏe mạnh để sung thêm vào lính, nhưng Hưng Đạo
Vương không đồng ý, ông nói:
- Quân cần tinh chứ không cần nhiều. Dù có đến trăm vạn quan
mà không giỏi thì cũng bị thua mà thôi.
20
Vào tháng 10 năm Đinh Hợi (1287), Hưng Đạo Vương cho các
tướng đem quân đi đóng các nơi hiểm yếu. Việc phân công cũng
không có gì khác trước, vẫn là Trần Nhật Duật chốt giữ ở phía
Bạch Hạc sông Thao, Trần Hưng Đạo cùng các con chốt giữ phía
Bắc Giang, Lạng Sơn. Còn Trần Quang Khải lo phía nam và bảo
vệ hai vua khi cần rút chạy khỏi Thăng Long.
21
Riêng việc phòng vệ phía biển, lần trước đã giao cho Trần
Khánh Dư làm Phó tướng phụ trách Vân Đồn. Đây là một thương
cảng quan trọng nơi địa đầu đất nước, tàu bè các nước ra vào tấp
nập; nhưng cũng là một chốt tiền tiêu xung yếu. Vì vậy, để bảo
mật, Trần Khánh Dư cho xây rào gỗ quanh những nơi buôn bán
và quy định trang phục riêng cho dân chúng, phòng quân do thám
của giặc trà trộn.
22
Ngày 23 tháng 11 năm 1287, các cánh quân Nguyên gặp nhau
ở Lộc Bình, một núi kế cận với vùng Lạng Sơn của Đại Việt.
Hôm sau, chúng từ nhiều mũi ào ào tiến qua biên giới. Một vạn
tên do Trình Bằng Phi chỉ huy tiến qua ải Chi Lăng đến Thích
Trúc. Thích Trúc có nghĩa là cửa tre gai, nằm ở phía tây Lạng Sơn.
Ở đây có hai ngọn núi giao nhau, sườn núi vừa hẹp lại vừa mọc
đầy một loại tre có gai nhọn, rất khó vượt qua. Vì vậy, địa thế
nơi đây rất hiểm yếu.
23
Quân Đại Việt chốt giữ ở đây đã mai phục cả trên núi và dưới
núi chờ sẵn, hễ giặc tiến vào là bắn tên độc khiến chúng phải bật
ra. Với lực lượng đông và mạnh mà quân của Trình Bằng Phi
phải đánh đến 17 trận mới vượt qua được chốt này để tiến vào
sâu trong đất Đại Việt.
24
Cùng lúc đó, đại quân của Thoát Hoan do A Ba Tri làm tiên
phong cũng tiến qua ải Khả Lợi. Lần này, Hưng Đạo vương không
chủ ý chặn giặc lúc chúng đang sung sức nên không dàn trận đánh
nhau như hai lần trước mà chỉ cho quân đánh kìm giặc ở một số nơi
nhưng lại cho rút nhanh để bảo toàn lực lượng. Vì thế, chỉ trong
bốn ngày, đại quân của Thoát Hoan đã tiến xuống được Vạn Kiếp.
25
Cũng vào ngày 23 tháng
11, đạo quân của Ái Lỗ từ
hướng Vân Nam, tiến dọc
theo bờ sông Thao đến
Bạch Hạc (Phú Thọ). Hắn
bị quân Đại Việt do Chiêu Văn
vương Trần Nhật Duật chỉ huy,
chặn đánh dữ dội ở cửa sông Việt Trì.
Lúc này, quân Nguyên khí thế đang cao
nên quân Đại Việt không ngăn cản được phải
rút lui. Có hai tướng nhà Trần là Lê Thạch và
Hà Anh không may sa vào tay giặc.
26
Trong khi ấy, về phía biển, đạo quân thủy của Ô Mã Nhi và Phàn
Tiếp cũng đã vào cửa Vạn Ninh (thuộc Móng Cái hiện
nay). Quân Đại Việt do Nhân Đức hầu Trần Da chỉ
huy, phục binh Mũi Ngọc. Đây là một mỏm núi
nhô ra biển, tạo nên một cửa ải tự nhiên,
rất thuận tiện cho việc phòng thủ. Đợi
tiền quân giặc vượt qua, quân Trần
tập kích vào số thuyền đi sau. Ô
Mã Nhi phải quay lại ứng cứu.
Sau đó, chúng vây núi đánh phá
một chặp mới vượt qua được cửa
Ngọc Sơn...
27
Cuối cùng, đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi ồ ạt tiến vào vùng
biển Vân Đồn. Phó tướng Trần Khánh Dư đã chỉ huy thủy quân
Đại Việt chặn đánh quân Nguyên ở nhiều nơi nhưng không cản
được bước tiến của giặc, lại còn bị tổn thất, phải rút lui. Ô Mã Nhi
đắc thắng vượt qua cửa An Bang (tức cửa sông Chanh, Quảng
Yên), ngược theo sông Bạch Đằng tiến về Vạn Kiếp để kịp hội
quân với Thoát Hoan, bỏ mặc đoàn thuyền lương chở nặng đang
chậm chạp phía sau.
28
Biết tin Trần Khánh Dư không thực hiện được trọng trách đã
nhận lãnh trước triều đình, Thượng hoàng Thánh Tông nổi giận,
sai quan Trung sứ bắt ông về kinh đô để xử phạt. Trần Khánh Dư
phán đoán rằng sau khi Ô Mã Nhi đi qua thì
thuyền lương của giặc tất sẽ đến nên bảo:
- Lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội.
Nhưng xin Trung sứ hoãn cho vài ba ngày để
tôi lập công chuộc tội, sau đó sẽ chịu búa rìu
cũng chưa muộn.
29
Được quan Trung sứ chấp thuận, Trần Khánh Dư chỉnh đốn
lại quân ngũ và cho phục binh chờ đợi. Quả nhiên, vào đầu tháng
12 âm lịch, đoàn thuyền lương nặng nề của Trương Văn Hổ mới
ì ạch tiến vào vùng biển Vân Đồn. Trần Khánh Dư đốc thúc quân
lính tập kích thuyền giặc. Mọi người cố sức chiến đấu vì họ hiểu
rằng chỉ có chiến thắng mới cứu được chủ tướng của mình khỏi
tội với triều đình.
30
Những chiếc thuyền đầy lương
chậm chạp, lại không có quân hộ tống
nên không thể chống đỡ được trước sức
tấn công như vũ bão của quân Đại Việt.
Đội hình của chúng nhanh chóng bị rối
loạn. 70 thuyền giặc, số bị chìm, số bị
bắt, số còn lại ném gạo xuống sông để
dễ bề tẩu thoát. Có thuyền chạy tứ tán,
trôi dạt đến tận Chiêm Thành. Tướng
cướp Trương Văn Hổ cũng bỏ của chạy
lấy người, trốn một mạch về Hải Nam.
Có lẽ trong cuộc đời làm cướp biển,
hắn chưa bao giờ bị một phen khiếp
sợ đến như thế.
31
Quân Đại Việt thu được một số thuyền, còn lương thực thì
nhiều không kể xiết. Tin thắng trận lập tức được báo về triều.
Nhận thấy đây là một chiến thắng quyết định, sẽ có ảnh hưởng
to lớn đến thế và lực của quân giặc, Thượng hoàng và vua tha tội
cho Khánh Dư và bảo:
- Quân Nguyên chỉ nhờ về lương cỏ, khí giới. Nay ta đã bắt
được, sợ nó chưa biết còn hung hăng.
Vì vậy, ngài cho thả một số lính Nguyên để về cấp báo cho chủ.
32
Lúc này, Ô Mã Nhi đã hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp và
vẫn chưa hay biết gì về thuyền lương bị đánh. Để biến Vạn Kiếp
thành một căn cứ thủy bộ vững chắc cho quân mình, Thoát Hoan
ra lệnh dừng quân ở đây gần một tháng và cho hai vạn quân án
ngữ ở sông Lục Đầu để bảo vệ. Nghĩ rằng thuyền lương chỉ đến
chậm, hắn sai quân dựng sẵn trại gỗ hai núi Phả Lại và Chí Linh
để chứa lương và sai Ô Mã Nhi cướp thóc gạo của dân để giải
quyết bữa ăn trước mắt.
33
Thời gian này có một toán quân Nguyên khoảng 5000 tên còn
lại ở Tư Minh, dắt díu đám con cháu của những kẻ chiêu hàng
như Trần Dục - con Trần Ích Tắc, Nguyễn Lĩnh, Lê Án... tiếp tục
tiến vào nước ta. Tưởng rằng Đại Việt đã bị chiếm, chúng nghênh
ngang như vào chỗ không người. Vừa đến cửa Nội Bàng
(Lạng Sơn), chúng bị quân giữ ải chặn đánh quyết liệt. Bọn tàn
binh phải tìm đường tháo chạy.
34
Ngày 23 tháng 12, Thoát Hoan bắt đầu chia quân tiến về Thăng
Long. Ô Mã Nhi chỉ huy thủy quân, A Ba Tri chỉ huy quân kỵ bộ.
Phàn Tiếp đem quân hộ vệ Thoát Hoan đi theo sông Đuống. Trần
Hưng Đạo cho quân giữ cửa Đại Than (Gia Bình, Bắc Ninh) để
ngăn quân Nguyên vượt sông Hồng vào Thăng Long. Ngày 26,
tướng nhà Trần là Nguyễn Thức cho lấp cửa sông Đuống và dàn
thuyền cự giặc. Quân của Ô Mã Nhi vượt qua được, tiến đến Gia
Lâm và ra sông Hồng.
35
Khi ấy, cánh quân đi theo đường Vân Nam của Ái Lỗ cũng đang
trên đường tiến về Thăng Long để phối hợp cùng quân của Thoát
Hoan. Trên đường tiến quân, Ái Lỗ đã phải giao tranh với quân Đại
Việt gần 20 lần. Quân Đại Việt vừa đánh vừa rút với mục đích làm
tiêu hao sinh lực địch và bảo toàn lực lượng của mình. Cuối cùng,
Ái Lỗ cũng gặp được quân của Thoát Hoan ở sông Hồng.
36
Lúc này, quân Đại Việt vẫn tổ chức
những chốt chặn giặc để kìm bước chân của
quân Nguyên càng lâu càng tốt cho triều
đình rút được an toàn, vừa chủ động rút
dần để bảo toàn lực lượng. Trong lúc đó,
như những lần trước, Thượng hoàng và vua
xuống thuyền, xuôi theo hạ lưu sông Hồng
về Thiên Trường rồi từ đó theo đường biển
tỏa đi các căn cứ ở vùng ven biển Hải Đông.
37
Vì thế, khi Thoát Hoan vào được Thăng Long thì kinh thành
cũng như bao lần trước, đã vườn không nhà trống. Hắn lập tức sai
Ô Mã Nhi chỉ huy thuyền chiến gấp rút đuổi theo còn hắn dẫn đại
quân đuổi bằng đường bộ ở phía sau. Nhớ lại nỗi nhục nhã của
lần thất trận vừa rồi, Ô Mã Nhi bắn tin đe dọa nhà vua: “Ngươi
chạy lên trời ta theo lên trời, ngươi chạy xuống đất ta theo xuống
đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta
theo xuống nước...”.
38
Nhưng, tuy đã lùng sục khắp nơi, Ô Mã Nhi vẫn không thể
nào tìm ra được vua Trần. Hắn tức tối cho quân đốt phá làng mạc,
giết chóc không từ một ai và cướp bóc bất kỳ thứ gì. Ô Mã Nhi
còn hèn hạ kéo quân đến phủ Long Hưng (Thái Bình), tìm đến
Chiêu lăng (nơi chôn cất của tổ tiên nhà Trần) để khai quật mộ
vua Trần Thái Tông.
39
Ngày 4 tháng giêng năm 1288, sau chuyến đuổi theo vua Trần
thất bại, Thoát Hoan đem quân trở về Thăng Long. Vẫn chưa hay
biết chuyện thuyền lương đi sau đã tan tác, hắn một mặt sai Ô
Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ, một mặt cho quân lùng sục cướp
bóc lương thực của dân chúng. Nhưng dân quanh vùng đều đã cất
giấu lúa gạo và bỏ trốn nên quân Nguyên lâm vào cảnh thiếu đói.
40
Đã vậy, đêm nào quân Đại Việt cũng phối hợp cùng các dân binh
tập kích vào trại giặc khiến bọn lính Nguyên ngủ không yên giấc.
Vừa đói, vừa mệt, chúng không còn sức chiến đấu nữa. Trong lúc
đó, vua Trần cho Hưng Ninh vương Trần Tung đến trại Thoát Hoan
giả vờ hẹn hàng nhưng cứ lần lữa hết lần này đến lần khác khiến
quân Nguyên thấp thỏm chờ đợi mất hết cả nhuệ khí.
41
Thấy ở lại Thăng Long
không có lợi, ngày 2 tháng
2 năm ấy, Thoát Hoan quyết
định rút về Vạn Kiếp để mong
gặp lại các cánh quân khác.
Trên đường rút, chúng bị
quân Đại Việt đón đánh khắp
nơi. Những đồn trại mà quân
Nguyên chốt giữ ở những nơi
hiểm yếu hầu hết đều bị thất
thủ. Cố gắng lắm Thoát Hoan
mới về được đến Vạn Kiếp.
42
Trong khi đó, Ô Mã Nhi vâng mệnh Thoát Hoan đi đón thuyền
lương của Trương Văn Hổ cũng gian nan không kém. Ngày 8
tháng Giêng, đoàn quân thủy của Ô Mã Nhi đến cửa Đại Bàng
(Văn Úc), bị quân thủy Đại Việt chặn đánh. Chúng cố chống trả
và vượt qua được, nhưng đến Đồ Sơn lại bị tập kích, nên mãi mới
đến được An Bang.
43
Tại đây, Ô Mã Nhi cho quân sục sạo khắp nơi để tìm kiếm
nhưng chẳng thấy bóng dáng một chiếc thuyền lương nào. Mãi sau,
gặp bọn tàn quân do trước đây vua Trần thả ra để báo tin, hắn mới
biết chuyện Trương Văn Hổ thua trận và thuyền lương đã về tay
quân Đại Việt. Hoảng hốt, hắn vội quay trở lại Thăng Long. Sợ
Thoát Hoan trị tội, trên đường về hắn ra tay cướp bóc vơ vét bất
cứ thứ gì ăn được.
44
Tin thuyền lương bị tấn công càng khiến tinh thần quân Nguyên
sa sút một cách thảm hại. Đã vậy, lúc này, những đội cảm tử của
quân dân Đại Việt liên tục tập kích vào căn cứ Vạn Kiếp không chỉ
ban đêm mà cả ban ngày. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị tấn công
bất ngờ, quân Nguyên vô cùng hoang mang. Chúng không dám
làm gì ngoài việc ngồi chờ quân Trần đến đánh. Để phòng ngự,
chúng dựng thêm rào gỗ, tăng thêm quân tuần tra ở các đồn trại.
45
Không chỉ bọn lính hoang mang mà ngay cả bọn tướng Nguyên
cũng lo sợ, tên nào tên ấy đều khuyên Thoát Hoan nên rút về.
Chúng nói: “Ở Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có
lương thực để ăn mà thuyền lương của Trương Văn Hổ lại không
đến. Vả lại, khí trời đã nóng nực, sợ lương hết, quân mệt, không
lấy gì để chống giữ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên toàn
quân mà về thì hơn”.
46
Trước tình thế ấy, Thoát Hoan vô cùng phân vân. Sự thất bại
lần trước không cho phép hắn dễ dàng chấp nhận rút lui. Đường
đường là một đấng Thái tử của đất nước Đại Nguyên hùng mạnh,
đi đến đâu thiên hạ chỉ nghe danh cũng đã phải khiếp sợ, không
lẽ lại cứ thất bại mãi trước một đất nước bằng nắm tay này sao?
Nhưng tình thế tuyệt lương thực, quân sĩ bệnh hoạn buộc hắn
phải buồn rầu thừa nhận: “Ở đây nóng nực ẩm thấp, lương hết,
quân mệt...” và đồng ý rút quân về.
47
Việc thuyền lương bị tấn công khiến quân Nguyên lúc đầu định
hủy thuyền và rút tất cả về bằng đường bộ. Nhưng sau khi bàn đi
tính lại, Thoát Hoan quyết định rút quân bằng cả đường thủy lẫn
đường bộ. Để yên lòng quân thủy, hắn cho Ô Mã Nhi và Phàn
Tiếp đưa quân thủy đi trước và sai Trình Bằng Phi đem kỵ binh
men theo bờ sông hộ tống.
48
 





